SỨ MỆNH GÍAO DÂN Số 40

 

Thứ Năm, Ngày 25 Tháng 1 - 2007

 

smgd-39

Số 40 Ngày 25.01.2007

Mục Lục

Tác giả

Chống cha, chống Chúa đang trở thành Cứu cha, cứu Chúa

Hòang Quý

Thánh thể - Chúa Giêsu hiện sinh

Linh Giao

Phẩm chức Linh mục

Trần Mỹ Duyệt

Kinh nghiệm thương đau từ Balan

Tôn Vân Anh

Phải chăng Chống Cha Chống Chúa đang trở thành Cứu Cha Cứu Chúa?

Hoàng Quý

* Từ lời nhận định của một số giới chức
Qua câu chuyện trao đổi giữa Nguyễn Anh Tuấn và tôi về Phong trào "Ðem đạo vào đời" hiện nay đang phát khởi mạnh mẽ tại hải ngoại cũng như quốc nội, anh kể lại lời nhận định của một số anh em trí thức bên ngoài và một giới chức giáo dân cao cấp tại hải ngoại cho rằng việc "Chống Cha Chống Chúa" đang trở thành việc "Cứu Cha Cứu Chúa."
Nhiều người hình như đã quên mất những câu ca dao tục ngữ đầy kinh nghiệm của cha ông chúng ta truyền tụng lại như:
Mật ngọt chết ruồi.
Những nơi cay đắng là nơi thật thà.
Thuốc đắng giã tật...
Nhìn vào lịch sử nhân loại, biết bao triều đại đã đổ vỡ vì nhà vua nghe những lời nịnh hót của các kẻ gian thần hoặc những tình nhân lăng loàn. Dân tộc Do Thái là Dân riêng Chúa tuyển chọn cũng đã điêu tàn và tan tác chỉ vì đã giết chết các ngôn sứ của Thiên Chúa và cả Con của Ngài nữa để nghe theo đám nịnh thần. Ngay Giáo hội cũng đã điêu đứng bao phen chỉ vì không chịu tước bỏ chức quyền, danh lợi và hơn thế còn bao che, dung túng những con người gây ra bao tội ác. Gần kề đây nhất là cơn khủng hoảng lạm dụng tình dục của Giáo hội Hoa Kỳ và cho tới nay Giáo hội Hoa Kỳ vẫn còn điêu đứng trước việc bồi thường và tái tạo lại niềm tin cho các tín hữu và thế giới bên ngoài.
Nhiều người không ngờ và phải nhìn nhận thực tế các mạng lưới giáo dân đang gây được ảnh hưởng trong Giáo hội và bên ngoài. Mới đây, VietCatholic đứng ra phối hợp với một số cơ sở truyền thông Công giáo vận động thành lập "Ðại Hội Truyền Thông Công Giáo," rồi đổi thành "Mạng Lưới Truyền Thông Công Giáo" và bây giờ khiêm tốn hơn đổi thành "Liên Hiệp Truyền Thông Công Giáo." Nhìn thấy tính toán của Vietcatholic muốn loại trừ các quan truyền thông khác và nắm độc quyền truyền thông của Giáo hội trong tay một linh mục "thân bại danh liệt" vì liên quan đến vụ kiện tình ái, do đó Nguyệt san Diễn Ðàn Giáo Dân, Trang nhà Tiếng Nói Giáo Dân đưa lên tờ điện báo Sứ Mệnh Giáo Dân hai bài viết trình bầy sự việc này trong tinh thần xây dựng Giáo hội. Hiệu quả tức khắc là không một vị Giám mục Việt Nam nào đến tham dự Thánh Lễ và Tiệc Mừng của Ðại hội Truyền Thông này tại Nam California. Các người đến tham dự Ðại hội chỉ vỏn vẹn có 16 người tại một tư gia và bữa Tiệc Ăn Mừng chưa đạt được con số 100 thực khách.
Phải chăng tầng lớp giáo dân đứng ở tuyến đầu Giáo hội ngày nay dám can đảm cảnh báo các giới chức trong Giáo hội trước những tình thế gây phương hại cho Giáo hội và các linh hồn. Trong các bài viết của một số anh em giáo dân, hầu hết anh em giáo dân đều có thiện chí, ngoài việc đưa ra những việc làm sai trái của một số giáo sĩ trong Giáo hội cần chấn chỉnh, còn đề đạt những ý kiến đóng góp với Giáo hội trong tinh thần con thảo. Anh em giáo dân không muốn nhìn thấy Giáo hội vướng mắc vào các sai lầm trước đây của Giáo hội và hiện nay của Giáo hội Hoa Kỳ, khi cứ sống với chủ trương bưng bít, che đậy hoặc dung túng những thành phần bất hảo hoành hành trong Giáo hội. Anh em Giáo dân muốn nhìn thấy Giáo hội sống đích thực Tin Mừng của Chúa Giêsu với lời mời gọi của Ngài "Anh em hãy sám hối và Tin vào Tin Mừng" (Mc 1:15). Và Mẹ Têrêsa cũng đã nhắc nhở Giáo hội: "Thường xuyên các Kitô hữu chúng ta dựng lên trở ngại tồi tệ nhất trước những ai đang cố công tiến đến gần Chúa Giêsu hơn; chúng ta thường xuyên rao giảng Tin Mừng mà chúng ta không sống. Ðây là nguyên do chính yếu tại sao nhân dân thế giới không đi tới niềm tin" (OW, 100).
Nguyễn Chính Kết, Trần Duy Nhiên đã có những bài viết về giấc mơ của mình khi nhìn thấy Giáo hội canh tân và phát triển rực rỡ trước thế giới và đất nước hôm nay. Nhiều anh em giáo dân khác cũng đầy dẫy những bài viết trăn trở với Giáo hội và đưa lên những đề nghị cải tiến và thăng tiến Giáo hội. Phải chăng mãi mãi họ là những Nguyễn Trường Tộ bị thất sủng và chôn vùi vào dĩ vãng của các triều vua chúa hủ lậu? Ngày nay với triều đại của truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng lưới, các giáo sĩ không còn độc quyền nắm trong tay quyền lực thứ tư của truyền thông được nữa để có thể sống yên ổn sống với chủ trương bưng bít, do đó Giáo hội phải mở cửa đón nhận những tư tưởng canh tân, đổi mới nếu không muốn mình bị lịch sử sau này phê phán.
Càng ngày tầng lớp giáo dân càng có tiếng nói mạnh mẽ, như gần đây tầng lớp giáo dân nghe theo lời hô hào của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ tham gia chiến dịch ký thỉnh nguyện thư đòi đổi tên Tổng Giáo phận Hồ Chí Minh thành Tổng Giáo phận Saigon. Và hiện giờ, cũng đang ký thỉnh nguyện thư lên ÐGH Bênêđictô XVI áp lực với Thủ tướng Cộng sản VN đến yết kiến, để đòi ông phải thực thi quyền tự do tôn giáo và tự do dân chủ cho VN. Và trong tương lai biết đâu sẽ còn nhiều thỉnh nguyện thư khác xin các Giáo mục Việt Nam mạnh bạo và can đảm hơn trong công việc đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng sản phải tôn trọng nhân quyền và thực thi đạo đức.
* Canh tân phải khởi đầu từ sám hối
Ðavít đã trở thành vị quân vương nổi danh nhất Cựu Ước với những Thánh Vịnh chan hòa tâm tình sám hối ngày đêm. Vào chính thời điểm vua Salômôn và toàn thề dân Do Thái giết các thú vật để dâng cúng đền thánh Giêrusalem mới xây dựng xong, Thiên Chúa đã hiện ra với nhà vua và ra lệnh cho ông và toàn dân phải sống đời sám hối, thì Ngài sẽ phục hưng và bảo vệ xứ sở của ông, nếu sống trái ngược, ông và toàn dân cũng như đền thờ nguy nga kia cũng sẽ trở thành điêu đứng, hoang tàn. Ðây chúng ta hãy đọc lại lời tuyên sấm của Thiên Chúa đã phán bảo vua Salômôn:
"Nếu dân Ta, dân vốn kêu cầu Danh Ta, mà biết hạ mình xuống khẩn nguyện và tìm kiếm Nhan Ta, từ bỏ những con đường xấu xa mà trở lại, thì Ta, từ trời, Ta sẽ nghe và thứ tha tội lỗi nó và sẽ phục hưng xứ sở của nó. Từ nay, Ta sẽ ghé mắt nhìn và lắng tai nghe lời cầu nguyện dâng lên ở nơi đây, vì Ta đã chọn và thánh hoá nhà này, để muôn đời Danh Ta ngự tại đây; Ta sẽ để mắt nhìn và để lòng ưa thích nơi này mãi mãi. Còn ngươi, nếu ngươi bước đi trước Nhan Ta, như Đa-vít thân phụ ngươi, mà thi hành mọi điều Ta truyền cho ngươi, và tuân giữ các chỉ thị và luật pháp của Ta, thì Ta sẽ củng cố ngai vàng của ngươi, như Ta đã đoan hứa với Đa-vít thân phụ ngươi rằng: 'Ngươi sẽ không thiếu người cai trị Ít-ra-en. Nhưng nếu các ngươi tráo trở, bỏ các chỉ thị và mệnh lệnh Ta đã ban bố cho các ngươi, mà đi làm tôi các thần khác và thờ lạy chúng, thì Ta sẽ tiêu diệt các ngươi khỏi phần đất Ta đã ban cho các ngươi. Còn Đền Thờ ta đã thánh hoá để kính Danh Ta, Ta sẽ loại khỏi Nhan Ta, và sẽ biến thành bia miệng cho mọi dân tộc đàm tiếu. Đền Thờ này, dù cao trọng đến đâu, cũng sẽ thành đống hoang tàn, khiến mọi kẻ qua lại phải sững sờ mà nói: 'Tại sao ĐỨC CHÚA đã xử với xứ sở này, với Đền Thờ này như thế? Và người ta sẽ trả lời: 'Tại chúng đã bỏ ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của chúng, Đấng đã đưa tổ tiên chúng ra khỏi đất Ai-cập; chúng đã gắn bó với các thần ngoại, sụp lạy và làm tôi các thần ấy, nên ĐỨC CHÚA đã giáng xuống đầu chúng tất cả những tai hoạ này.'" (2Sb 7:14-2)
Phải chăng Giáo hội Tây Phương đang hấp hối như lời cảnh báo của Vị Ðương Kim Giáo Hoàng và nhiều giáo phận tại Hoa Kỳ đang bị phá sản phải bán hàng trăm ngôi thánh đường để bồi thường cho tội lạm dụng tình dục và bao che... đang ứng nghiệm lời sấm của Chúa công bố với vua Salômôn? Giáo hội Công giáo Việt Nam bề ngoài xem ra như đang phục hưng và phát triển, nhưng thực chất, phải chăng Giáo hội chúng ta đang sống trung thành với Tin Mừng của Chúa Kitô cũng như với lời sấm vừa rồi của Thiên Chúa?
