NGÔI NHÀ THÁNH TÍCH: NHÀ THÁNH TẠI LORETO

nttTừ thế kỷ XV, và rất có thể sớm hơn nữa, Nhà Thánh Loreto đã được kể vào số những đền thánh quan trọng nhất của nước Ý. Kiến trúc nhỏ bé ấy được tin là ngôi nhà nơi Đức Trinh Nữ Maria đã lưu ngụ tại Nazareth, hiện được bao bọc trong lớp cẩm thạch điêu khắc mỹ thuật và đứng trong một vương cung thánh đường, qua bao thế kỷ đã lôi cuốn nhiều thánh nhân và nhiều giáo hoàng cũng như các tín hữu hành hương từ khắp nơi trên thế giới tìm đến kính viếng.
Câu truyện Nhà Thánh bắt đầu từ khoảng năm 330, thời kỳ thánh nữ Helena ân cần cẩn giữ những nơi nhờ sự hiện diện của Chúa Giêsu và Mẹ Thánh Người mà trở thành linh địa. Để bảo quản ngôi nhà của Đức Mẹ Rất Thánh tại Nazareth, thánh nữ Helena đã cho xây một thánh đường bao quanh; và chiếc hang kế cận nằm gọn trong gian hầm của thánh đường ấy.
Thánh Epifanio (315-403) là người đầu tiên đã đề cập đến Nhà Thánh; còn tác giả Arculfo, vào năm 670, đã minh chứng Nhà Thánh hiện hữu và dường như được bao bọc trong một thánh đường tọa lạc gần trung tâm Nazareth; và điều này, năm 770, đã nhận được sự đồng tình của thánh Bêđa tiến sĩ, cũng như thánh Willibaldo (700-781).
Theo lời tác giả Godfrey Beaulieu, văn sĩ viết tiểu sử vua thánh Louis của nước Pháp, chúng ta biết ông đã chứng kiến vua thánh đi kính viếng Nhà Thánh năm 1251, khi ấy được lưu giữ tại gian hầm của ngôi thánh đường ở Nazareth. Vì vậy, hình ảnh vua thánh Louis cũng được vẽ trên một trong những bức tường của Nhà Thánh.
Năm 1291, trong thời kỳ người Hồi Giáo đe dọa Thánh Điạ, Nhà Thánh bỗng nhiên biến khỏi Nazareth vào đêm mùng 10 tháng 5; và rồi được phát hiện tại thị trấn Tersatto, nước Ý, cách biên giới phía nam của nước Nam Tư cũ khoảng 60 dặm (96 km). Trước sự ngỡ ngàng của dân chúng địa phương, một ngôi nhà thờ nhỏ bé với chiếc tháp chuông bỗng nhiên xuất hiện trên khu đất mới hôm trước còn trống trơn. Có người đã xem xét và thấy các bức tường có độ dầy 16 inches (40,6 cm), được làm bằng một thứ đá màu đo đỏ. Mái gỗ được sơn màu xanh dương và tô điểm bằng những ngôi sao vàng. Ngôi nhà dài 31,25 bộ (9,52 mét), rộng 13,33 bộ (4,06 mét) và cao 28 bộ (8,53 mét); chỉ có một cửa ra vào duy nhất ở mặt bắc và một cửa sổ ở mặt tây. Cửa ra vào chỉ cao hơn 7 bộ (2,13 mét) và rộng chừng 4,5 bộ (1,37 mét). Trong nhà có những chiếc bình đất, một bàn thờ đá, một thánh giá gỗ với hàng chữ “Jesus Nazarenus Rex Judaeorum,” và một bức tượng Đức Trinh Nữ Maria bồng Chúa Con bằng gỗ tuyết tùng, hai Mẹ Con đều bận áo chùng và đội triều thiên vàng.
Linh mục Alexander Gergevich, quản nhiệm nhà thờ Thánh George ở gần đó, cũng hoang mang không kém gì dân chúng và lo lắng bị ma quỉ lừa dối. Tài liệu ghi rằng trong khi linh mục ấy cầu xin ơn soi sáng, Đức Mẹ đã hiện đến và chữa lành ngay cho ngài một chứng bệnh đã hành khổ nhiều năm.
ttlNhà Thánh lưu lại Tersatto ba năm và rồi biến đi cũng đột ngột giống như khi xuất hiện. Để bù đắp cho sự tổn thiệt ấy, công tước Nicholas Fragipani đã xây cho họ một nguyện đường nhỏ theo đúng mô hình của Nhà Thánh và cho đặt một bia đá có hàng chữ:
“Ngôi Nhà của Đức Trinh Nữ từ Nazareth đã đến Tersatto ngày 10 tháng 5 năm 1291 và rời khỏi ngày 10 tháng 12 năm 1294”.