Thấu hiểu Lời Kinh Thánh hơn ai hết và nhận biết thân phận yếu hèn của con người, Giáo hội vẫn thường xuyên kêu gọi các tín hữu ăn năn sám hối. Chuẩn bị đón mừng Chúa Giáng Sinh, Giáo hội dành ra cả một tháng Mùa Vọng. Ðón Mứng Lễ phục Sinh, Giáo hội khởi đầu bằng Lễ Tro và bốn mươi ngày chay tịnh. Rồi trước mỗi Thánh lễ, linh mục mời gọi mỗi người hãy sám hối tội lỗi. Sám hối trở thành lẽ sống của Giáo hội và mỗi tín hữu.
Lý thuyết hay như thế đó và làm đẹp lòng Thiên Chúa, nhưng trên thực tế có xẩy ra như vậy không? Qua môi miệng các ngôn sứ trong Cựu Ước như Amót, Hôsêa, Giôen..., Thiên Chúa lên án dân Do Thái đã sống giả dối, hình thức và chà đạp lên lời tuyên sấm của Ngài. Và kết quả, đền thánh Giêrusalem đã trở thành bình địa và dân Do Thái bị lưu đầy và tản mát khắp thế giới. Chính Chúa Giêsu cũng phải khóc thương thành thánh Giêrusalem: "Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được. Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm." (Lc 19: 42-44). Và tiếp liền sau đó, Chúa Giêsu tiến vào đền thánh và đánh đuổi những bọn người buôn thần bán thánh trong đó: "Nhà Ta sẽ là nhà cầu nguyện thế mà các ngươi đã biến thành sào huyệt của bọn cướp!" (Lc 19: 45).
Và trong đoạn 2 sách Khải Huyền, Thiên Chúa cảnh cáo Giáo hội Êphêsô: "Ta biết các việc ngươi làm, nỗi vất vả và lòng kiên nhẫn của ngươi; Ta biết ngươi không thể chịu đựng kẻ ác. Ngươi đã thử thách những kẻ xưng mình là tông đồ, mà thực ra không phải, và ngươi đã thấy rằng chúng là những kẻ nói dối. Ngươi có lòng kiên nhẫn và đã chịu khổ vì danh Ta mà không mệt mỏi. Nhưng Ta trách ngươi điều này: ngươi đã để mất tình yêu thuở ban đầu. Vậy hãy nhớ lại xem ngươi đã từ đâu rơi xuống, hãy hối cải và làm những việc ngươi đã làm thuở ban đầu. Bằng không, Ta đến với ngươi, và Ta sẽ đem cây đèn của ngươi ra khỏi chỗ của nó, nếu ngươi không hối cải." (Kh 2: 2-5).
* Chống Cha Chống Chúa đang trở thành Cứu Cha Cứu Chúa!
Nhìn vào thực trạng Giáo hội ngày nay chúng ta thấy gì? Nhiều đàn chiên tại Giáo hội Tây phương đang tan tác. Hàng trăm ngôi thánh đường trở thành hoang phế và biến thành di tích lịch sử của một Giáo hội điêu tàn. Bao tu viện và đại chủng viện đóng cửa. Hàng chục ngàn giáo sĩ cởi áo hồi tục hoặc đang vướng víu với giới luật khiết tịnh. Riêng Giáo hội Việt Nam, bề ngoài xem ra đang thịnh đạt, nhưng thực chất có "những kẻ xưng mình là tông đồ, mà thực ra không phải, và chúng là những kẻ dối trá." Giáo hội Việt Nam đang được báo động trước tình trạng một số giới chức cao cấp trong Giáo hội Ba Lan đã làm việc cho Cộng sản, điển hình là việc Giáo hội vừa tấn phong cho Giám mục Stanislaw Wielgus làm Tổng Giám mục Warsaw và ông xin từ chức vì bị tố cáo trước đây đã từng cộng tác với công an cộng sản Ba Lan và giờ đây ông thực sự thú nhận lỗi lầm này. (Xin xem thêm bài "Vụ giáo sĩ làm mật vụ" trong Vietcatholic).
Làm sao Giáo hội Việt Nam hiện nay không trăn trở với tình trạng tương tự như Giáo hội Ba Lan trước đây khi nhiều giáo sĩ bị mật vụ gài bẫy mỹ nhân kế, mua chuộc bằng danh lợi và cả đe doạ nữa để trở thành lợi khí cho chúng trong công việc lũng đoạn Giáo hội hoặc tha hóa Giáo hội hoặc làm ngơ cho chúng cai trị tàn bạo trên quê hương? Việc tuyển chọn giám mục, linh mục và các chức sắc trong Giáo hội có thoát khỏi những trà trộn hoặc chi phối của các cán bộ cộng sản không? Làm sao Giáo hội phải thanh lọc được chính mình để trở thành những tôi trung đích thực của Chúa Kitô?
Bản tin Hiệp Thông của Giáo phận Orange ngày 21-1-07 loan tin: "Hôm 12-1-07 ÐHY Bertone, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã nói lên niềm hối tiếc vì thiếu 'thông tin đầy đủ' trong sự việc bổ nhiệm Ðức Tân TGM Warsava, Stanislas Wielgus. Ngài cũng cổ võ việc kiểm điểm cách có hệ thống và khách quan về quá khứ của tất cả các Giám mực Balan..." Rút kinh nghiệm từ những bưng bít, che đậy đem đến tai họa cho Giáo hội, bản tin Hiệp Thông còn loan báo: "Vào tháng 3 tới đây Hội Ðồng Giám Mục Balan sẽ thành lập tại mỗi giáo phận trên toàn quốc Balan một Uỷ ban Ðiều tra tại chỗ, gồm những nhà nghiên cứu lịch sử và các luật gia..."
Cách đây cả chục năm nhiều giới chức và tín hữu bỡ ngỡ và chới với khi thấy ÐGH Gioan Phaolô II đã thay mặt Giáo hội nhận biết lỗi lầm của mình và xin lỗi thế giới 94 lần. Rồi sau ba tháng được tấn phong giáo hoàng, ÐGH Bênêđictô của chúng ta cảnh báo Giáo hội Tây phương suy sụp, nhưng hầu như không có cơ quan truyền thông Công giáo Việt ngữ nào của hàng giáo phẩm loan tải những tin tức này. Chúng ta vẫn còn sống với não trạng bưng bít, che đậy của thời phong kiến và nhất định "Không vạch áo cho người xem lưng" và vẫn lên án những ai dám đá động đến danh tánh của một giáo sĩ là hạng người Chống Cha Chống Chúa. Ngay ngày hôm nay tôi nhận được bức thư ngỏ của tờ điện báo Bản Tin Công Giáo Việt Nam: "Trong Bản Tin (email-magazine) của Vietcatholic ngày 19.01.2007, tác giả LG với bài viết 'Vụ giáo sĩ làm mật vụ' đã nêu đích danh hàng loạt các Linh mục tại VN để sánh ví với chuyện thời sự tại Ba Lan. Chúng tôi đếm được gần 20 vị, đầy đủ họ và tên, trong đó có những vị đã an nghỉ trong Chúa hàng chục, vài chục năm nay rồi. Việc làm này thật không nên chút nào..." 
Qua những sự kiện vừa rồi, chúng tôi nhận thấy VietCatholic hay các cơ quan truyền thông Công giáo khác rất ít khi đăng tải những tin tức có vẻ "tiêu cực" khi đá động đến thanh danh của hàng giáo sĩ, nhưng bây giờ đang can đảm và thẳng thắn nhìn  vào sự thật để chấn chỉnh hơn là bưng bít để đem đến tai họa cho Giáo hội. Chúng tôi không chủ trương khui ra các đống rác nằm chình ịch giữa lòng Giáo hội để phơi bầy ra những thối tha bên trong, tuy nhiên, không vì thế, chúng ta không nhắc nhở những chức sắc thẩm quyền trong Giáo hội phải tìm cách thu dọn đống rác. Ðó là bổn phận của mọi tín hữu, mọi công dân Nước Trời, nhất của những người mang trách nhiệm "đầy tớ của mọi người". Giáo hội của Chúa Kitô phải được thanh tẩy tinh sạch chứ không thể để những nhầy nhụa vẽ lên khuôn mặt khả ái của hiền thê của Chúa Kitô được. Những ai chủ trương không dám đụng chạm đến những nhầy nhụa này, quả thực họ phản bội Ðức Kitô.
Nếu phải liệt kê những người Chống Cha Chống Chúa mạnh mẽ nhất, chắc chắn phải kể tới Chúa Giêsu khi Ngài cảnh cáo giới kinh sĩ, tư tế, biệt phái và chức quyền Do Thái khi xưa như các câu Kinh Thánh sau đây:
"Anh em phải cẩn thận, phải coi chừng men Pha-ri-sêu và Xa-đốc." (Mt 16:6)
"Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: 'Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi. Ai ngã xuống đá này, kẻ ấy sẽ tan xương; đá này rơi trúng ai, sẽ làm người ấy nát thịt.' Nghe những dụ ngôn Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ. Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ." (Mt 21: 43-46)
Riêng đoạn thứ 23 của Tin Mừng Mátthêu, Chúa Giêsu công khai lên án các kinh sư và người Biệt Phái những câu tương tự như: "Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các người cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác! (Mt 23: 27-28)
Và quả thực chính Chúa Giêsu đã bị hành hạ khốn khổ và chết treo nhục nhã trên thập giá chính vì những lời "Chống Cha Chống Chúa" này. Nhưng cũng chính nhờ Ngài đã chịu chết như thế mà rồi nhân loại nhận lãnh được ơn cứu độ của Ngài. Và Ngài đã đích thực trở thành Ðấng "Cứu Cha Cứu Chúa." Amen.
Và như vậy phải chăng Giáo hội Chúa ngày hôm nay cần thêm những người dám "Chống Cha Chống Chúa" để Giáo hội Chúa được thêm tinh tuyền và xứng hợp trở thành men, thành muối và thành ánh sáng của Ngài giữa quê hương thống khổ của chúng ta hôm nay?
Mục Lục
Mẹ Têrêsa, Sứ Mệnh Thiên Linh

THÁNH THỂ: CHÚA GIÊSU HIỆN SINH

Linh Giao

Trong loại sách "Modern Spiritual Master Series" viết về các bản văn chính yếu (essential writings) và viễn ảnh của các nhà tâm linh nổi danh nhất thế kỷ 20, do nhà xuất bản Orbis Books của Dòng Maryknoll thực hiện, học giả Jean Maaloup trình bầy về Mẹ Têrêsa. Ngay trong chương sách đầu tiên, Maaloup trình bầy các tư tưởng của Mẹ Têrêsa viết về Chúa Giêsu dưới tiểu mục "Existential Jesus," tôi bị đánh động với cụm từ ngữ này mang ý nghĩa là Chúa Giêsu hiện sinh.
Tôi liên tưởng ngay đến những năm trong các thập niên 60 và 70 tại Saigon, các sách vở báo chí thường đề cập nhiều về chủ nghĩa hiện sinh của Tây Phương. Người ta xô đẩy nhau viết các sách báo, nhất là tiểu thuyết về lối sống hiện sinh thác loạn của thời đại. Người ta hô hào sống theo lối sống tự do phóng khoáng, theo ý muốn cuồng nhiệt của mình, vì người ta cho rằng cuộc này vô lý, nôn mửa, chán chường, tuyệt vọng. Cuộc đời này chẳng có thần thánh, chẳng có đạo nghĩa gì ngoài ra chính mình hãy tự giải quyết lấy cuộc đời của chính mình.
Các cuộc chiến tranh kinh hoàng liên tiếp diễn biến trên thế giới nhất là tại Âu châu do các nền tư tưởng hoặc triết học của các triết gia và lý thuyết gia Tây phương như Machievel, Kant, Hegel, Marx, Nietzsche... đẩy đưa con người tới chỗ điên loạn và sẵn sàng đè bẹp đồng loại cho những mục tiêu đầy tham vọng và tham tàn. Tất cả mọi phương tiện đều được phép để thể hiện các mục tiêu của mình. Con người muốn loại trừ Thiên Chúa ra bên ngoài để chính mình điều khiển lấy thế giới. Thần học hay đạo lý bị khoa học và triết học gạt sang một bên. Từ đây con người chìm đắm trong tham sân si. Từ đây thế giới lao đầu vào những cuộc chiến tranh tàn sát đẫm máu nhất trong lịch sử loài người, không phải theo tầm vóc bình thường, nhưng tầm vóc hàng triệu, hàng chục triệu những con người vô tội ngục ngã trước tầm bom đạn hoặc hơi ngạt.
Chứng kiến những thảm cảnh đầy tan hoang, dã man và phi lý đó, xã hội Tây phương rơi vào tình trạng chán nản, mệt mỏi, nôn mửa, tuyệt vọng và buông xuôi. Từ đây một số triết gia và văn sĩ như Jean Paul Sartre, Heidegger, Albert Camus, Francoise Sagan... đứng lên kêu gọi con người hãy sống tự do, buông thả, thác loạn. Trong khi đó lại có những triết gia và văn sĩ đi theo hướng hữu thần kêu gọi con người hãy đi tìm ý nghĩa và lẽ sống cho đời minh như Jaspers, Gabriel Marcel, Kierkegaard...
Ngay từ khởi đầu của triết học, nhân loại đã đi theo hai hướng khác nhau, tiêu biểu là hai triết gia Plato và Aristote. Plato chủ trương cắt nghĩa vạn vật theo existentia (sinh tồn, hiện tồn), trong lúc Aristote lại nhìn vào essentia (bản thể, bản chất) của vạn vật. Và cứ thế triết học Tây phương xoay vần từ existentia đến essentia và ngược lại. Triết học Tây phương cũng ảnh hưởng sâu đậm tới thần học Tây Phương, và hai đại biểu nổi bật nhất của hai nền thần học này là Thánh Augustinô đi theo khuynh hướng của Plato và Thánh Tôma đi theo Aristote.
Ở đây Mẹ Têrêsa chẳng chủ trương đi theo thần học hiện sinh hay duy lý, nhưng rõ rệt một điều là Mẹ nhìn ra Chúa Giêsu và sống với Ngài theo tầm nhìn hiện sinh. Mẹ nhìn thấy Ngài, cảm nhận được Ngài ngay hôm đang sống với Mẹ thực sự y hệt như khi xưa Ngài đã sống với các môn đệ. Chúa Giêsu không phải là Chúa Giêsu "bản thể" trong thần học, nhưng đích thực Ngài là Chúa Giêsu hiện sinh từng giờ từng phút ngay trong cuộc đời của Mẹ vào lúc này và tại đây 'hic et nunc': "Chúa Giêsu tiếp tục sống cuộc tử nạn của Ngài. Ngài tiếp tục ngã xuống đất, nghèo hèn và đói khổ giống hệt như Ngài đã quỵ ngã trên đường đi tới đồi Calvê. Chúng ta có tình nguyện ở bên cạnh để giúp đỡ Ngài không? Chúng ta có bước đi bên cạnh Ngài với những hy sinh của chúng ta, với những mẩu bánh - bánh thực sự - để giúp đỡ Ngài vượt qua cảnh yếu đau?"  - OW, 86
Mẹ không giam nhốt Chúa Giêsu Thánh Thể trong nguyện đường, trong Nhà Tạm,  nhưng quan yếu hơn, sau khi đã tận hiệp với Chúa Giêsu hiện sinh trong nguyện đường rồi, Mẹ đem Ngài đi vào sống động trong cuộc sống. Mẹ đem tình yêu thương, ơn chữa lành của Ngài 'bẻ ra' phân phát cho những con người khổ hạnh nhất trần gian. Qua con người bé nhỏ nhưng đầy lòng từ tâm của Mẹ, Chúa Giêsu đang đến sống với những con người nghèo khổ và bệnh hoạn tại Ấn Ðộ y hệt như xưa kia Ngài đã đến với dân tộc Palestine. Chúa Giêsu ngày hôm nay cũng hiện sinh như thế đó.
Một điều kỳ diệu nữa chính là Chúa Giêsu Thánh Thể không hiện ra nguyên hình y hệt như Chúa Giêsu xưa kia bị chôn trong mồ, nhưng Ngài cải trang thành người làm vườn hiện ra với bà Maria, thành khách bộ hành đi bên hai môn đệ trên đường Emmau, thành người lữ khách đi ra bờ biển lúc tinh sương để nướng bánh và cá cho các môn đệ ăn. Thánh Thể Chúa Giêsu đã cải trang, đã giả dạng, đã tàng hình thành những thân hình khác. Hơn ai hết, Mẹ Têrêsa đã nhìn ra Ngài giả dạng và hiện sinh nơi những con người khốn khổ của trần gian và Mẹ tìm đến Ngài như con vật thiêu thân tìm thấy ánh sáng. Mẹ lăn xả vào các hoạt động bác ái để phục vụ Ngài nơi những con người bất hạnh ấy ngay tại chỗ và ngay lập tức 'hic et nunc.' Chúa Giêsu đang sống giữa trần thế hôm nay y như cách đây hơn 2000 năm Ngài đã giáng thế, nhưng không dưới nguyên dạng của Chúa Giêsu khi xưa nữa, nhưng Ngài ẩn hình, Ngài cải trang nơi người cha, người mẹ, người anh, người em, người hàng xóm, cấp trên, cấp dưới và nhất là nơi những con người xấu số của trần gian. Quả thực Chúa Giêsu vẫn hiện sinh giữa chợ đời hôm nay.
Trở lại với cuốn sách của Jean Maaloup, ông trích dẫn tất cả các tư tưởng của Mẹ Têrêsa cùng trong chiều hướng với những tư tưởng chúng tôi đã đề cập trong bài viết lần trước về Mẹ Maria sống với Chúa Giêsu Thánh Thể. Tuy nhiên trong chương sách này các câu trích dẫn của ông về Mẹ Têrêsa sống với Thánh Thể nổi bật hơn về khía cạnh hiện sinh, về lối sống Thánh Thể thiết thực, sống động và hiệu nghiệm hơn.
Và dưới đây là phần trích dẫn các tư tưởng của Mẹ Têrêsa về Chúa Giêsu Thánh Thể hiện sinh:
Rất có thể các con sẽ tìm thấy những con người nhân linh thật gần kề với các con đang cần tới yêu thương. Các con đừng chối bỏ những con người này. Trên hết, các con hãy bầy tỏ ra các con chân thành nhận ra họ là những con người nhân linh, họ quan trọng với các con. Họ là ai vậy? Họ là chính Chúa Giêsu đó: Chúa Giêsu ngụy trang dưới dáng vẻ của khổ đau đấy! - OW, 84
Khi chúng ta săn sóc những người đau yếu và túng thiếu, chính là chúng ta đang đụng chạm Chúa Giêsu đau khổ, và việc đụng chạm này biến chúng ta thành anh hùng; giúp chúng ta vượt thắng nỗi kinh tởm và phản ứng tự nhiên vẫn hiện tồn trong mỗi chúng ta. Ðây là cặp mắt đức tin và tình thương giúp chúng ta nhìn ra Chúa Giêsu nơi những con người đau yếu để phục vụ Ngài tại đó, chia sẻ những khổ đau và mọi sự... Ðau khổ không phải là một hình phạt. Chúa Giêsu chẳng trừng phạt ai cả. Ðau khổ là dấu hiệu, là chỉ dấu Chúa yêu thương chúng ta... Qua đau khổ, bệnh hoạn, thập giá, đớn đau và cái chết, chúng ta sẽ đạt tới đời sống, tới phục sinh.  - MTLL, 125
Nếu các nữ tu của chúng ta không nhìn ra khuôn mặt Chúa Giêsu nơi những con người bất hạnh này, loại công tác xã hội này chẳng thể thành tựu nổi... Chúng tôi muốn họ nhận ra còn có những người thực sự yêu thương họ, và còn hơn thế nữa, chính Chúa yêu thương họ rất nhiều.
Tất cả thời giờ của mẹ thuộc về người khác, vì khi cống hiến chính mình với tất cả yêu thương cho đau khổ, đó là chính Chúa Giêsu chúng tôi đang phục vụ qua gương mặt biến dạng của Ngài, như chính Ngài đã nói: "Các con đã làm cho Ta..."
Ðích điểm để phục vụ trợ giúp không phải là niềm tin của riêng mình, nhưng đó là nhu cầu. Tất cả chúng ta đều là thân hình Chúa Giêsu; tất cả là Chúa Giêsu dưới hình dáng của những con người cần giúp đỡ và yêu thương, và họ có quyền nhận lãnh.  - MTLL, 34-35
Chúng ta làm tất cả mọi sự cho Chúa Giêsu, với Chúa Giêsu và dâng hiến cho Chúa Giêsu.
Cho Chúa Giêsu: trọn vẹn đời sống chúng ta hướng về Ngài, phục vụ Ngài; chúng ta chỉ sống cho mình Ngài, yêu thương và phục vụ Ngài, làm thế nào để Ngài được hiểu biết và yêu thương.
Với Chúa Giêsu: Ngài ban cho chúng ta sức mạnh, sự thanh thản và hạnh phúc để làm việc cho Ngài; Ngài đồng hành trên con đường chúng ta đi; Ngài dẫn dắt và hướng lái chúng ta; chúng ta cùng đi với Ngài trên đường về Emmau, nơi đó chúng ta đã nhận ra Ngài.
Dâng hiến cho Chúa Giêsu: chúng ta phục vụ Ngài nơi những người chung quanh, chúng ta nhìn thấy Ngài nơi những ai nghèo khổ, chúng ta săn sóc Ngài nơi những ai đau yếu, chúng ta an ủi Ngài nơi những anh chị em khổ đau của chúng  ta. - MTLL 49-50

“Chúa là Thiên Chúa. Chúa là Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật. Ðược sinh ra mà không phải tạo thành. Cùng bản tính với Ðức Chúa Cha. Chúa là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Chí

Thánh. Chúa là một với Chúa Cha. Chúa ở với Chúa Cha từ đời đời. Tất cả mọi vật được Chúa và Chúa Cha tạo dựng. Chúa là Con Yếu Dấu được Chúa Cha sủng ái. Chúa là Con Mẹ Maria. Ðược thụ thai trong cung lòng trinh nữ nhờ Chúa Thánh Linh. Chúa sinh  ra tại Bêlem. Chúa được Mẹ Maria bọc trong khăn. Ðược đặt trong máng cỏ đầy rơm. Chúa là con người bình thường với chút học hành, và giới học giả Israel xét xử Chúa. Chúa Giêsu là: Lời trở thành xác phàm...bánh đời sống nạn nhân bị hành xử vì tội lỗi của chúng ta trên thập giá của lễ hiến tế cho tội lỗi nhân loại và cho tội lỗi của tôi trong Thánh Lễ lời được loan truyền chân lý được mạc khải con đường phải đi theo ánh sáng phải thắp lên đời sống phải sống tình yêu phải được yêu người đói khổ được nuôi nấng người đói khát được giãn khát kẻ trần truồng được mặc áo quần kẻ vô gia cư được trú ngụ bệnh nhân được cứu chữa kẻ bị bỏ rơi được yêu thương kẻ bị hất hủi được đón nhận người phong cùi được tắm rửa người hành khất nhận được nụ cười kẻ say sưa được lắng nghe kẻ tâm thần được che chở, bé sơ sinh được ẵm bế trong vòng tay người mù lòa được dẫn dắt người câm điếc được nói thay người què quặt được dẫn đi kẻ nghiện ngập được cai thuốc gái mãi dâm khỏi đứng bên đường và được lắng nghe, người tù tội được thăm viếng , người già cả được chăm nom. - MTLL, 67
Bí mật của mẹ là Chúa Giêsu và tình yêu cao cả của Ngài dành cho chúng ta, cầu nguyện và suy ngắm, một giờ thờ phượng mỗi ngày, các lời khấn dòng của chúng ta. Khẩu hiệu của mẹ: Tất cả cho Chúa Giêsu; tất cả cho Chúa Giêsu nhờ Mẹ Maria. Hãy nhìn ngắm năm ngón tay trên bàn tay của mẹ. Ngài đã tạo dựng tất cả cho mẹ! Các con hãy nhớ nhìn ngắm bàn tay năm ngón của các con vào mỗi buổi sáng và buổi chiều và trong giờ kiểm thảo lương  tâm. Mẹ đã làm gì cho Chúa Giêsu? - MTLL, 8
Chúng ta đừng cố công áp đặt niềm tin nơi người khác. Chúng ta cố công hành xử theo cách thức Chúa Giêsu tỏa chiếu ánh sáng và đời sống của Ngài nơi chúng ta và, qua chúng ta, đến với thế giới. - MTLL, 68
Hiện tại chúng ta đang đụng chạm thân thể Chúa Giêsu nơi người nghèo khổ. Nơi người nghèo khổ chính là Chúa Giêsu đói khổ chúng ta đang nuôi dưỡng, chính là Chúa Giêsu trần trụi chúng ta đang ban phát áo quần, chính là Chúa Giêsu vô gia cư chúng ta đang cho trú ngụ.
Không phải chỉ cho người đói khổ bánh ăn hoặc áo quần cho người trần truồng hoặc nhà ở cho người vô gia cư. Ngay cả đến người giầu có cũng đói khát yêu thương, cần được chăm sóc, cần được mong muốn và cần có người thân.  GG, 39
Nếu có đôi khi những người nghèo khổ chết đói, không phải vì Thiên Chúa không chăm sóc họ, nhưng vì các con và mẹ không là dụng cụ yêu thương trong bàn tay Chúa để cho họ cơm bánh này, ban phát áo quần này; vì chúng ta không nhận ra Ngài khi Ngài đến qua hình dáng ngụy trang đói khổ - nơi người đói khát, nơi kẻ cô đơn, nơi trẻ vô gia cư đang đi tìm kiếm nơi trú ngụ.
Thiên Chúa đồng hóa chính Ngài với người đói khát, người bệnh tật, kẻ trần truồng, kẻ vô gia cư; người đói khát, không phải chỉ cần cơm bánh, nhưng cần yêu thương, cần chăm sóc, cần thân thiết; kẻ trần truồng, không phải chỉ cần áo quần, nhưng cần thương cảm vì ít ai quan tâm tới người mình không quen biết; kẻ vô gia cư không chỉ cần ngôi nhà bằng gạch ngói, nhưng cần có người thân bên cạnh. - GG, 24-25
Bởi vì chúng ta không thể nhìn thấy Chúa Giêsu, do đó chúng ta không thể bộc lộ tình yêu thương Ngài; nhưng những người chung quanh chúng ta có thể luôn luôn nhìn thấy và chúng ta có thể làm cho họ những gì, nếu như chúng ta đã nhìn ra Ngài, chúng ta hẳn vui thích làm cho Chúa Giêsu...
Ngày nay, cũng chính Chúa Giêsu ấy đang hiện diện nơi những con người thất nghiệp, bị ruồng bỏ, bị khinh khi, đói khát, trần truồng và vô gia cư. Họ xem ra vô ích với quốc gia, với xã hội; không ai có thời giờ dành cho họ. Chính các con và mẹ là những Kitô hữu, xứng hợp với tình yêu của Chúa Giêsu nếu tình yêu của chúng ta chân thật, chúng ta phải đi tìm kiếm họ và giúp đỡ họ; họ đang ở đó để được tìm kiếm. - GG, 28
Ngày nay, một lần nữa, khi Chúa Giêsu đến ở giữa chúng ta, những người thân của Ngài không nhận biết Ngài.
Ngài đến nơi những thân xác ghê tởm của những người nghèo khổ và Ngài cũng đến nơi những người giầu sang đang sống ngột ngạt với những tài sản của họ.
Ngài đến với những cõi lòng cô liêu và khi chẳng có ai yêu thương họ. Chúa Giêsu cũng đến với các con và mẹ, nhưng thường xuyên, và rất thường xuyên chúng ta lại làm ngơ Ngài. - MTLL, 65
Mẹ còn nhớ một trong những nữ tu của chúng ta vừa tốt nghiệp đại học. Em xuất thân từ một gia đình giầu có ngoài nước Ấn Ðộ. Theo luật dòng của chúng ta, một ngày sau khi nhập dòng, các thỉnh sinh phải đến nhà hấp hối tại Calcutta. Trước khi em tới, tôi nói với em, "Con đã nhìn xem các linh mục trong Thánh Lễ, với đầy yêu mến và với cử chỉ tinh tế đụng chạm đến thân thể Chúa Giêsu. Con hãy đinh ninh mình cũng phải làm như thế khi đến nhà hấp hối, vì Chúa Giêsu đang ngụy trang khốn khổ tại đó."
Em đã tới đó và sau ba giờ, em trở lại. Cô nữ sinh viên đó đã nhìn thấy và đã hiểu được nhiều chuyện. Em đến phòng tôi với nụ cười tươi tắn trên gương mặt. Em thố lộ, "Trong suốt ba giờ, con đã đụng chạm thân thể Chúa Giêsu."
Và tôi nói với em, "Con đã làm gì hả? Chuyện gì đã xẩy ra?"
Em bầy tỏ, "Người ta đã đem đến một người đàn ông lọt cống rãnh trên hè phố và đã nằm đó một thời gian. Thân hình ông đầy những dòi bọ, bẩn thỉu và thương tích. Và dù con cảm thấy thật khó khăn, con đã lau rửa ông và con biết rằng con đã đụng chạm thân thể Chúa Giêsu!" Em đã hiểu biết.  - HW, 55
Ðói yêu thương, Ngài nhìn đến các con đó. Khát lòng từ ái, Ngài ăn xin các con đó. Trần trụi lòng trung nghĩa, Ngài đặt hy vọng nơi các con. Vô gia cư nơi cõi lòng, Ngài nài nỉ các con đó. Các con sẽ là những người đó với Ngài chứ? - HW 56
Mẹ không đồng ý với cách thức khoa trương khi làm việc. Với chúng tôi điều đáng kể là từng cá nhân mỗi người. Ðể đi vào yêu thương từng người chúng tôi phải đến tiếp xúc gần gũi với họ. Nếu chúng tôi chờ cho đến khi đủ số, thì rồi đây chúng tôi sẽ biến dạng trong số đông. Và như vậy chúng tôi sẽ chẳng bao giờ có thể biểu lộ tình yêu thương và lòng quý trọng đến mỗi người. Tôi tin nơi từng người một, mỗi người đối với tôi là chính Chúa Giêsu và như vậy chỉ có một Chúa Giêsu thôi, và con người đó đối với tôi chính là người duy nhất trong thế giới vào lúc đó.  SBG, 90-91
Vào lúc cuối đời, chúng ta sẽ không bị xét xử mình đã đạt được bao nhiều bằng cấp, kiếm được bao nhiêu tiền bạc, và làm được bao việc trọng đại. Chúng ta chỉ bị xét xử theo, "Ta đói khát và ngươi đã cho ta ăn, Ta trần truồng và ngươi đã cho Ta mặc, Ta vô gia cư và ngươi đã đón nhận Ta."
Ðói khát không phải chỉ vì thiếu cơm bánh - nhưng đói khát tình yêu. Trần truồng không phải vì thiếu áo quần - nhưng trần truồng vì thiếu nhân cách và tôn trọng.
Vô gia cư không chỉ vì muốn một căn phòng bằng gạch - nhưng vô gia cư vì bị từ bỏ.
Ðây chính là Chúa Giêsu cải trang khốn khổ. - WLB, 80
Chúa Giêsu đến gặp chúng ta. Ðể đón tiếp Ngài, chúng ta phải đi gặp Ngài. Ngài đến với chúng ta nơi người đói khổ, kẻ trần truồng, người cô đơn, gã say rượu, kẻ nghiện ngập, gái mãi dâm, và các hành khất trên hè phố.
Ngài đến với chúng ta nơi người cha cô độc, nơi người mẹ hay người chị, người anh.
Nếu chúng ta chối từ họ, nếu chúng ta không đến gặp họ, chính là chối từ Chúa Giêsu. - OW, 29
Ðiều quan trọng không phải là làm được nhiều chuyện hoặc làm hết mọi việc. Ðiều quan trọng chính là sẵn sàng làm mọi chuyện trong mọi lúc, xác tín rằng khi phục vụ những người nghèo khổ, chính là chúng ta thực sự phục vụ Chúa đấy. - OW, 29
Lạy Chúa chí ái, hôm nay và hàng ngày con có thể nhìn ra Chúa nơi người đau yếu, và khi nuôi dưỡng họ, chính là con hành xử với Chúa.
Nhờ Chúa ẩn hình đàng sau sự ngụy trang mờ nhạt đầy cảm ứng, quá đòi hỏi và không hợp lý, con còn có thể nhận ra Chúa và thân thưa với Chúa: "Chúa Giêsu, bệnh nhân của con ơi, thật ngọt ngào được phục vụ Chúa."
Lạy Chúa, xin ban cho con đức tin hiển thị (seeing faith) này, nhờ vậy công việc của con không bao giờ nhàm chán cả. Con sẽ luôn luôn tìm thấy niềm vui khi đem an vui cho những người hâm mộ, chiều theo những mong ước của những con người khổ đau nghèo hèn.
Lạy bệnh nhân yêu dấu, Chúa đáng yêu quý biết bao với con, khi Chúa nhân cách hóa Ðấng Cứu Chúa; và thật là một đặc ân cao quý cho con được phép chăm sóc Chúa.
Lạy Ðấng vô cùng dịu ngọt, xin cho con thẩm định được ơn gọi của con cao trọng biết bao cùng với những trách nhiệm. Xin đừng để con trở thành vô duyên khi nhường bước cho tính lạnh lùng, thái độ cộc cằn hoặc bất nhẫn. Và thân lạy Chúa, khi Chúa là Giêsu, bệnh nhân của con, xin Chúa cũng hạ mình thành bệnh nhân Giêsu, chịu đựng những sai trái của con và chỉ nhìn đến ý hướng của con là yêu mến Chúa và phục vụ Chúa được nhân cách hóa nơi mỗi bệnh nhân của Chúa.
Lạy Chúa, xin gia tăng đức tin cho con, xin chúc phúc cho những cố gắng và việc làm của con bây giờ và luôn mãi. Amen. - SBG, 53-54

Mục Lục

PHẨM CHỨC LINH MỤC

St. Alphosus De Liguori
Chuyển ngữ: Trần Mỹ Duyệt

TÂM TÌNH NGƯỜI DỊCH
 Một số độc giả, cách đặc biệt các đại chủng sinh trong thời gian chuẩn bị lên chức linh mục và một số linh mục sau ngày chịu chức, chắc đã có dịp đọc tác phẩm Phẩm Chức Linh Mục do Thánh Anphongsô, Tiến Sỹ Hội Thánh và là đấng sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế biên soạn. Những dòng sau đây được trích ra từ chương nói về việc các linh mục dâng lễ phạm sự thánh, có nghĩa là dâng lễ trong tình trạng tội lỗi.
Những tư tưởng và từ ngữ đã được Thánh Tiến Sỹ dùng có thể làm cho một số người thắc mắc: “Như vậy thì ai xứng đáng với chức linh mục?” Hoặc: “Thánh nhân có tỏ ra thậm xưng và khắt khe quá đáng không?”
Ai xứng đáng với chức linh mục? Thật ra không có ai xứng đáng hoặc dám nói mình xứng đáng với thiên chức cao trọng này, nhưng do lòng thương xót của Thiên Chúa và ơn gọi mà ngài dành cho những ai ngài tuyển chọn mà thôi. Và Thánh nhân cũng không thậm xưng hoặc khắt khe quá đáng khi nói về những linh mục mang tội trọng mà vẫn dám tiến lên trước bàn thờ Thiên Chúa để dâng thánh lễ. Bởi vì trong khi cử hành thánh lễ, vị linh mục đóng vai Chúa Giêsu để tế lễ Thiên Chúa Cha. Trong vai trò đó thì không có gì là quá đáng khi nói rằng một linh mục phải trong sạch hầu xứng đáng với công việc vô cùng thánh thiện và cao trọng này.
Nhưng có lẽ Thánh nhân không dừng lại ở những tư tưởng tiêu cực, mà ngài chỉ muốn nhắn gửi các linh mục phải sống và hành động như thế nào để xứng đáng với phẩm chức cao cả mà Thiên Chúa đã kêu gọi. Yếu đuối và khuyết điểm luôn là đối tượng của tình thương và sự tha thứ của Thiên Chúa. Nhưng nếu một linh mục cố tình coi thường thiên chức và xúc phạm đến Thiên Chúa cao cả trong khi đại diện ngài làm công việc tế lễ, thì đó là điều mà Thánh Anphongsô muốn nói đến và nhắc nhở các linh mục này.
Chúng ta hãy cầu xin để các linh mục của Chúa sống xứng đáng với thiên chức cao cả và cử hành cách thánh thiện hiến lễ Misa mà các ngài được vinh dự cử hành mỗi ngày. Và cả các Kitô hữu nữa. Chúng ta cũng phải sống sao để xứng đáng tham dự thánh lễ, nhất là rước lễ. Nếu kẻ dâng thánh lễ bị phạt vì bất xứng, thì người tham dự thánh lễ một cách bất xứng cũng khó thoát khỏi hình phạt. Bởi vì tất cả đều quây quần quanh một bàn thánh, cùng ăn một bánh thánh và uống một chén thánh.   

PHẨM CHỨC LINH MỤC
Thánh Anphonsô: “Các linh mục được Thiên Chúa chọn để cai quản mọi phúc lộc và ơn lành của ngài trên trái đất. Linh mục là một thừa tác viên được chỉ định bởi Thiên Chú, trở thành một đại diện của toàn Giáo Hội, để tôn vinh ngài, và cầu xin các ân phúc của ngài cho các tín hữu. Toàn thể Giáo Hội cũng không thể dâng lên Thiên Chúa lời chúc tụng, và cầu xin nhiều ơn thiêng như một linh mục dù chỉ dâng một thánh lễ.
Bằng việc cử hành thánh lễ, trong đó linh mục dâng Đức Giêsu Kitô trong thánh lễ, linh mục dâng lên Thiên Chúa sự tôn vinh, hơn tất cả mọi người hy sinh mạng sống mình để dâng lên Ngài.
Dù chỉ một thánh lễ, linh mục dâng lên Thiên Chúa sự tôn vinh lớn lao hơn mọi thần thánh cùng với Đức Trinh Nữ Maria đã dâng hoặc sẽ dâng lên ngài, vì việc tôn thờ của các ngài không thể trở thành một giá trị vô cùng giống như những gì mà một vị linh mục cử hành trên bàn thờ để dâng lên Thiên Chúa.

DÂNG THÁNH LỄ PHẠM SỰ THÁNH

Sự trongsạch là điều đòi buộc của linh mục để dâng thánh lễ một cách xứng đáng
Thánh Công Đồng Trent đã dậy rằng: “ Chúng ta cần phải xác tín rằng không có một việc làm nào của người tín hữu lại thánh thiện và cao cả như mầu nhiệm rất cao cả này”. Chính Thiên Chúa cũng không thể để con người làm gì trổi vượt hoặc hành động nào thánh thiện hơn việc cử hành Thánh Lễ. Ôi! Của lễ hy sinh trên bàn thờ cao trọng hơn biết bao những hy lễ thuở xưa, vì trong đó chúng ta sát tế không phải là bò, hoặc chiên, nhưng là Con Thiên Chúa?  Thánh Phêrô Cluni nói: “Người Do Thái có bò, Kitô hữu có Đức Kitô: Hy lễ sau cao trọng hơn hy lễ trước, như Đức Kitô cao trọng hơn con bò. Cùng một tác giả thêm rằng, những đầy tớ thì xứng hợp với thân phận nô lệ, nhưng  với bạn hữu và con cái được dành riêng cho Chúa Giêsu Kitô – nạn nhân đã giải thoát chúng ta khỏi tội khiên và khỏi chết đời đời. Thánh Lôrensô Justinianô đã nói một cách chí lý rằng không có bổn phận nào cao trọng hơn, phúc ân hơn đối với chúng ta, hoặc làm hài lòng Thiên Chúa hơn, cho bằng việc dâng hiến mà chúng ta làm trong hiến tế của Thánh Lễ Misa.
Theo Thánh Gioan Chryssôtômô, trong khi cử hành Thánh Lễ, các thiên thần vây quanh bàn thờ, các ngài hiện diện để dâng lời chúc tụng lên Đức Giêsu Kitô, hy lễ  được dâng lên trên bàn thánh. Và Thánh Grêgôriô hỏi rằng: “Ai dám nghi ngờ rằng trong giây phút thánh hiến, do lời đọc của linh mục, các tầng trời mở ra và ca đoàn các thiên thần đang hiện diện ở mầu nhiệm của Đức Giêsu Kitô?” Thánh Augustinô nói rằng các thiên thần như các tôi tớ giúp linh mục dâng thánh lễ.
Công Đồng Trent còn dậy rằng Chúa Giêsu Kitô chính ngài là người đầu tiên đã dâng hiến lễ cao trọng là mình và máu ngài, và rằng giờ đây ngài tự dâng mình qua tay linh mục được tuyển chọn trở thành người phục vụ của ngài và đại diện ngài trên bàn thờ. Thánh Cyprianô nói rằng: “linh mục đích thật thay thế Đức Kitô”, và vì thế, trong giây phút truyền phép, ngài nói: “ Này là mình ta, này là chén máu ta.” Chúa Giêsu chính ngài đã nói về các môn đệ ngài rằng: “Ai nghe các con, là nghe Ta; và ai khinh dể  các con, là khinh dể Ta”.     
Đối với các tư tế của Luật Đạo Cũ, Thiên Chúa đòi họ hỏi phải trong sạch, bởi vì bổn phận chính của họ mang những bình thánh: “Ngươi phải trong sạch, vì ngươi mang những bình của Thiên Chúa.”  Thánh Phêrô Blois nói: “Họ sẽ phải trong sạch hơn đến đâu nếu họ mang Chúa Kitô trong tay và trong người của họ?” Thiên Chúa sẽ đòi hỏi sự trong sạch biết bao đối với các tư tế của Luật Mới, những người đại diện Chúa Giêsu Kitô trên bàn thờ, trong khi dâng lên Chúa Cha hằng hữu người Con của chính ngài! Chính vì thế, Công Đồng Trent đòi hỏi rằng các tư tế cử hành hy lễ này với một lương tâm tinh tuyền bao nhiêu có thể: “Nó cũng chính là một cách tinh tuyền mà tất cả sự chuyên cần và tận tụy được áp dụng để cuối cùng tạo nên sự trong sạch và trinh trắng bên trong của con tim. Đức Viện Phụ Rupert nói: “Đây là những gì được biểu lộ bằng chiếc áo dài trắng mà Giáo Hội đòi buộc các linh mục mặc vào như thể được bao trùm từ đỉnh đầu đến bàn chân khi cử hành những mầu nhiệm thánh.”
Nhưng cái mà các linh mục phải  tôn vinh Thiên Chúa chính là đời sống trong trắng, vì ngài đã cho họ vinh dự  với nhiều phúc lộc hơn những người khác, bằng cách làm cho họ trở nên những kẻ phục vụ mầu nhiệm cao cả này. Thánh Phanxicô Assisi nói: “Hỡi các linh mục, phẩm chức các ngài, và như Thiên Chúa đã tôn vinh các ngài trong mầu nhiệm này, thế nên về phần các ngài hãy cẩn thận để yêu mến và tôn vinh ngài”. Nhưng một linh mục sẽ tôn vinh Thiên Chúa như thế nào? Bằng những bộ áo lễ tốn kém và sang trọng? Thánh Bênađô nói: “Không! Nhưng bằng đời sống hiến dâng, bằng việc học hỏi của một lương tâm thánh đức, và bằng những cố gắng trong những việc làm thánh thiện.”
Một linh mục dâng lễ đang khi mang tội trọng phạm tội lớn lao chừng nào.
Nhưng một linh mục cử hành thánh lễ đang khi mang tội trọng đem lại cho Chúa vinh quang gì? Như chính mình con người ấy, linh mục này đã đối xử một cách bất kính nhất khi dâng lên thánh lễ, bằng việc khinh dể ngài trong chính con người của mình.  Do bởi sự phạm thánh của mình, bao lâu linh mục xuất hiện trong sự dối trá ấy, bấy lâu làm nhơ bẩn Con Chiên Vô Tội, đấng mà vị linh mục ấy sát tế trong bánh thánh. Qua miệng tiên tri Malachy, Thiên Chúa nói với vị linh mục này rằng: “Ngươi, hỡi những tư tế coi thườngdanh Ta.... các ngươi đã dâng những bánh nhơ bẩn lên trước bàn thờ Ta, và các ngươi nói, chúng tôi đã làm gì dơ bẩn trong đó?” Thánh Giêrônimô diễn giải, “làm dơ bẩn bánh, có nghĩa là, thân thể của Chúa Kitô, khi chúng ta tiến lên bàn thờ một cách bất xứng”.
Thiên Chúa không thể nâng con người lên cao trọng hơn bằng cách phong cho họ phẩm chức linh mục. Biết bao sự chọn lựa Thiên Chúa đã phải chuẩn bị khi kêu gọi một người lên hàng linh mục. Trước hết, ngài đã chọn họ giữa muôn tạo vật. Rồi ngài đã gạn lọc họ khỏi hằng triệu những người vô thần, dị giáo, và sau cùng ngài đã chọn họ từ giữa muôn tín hữu. Và quyền năng nào ngài ban cho trên con người ấy: Nếu Thiên Chúa đã ban xuống chỉ trên một người quyền năng để bằng những lời truyền khiến Con Chúa từ trời xuống, thì những nhiệm vụ của người ấy trọng vọng và phải biết ơn Chúa như thế nào!  Đấy là quyền năng mà Thiên Chúa ban cho mỗi linh mục.
Nâng lên khỏi chỗ phân thổ, để đặt ngang hàng với những hoàng tử, công chúa của dân ngài
Con số những kẻ được Thiên Chúa ban cho quyền năng ấy không giảm thiểu phẩm chức và những ràng buộc của chức linh mục. Nhưng những gì vị linh mục làm khi cử hành thánh lễ trong tình trạng tội lỗi? Thánh Cyrilô nói, linh mục này bất kính với Chúa, bằng cách tuyên bố rằng bí tích cực trọng ấy không đáng để vị này giữ mình khỏi những ràng buộc phạm thánh.
Thánh Gioan Chrysôtômô nói rằng, đôi tay chạm đến thánh thể Chúa Giêsu Kitô, và lưỡi nếm máu thánh của ngài phải tinh tuyền hơn ánh sáng mặt trời. Ở một nơi khác, ngài nói rằng một linh mục bước lên bàn thờ phải chiếm hữu sự tinh tuyền và sự thánh thiện cần phải có như đứng giữa các thiên thần. Và vì thế, các ngài sẽ giận dữ biết bao khi thấy một linh mục trở thành kẻ thù nghịch của Thiên Chúa, giang đôi tay phạm thánh động tới và cầm ăn Chiên Vô Tội!  Thánh Augustinô than rằng: “Ai! Kẻ nào trở thành quá hung dữ và cả gan dám động chạm đến bí tích thánh thể bằng đôi tay dơ bẩn!” Nhưng linh mục mà cử hành thánh lễ phạm thánh còn trở nên hiểm độc hơn vì linh hồn bị nhơ nhuốc bởi tội trọng. Thiên Chúa quay mặt đi, để khỏi phải nhìn một sự bất kính ghê tởm như vậy. Chúa phán “khi ngươi giang tay lên, Ta sẽ quay mặt đi....vì bàn tay ngươi đầy máu.” Để diễn tả sự ghê tởm mà ngài cảm thấy nơi một linh mục phạm thánh, Chúa tuyên phán rằng ngài sẽ quẳng sự nhơ nhuốc của sự phạm thánh trên mặt các linh mục: Ta sẽ trát lên mặt ngươi sự nhơ nhuốc của những long trọng của ngươi.  Thật vậy, như Công Đồng Trent dậy rằng sự thánh lễ không thể bị làm cho nhơ nhuốc bởi lỗi cố tình của những linh mục.
Tuy nhiên, các linh mục cử hành trong tình trạng tội lỗi, làm dơ bẩn bao lâu họ còn sống, mầu nhiệm thánh; và vì thế, Thiên Chúa phán rằng ngài đã bị làm ra nhơ bẩn bởi những điều bất kính của các linh mục. Các linh mục của ta làm nhơ nhuốc cung thánh của Ta, ... và Ta bị xúc phạm giữa chúng.
Thánh Bênađô cảm thán: Ôi! Lậy Chúa. Làm sao có thể xẩy ra như vậy khi một số được nắm giữ những chức vụ cao trọng trong Giáo Hội của Chúa lại trở thành những người đầu tiên hành khổ Chúa! Đúng như Thánh Cyrianô nói rằng một linh mục cử hành Thánh Lễ trong tình trạng tội lỗi xỉ nhục thánh thể Chúa Kitô bằng miệng lưỡi và bàn tay của mình. Một tác giả khác, Phêrô Cômestô thêm rằng linh mục đọc lời thánh hiến trong tình trạng tội lỗi, nhổ và mặt Chúa Giêsu Kitô; và khi linh mục ấy rước lễ bằng miệng lưỡi nhơ bẩn của mình, thì như quẳng mình và máu Chúa Giêsu Kitô vào vũng bùn nhơ. Tại sao lại nói là quẳng Chúa Giêsu Kitô vào vũng bùn nhơ bẩn? Vì linh hồn vị linh mục mang trọng tội còn nhơ nhuốc hơn vũng bùn lầy nhơ nhớp, và như Thêôphilatus nói, đống bùn nhơ bẩn còn đỡ bất kính hơn một tâm hồn linh mục phạm thánh rước lấy thánh thể cực trọng. Và vì thế, Thánh Vinhsơn Ferrô nói, linh mục phạm thánh mang tội bất kính lớn lao hơn so với việc vất bỏ thánh thể vào vũng dơ bẩn. Và đó cũng là giáo lý của Thánh Thôma Villanôva.

Những tội lỗi của một linh mục luôn luôn trở thành ghê gớm vì những điều mà họ đã làm tổn thương đối với Thiên Chúa, đấng đã chọn họ để trở thành người phục vụ của riêng ngài và đã ban xuống muôn ơn lành trên họ. Thánh Phêrô Đamianô nói, một tay họ phản lại những luật của Chúa Thượng, trong khi tay kia vả mặt ngài. Đấy là những gì mà vị linh mục làm khi dâng thánh lễ trong tình trạng tội lỗi: “Một mặt phạm đến pháp lệnh hoàng đế ban bố, một

mặt gây thương tích cho ngài bằng bàn tay của chúng ta. Không có một tội nào nghiêm trọng hơn một linh mục dâng thánh lễ một cách bất xứng. Khi chúng ta phạm tội chúng ta làm đau lòng Thiên Chúa do những gì thuộc về ngài, nhưng khi chúng ta dâng lễ một cách bất xứng chúng ta cả dám giơ tay phản loạn động đến bản thân ngài.” 
Đó là tội của những người Do Thái, những người đã dám cả gan phạm đến bản xác  Chúa Giêsu Kitô. Nhưng Thánh Augustinô dậy rằng, tội của các linh mục dâng lễ cách bất xứng còn trầm trọng hơn nhiều: “Những ai mà dâng Chúa Giêsu Kitô trên trời một cách bất xứng, tội của họ còn khủng khiếp hơn những người Do Thái đã đóng đinh người  trên trái đất. Những người Do Thái đã không biết ngài là Đấng Cứu Thế như các linh mục.” Ngoài ra, như Tertulianô nói, những người Do Thái ra tay giết người có một lần, nhưng linh mục phạm thánh cả gan thường xuyên lập lại hành động đau thương này. Theo giáo lý của các nhà thần học, một linh mục qua hành động dâng lễ phạm sự thánh mang 4 tội sau đây:

  1. Vì đọc lời truyền phép trong tình trạng tội lỗi.
  2. Vì hiệp lễ trong tình trạng tội lỗi.
  3. Vì trao ban thánh thể trong tình trạng tội lỗi.
  4. Vì trao ban thánh thể cho một người bất xứng, tội lỗi là chính mình. 

Đó cũng là điều mà Thánh Giêrônimô với lòng sốt sắng đã nguyền rủa Phó Tế Sabinianô rằng: “Khốn thay! Thánh Tiến Sỹ nói: “sao mà con mắt ngươi không mù loà đi, lưỡi ngươi không ngọng lại, và tay ngươi không rụng xuống đất khi ngươi cả gan phục vụ bàn thánh trong tình trạng tội lỗi.” Thánh Gioan Chrysôtômô dậy rằng một linh mục tiến lên bàn thờ với một tâm hồn vướng mắc tội trọng thì xấu xa hơn ma quỷ. Vì   ma quỷ run rẩy khi ở trước mặt Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta đọc trong truyện Thánh Têrêsa rằng một hôm khi rước lễ, thánh nhân nhìn thấy ma quỷ ở hai bên linh mục là người đã dâng lễ trong tình trạng có tội trọng. Ma quỷ run rẩy trước thánh thể mà toan trốn đi. Từ Thánh Thể , Chúa Giêsu đã nói với thánh nữ rằng: “Hãy xem sức mạnh của những lời thánh hiến, và hãy nhìn xem, hỡi Têrêsa, sự tốt lành của ta đã khiến ta đặt mình trong tay kẻ thù của ta vì lợi ích của con, và lợi ích cho các tín hữu!”  Những ma quỷ sau đó run rẩy trước Chúa Giêsu trong phép thánh thể; nhưng vị linh mục phạm thánh này không một chút sợ hãi, nhưng như lời Thánh Gioan Chrysôtômô, đã cản gan chà đạp Con Thiên Chúa trong chính mình ngài.
Linh mục phạm thánh đã được Thánh Tông Đồ diễn tả bằng những lời sau: Ngươi nghĩ rằng những hình phạt ghê gớm nào nữa mà nó đáng phại chịu, người bằng đôi chân mình đã chà đạp lên Con Thiên Chúa, và đã làm dơ bẩn máu giao ước mà nó đã thánh hiến? Rồi, trong sự hiện diện của Thiên Chúa đó những cột trụ của tầng trời bị rúng động, và mọi vật và tất cả đều phải chuyển động, một con dòi bọ của trái đất dám chà đạp lên máu của Con Thiên Chúa!
Nhưng rồi, còn tai họa lớn lao nào hơn có thể xẩy ra cho một linh mục làm thay đổi ơn cứu độ thành hình phạt; thánh thiện thành phạm thánh, và sống thành chết? Hành động của những người Do Thái làm đổ máu Chúa Giêsu Kitô là một bất kính lớn lao, nhưng sự bất kính ấy càng lớn lao hơn đối với một linh mục khi nhận lấy từ chén thánh cùng máu Chúa đã đổ ra và làm ô nhục máu ấy. Cùng một ý tưởng như thế, Thánh Phêrô Blois đã mượn lời của Thánh Giêrônimô thêm rằng: “Khốn cho người Do Thái phản trắc, khốn cho những Kitô hữu phản trắc: người Do Thái đã làm cho máu ấy chảy ra từ cạnh sườn Đức Kitô; người Kitô giáo, linh mục đã làm cho máu ấy đổ ra từ chén thánh để xúc phạm nó.” Đối với những linh mục như vậy, Thiên Chúa chúng ta một ngày kia đã phàn nàn với Thánh Brigítta rằng: “Chúng đóng đinh ta cách tàn nhẫn hơn những người Do Thái đã làm.”
Ôi! Sự phản trắc bất kính nhường bao. Chúa Giêsu Kitô than thở qua miệng Vua Đavít về linh mục phạm thánh: Vì thế kẻ thù Ta đã nhiếc mắng Ta. Ta đã lãnh chịu với nó... nhưng ngươi, người cùng một lòng, và thân thiết của Ta, người đã mang lấy những sự ngọt ngào với Ta lại không chia sẻ với ta.  Đây là một cách diễn tả chính xác về một linh mục dâng thánh lễ trong tình trạng tội lỗi. Chúa nói, nếu kẻ thù ta đã khinh dể Ta, Ta ít phải nhục nhã hơn, nhưng ngươi, người ta đã làm nên thân thiết, người phục vụ của ta, hoàng tử giữa muôn người, với ngươi Ta đã thường ngày ban thịt ta làm của ăn – mà ngươi đã bán ta cho ma quỷ bằng một cảm tình bất chính, một thỏa mãn xúc vật, một thế gian nhỏ bé. Do sự  phạm thánh này Thiên Chúa đã than thở với Thánh Brigítta: “Linh mục như thế, không phải là những linh mục của ta, nhưng là những kẻ phản bội, vì cũng giống như Giuđa, chúng phản bội và bán ta.”
Thánh Bênardine Sienna dậy rằng những linh mục như thế còn tồi tệ hơn cả Giuđa, bởi vì Giuđa bán Đấng Cứu Chuộc cho người Do Thái, nhưng chúng trao nộp ngài cho ma quỷ qua việc đón tiếp ma quỷ khi lãnh nhận bánh thánh phạm thượng, là điều được hướng dẫn bởi ma quỷ.  Phêrô Cômestô nhận xét rằng khi một linh mục phạm thánh bắt đầu đọc Aufer a nobis iniquitates nostras, et. – Lậy Chúa xin hãy rửa sạch con khỏi mọi điều gian ác ... – và hôn bàn thờ, Chúa Giêsu xuất hiện để tiến tới gần vị linh mục ấy và nói: Giuđa, ngươi nộp con người bằng cái hôn sao? Thánh Grêgôriô nói, và khi vị linh mục giang tay cầu nguyện, tôi nghĩ rằng tôi nghe Đấng Cứu Thế nói những gì ngài đã nói với Giuđa: “Đây là đôi tay trao nộp ta đang ở với ta trên bàn thờ.” Và vì thế, theo Thánh Isiđôrô Pelusium, vị linh mục phạm thánh thì giống như Giuđa, bị hoàn toàn chiếm đoạt bởi ma quỷ.
Ôi! Máu Đức Giêsu Kitô, quá đỗi bị xúc phạm, kêu lên một cách thảm thiết cho sự đoán phạt một linh mục phạm thánh hơn máu của Abel đã kêu án phạt cho Cain. Chúa Giêsu chính ngài đã tuyên bố với Thánh Brigítta. Ôi! Còn sự tủi hổ nào mà Thiên Chúa và các thiên thần ngài cảm nhận qua hình ảnh một Thánh Lễ dâng lên phạm thánh! Sự tủi hổ này Chúa đã mặc khải cho đầy tớ ngài là Nữ Tu Maria Thánh Giá ở Palma, thuộc thành Sicily năm 1688. Thoạt đầu chị nghe một tiếng kêu thảm não, mà nó vang lên như  tiếng sấm làm vang dội mặt đất bằng những lời này: Ultio, peona, dolor – Báo oán – hình phạt – Phiền muộn.
Rồi nữ tu nhìn thấy một số giáo sỹ phạm thánh đang ca hát những thánh vịnh với những giọng rời rạc, và trong một thái độ ngờ vực và chiếu lệ. Sau đó, chị nhìn thấy một người trong nhóm họ đứng dậy, tiến lê bàn thờ tế lễ. Trong khi người này đang mặc phẩm phục, thì toàn thể thể thánh đường bỗng tối đen và bắt đầu những tiếng rên xiết. Người này tiến lên bàn thờ và khi đọc Introibo ad altar Dei – Tôi sẽ bước lên bàn thờ Chúa -   tiếng kèn lại vang lên và những lời ultio, poena, dolor lại được lặp lại. Trong chốc lát, bàn thờ được được bao vây bởi những ngọn lửa, như mang ý nghĩa sự giận dữ của Thiên Chúa đối với một chủ tế bất xứng; và cùng lúc muôn thiên thần được nhìn thấy cầm gươm trong tay như để xét xử linh mục này vì Thánh Lễ phạm thánh mà vị này vẫn tiếp tục dâng.
Khi vị đan sỹ này gần đến phần thánh hiến, một bầy rắn độc chui ra từ giữa dàn lửa để xua đuổi vị này khỏi bàn thánh; những con rắn độc này đại diện cho sự sợ hãi và những cắn rứt của lương tâm. Nhưng tất cả chúng đều vô dụng, con người khổ sở vô thần đó quan tâm đến tiếng tăm của mình hơn tất cả những nhức nhối về sự ăn năn. Sau cùng, vị này công bố lời thánh hiến, ngay lập tức, đầy tớ Chúa đã cảm thấy một trận động đất làm lay chuyển bầu trời, địa cầu, và cả hỏa ngục. Vị nữ tu thấy các thiên thần quanh bàn thờ khóc ròng, mẹ thánh khóc thảm thiết hơn vì các chết, và sự mất mát người con trinh trong, vô tội. Sau cơn xuất thần quá khủng khiếp và ghê sợ này, đầy tớ Chúa bị choán ngợp bởi sự sợ hãi và buồn rầu đến độ không làm gì được hơn là chỉ khóc ròng. Tác giả của đời sống nữ tu này ghi nhận rằng đó chính là cùng năm với trận động đất xẩy ra gây tàn phá lớn lao cho thành Naples và vùng phụ cận. Từ đó, chúng ta có thể suy luận rằng cuộc động đất này là một hình phạt đối với một thánh lễ phạm thánh mà Nữ Tu Maria đã tham dự.
Thánh Augustinô than lên, còn sự bất kính ghê tởm nào ta có thể tưởng tượng hơn cái lưỡi đã kêu gọi Con Thiên Chúa từ trời xuống, cùng lúc đã được sử dụng để lăng nhục oai nghiêm của ngài? Hoặc những đôi tay đã được thanh tẩy bằng máu Chúa Giêsu Kitô, cùng lúc lại làm cho nhơ bẩn với máu của tội lỗi. Đối với linh mục phạm sự thánh, Thánh Bênađô nói: Ôi! Kẻ hàn hạ bất xứng! Nếu ngươi muốn phạm cái tội lớn lao của việc cử hành Thánh lễ trong tình trạng tội lỗi, ít nhất ngươi cũng phải tìm ra cho được một cái lưỡi khác, và đừng dùng cái đã được rửa trong máu Đức Giêsu Kitô; kiếm cho được đôi tay khác với đôi tay ngươi đã giơ ra để động chạm tới thánh thể của ngài. Ôi! Những linh mục muốn sống trong sự thù hận với Thiên Chúa ít nhất hãy ngưng việc dâng thánh lễ cách phạm sự thánh trên bàn thờ ngài! Nhưng Thánh Bônaventura nói: Không! Nó sẽ vì bổng lộc mà nó lãnh nhận sẽ tiếp tục phạm cái tội ghê sợ lớn lao ấy.
Dĩ nhiên, nó hy vọng rằng Thánh Thể Chúa Giêsu Kitô mà nó dâng lên trong thánh lễ sẽ giải thoát nó khỏi tội l&#