Giữa đêm mùng 10 tháng 12 năm 1294, khi đang canh thức coi giữ đoàn vật ở một khu vực gần miền Recanati, nước Ý, các mục đồng phát hiện một ngôi nhà như thể bay ngang qua biển, và họ nhìn thấy nó đáp xuống cách đó chừng bốn dặm (6,4 km). Căn cứ vào nội thất, dân làng lập tức xác định ngôi nhà ấy trước kia đã từng được sử dụng như một nhà thờ. Hàng ngàn người lũ lượt kéo đến để thỏa mãn hiếu kỳ, nhưng khi có những băng cướp ngăn chặn gây khó dễ, ngôi nhà đã được chuyển sang một ngọn đồi gần đó một cách rất lạ lùng. Ngôi nhà lưu lại đó một thời gian rất ngắn trước khi chuyển đi trong năm ấy để đến vị trí cuối cùng, cũng là vị trí hiện nay, là Loreto, và đáp xuống một nửa trên đường, một nửa dưới ruộng. Một ẩn sĩ sống trên triền núi Urso, tên là Paul Khu Rừng, đã thị kiến và được Đức Trinh Nữ cho biết đó chính là Nhà Thánh và tỏ cho biết lịch sử của nó.
Trên lộ trình xưa nay vẫn được tin Nhà Thánh đã từng đi qua, dọc bờ biển phía đông, hiện thời người ta vẫn giữ một tập tục đã có từ nhiều thế kỷ: kéo những hồi chuông linh thiêng và đốt pháo hoa vào đêm mùng 10 tháng 12 để ghi nhớ chuyến hành trình và thắp sáng con đường của các thiên thần.
Sau khi đến Loreto được 16 năm, Nhà Thánh đã có được sự công nhận đầu tiên của Đức Giáo Hoàng. Qua một bửu sắc ban hành năm 1310, Đức Clement V đã công nhận và ban nhiều đặc chuẩn cho các tín hữu hành hương người Đức đến khấn hứa tại đền thánh.
Theo các tài liệu tại văn khố giáo phận Recanati, phần nội thất của Nhà Thánh đã được mô tả trong một hồ sơ pháp lý năm 1315 chống lại những phần tử đảng Ghibelline đã vào Nhà Thánh đánh cắp các đồ trang trí và các đồ dâng cúng của các tín hữu. Hồ sơ công cộng này đã đề cập đến chiếc bàn thờ bằng đá và mô tả bức tượng Đức Trinh Nữ bồng Chúa Con, và qua đó, minh chứng vào thời điểm 20 năm sau khi Nhà Thánh dời đến Loreto, đền thánh ở đó đã được nới rộng.
Theo lời mô tả trong các tài liệu pháp lý trên, bức tượng được làm bằng gỗ, màu nâu, và là một phần trong những hành trình mầu nhiệm của Nhà Thánh. Bức tượng có chiều cao 2 bộ 4 inches (66,04 cm), Đức Mẹ bồng Chúa Con trong lòng, một tay Chúa giơ lên ban phép lành, tay kia cầm quả địa cầu. Năm 1797, quân đội Napoleon xâm chiếm miền đất ấy và cướp đi những kho báu của Nhà Thánh, và sau cùng, đã đưa bức tượng về viện bảo tàng Lourve. Nhờ sự vận động của Đức Thánh Cha, bức tượng mới được trả về đền thánh vào năm 1801. Tuy nhiên, bức tượng nguyên thủy này đã bị cháy trong cuộc hỏa hoạn đêm 23 tháng 2 năm 1921. Người ta đã đặt làm một bức tượng mới bằng gỗ tuyết tùng Libăng, giống hệt bức tượng đã bị cháy, và bức tượng này đã được Đức Pius XI đội triều thiên tại nguyện đường Sistine.
Vì lo sợ nhà thờ nhỏ bé không có chân móng có thể sụp đổ hoặc bị những sự cố thiên nhiên tác động, và trước sự tôn kính của mọi người, nên vào năm 1295, dân chúng miền Recanati gần đó đã xây dựng một bức tường bảo vệ chung quanh. Khi công trình hoàn thành, người ta phát hiện những bức tường gạch mới được xây ấy đã tách rời khỏi những bức tường nguyên thủy một cách mầu nhiệm.
Ngôi nhà nhỏ cùng với cung thánh đứng bên trong phần bao quanh bằng gạch cho đến năm 1468, khi một ngôi vương cung thánh đường đồ sộ được khởi công. Khi cung thánh được ngôi vương cung thánh đường bảo vệ, thì ngôi nhà nhỏ, vào năm 1525, theo lệnh Đức Clement VII, đã được đặt vào bên trong phần bọc bằng cẩm thạch trắng. Phần bọc ấy được chừng 30 nghệ nhân gia công, gồm nhiều bức phù điêu, thể hiện những phông cảnh phong phú lấy từ cuộc đời Đức Mẹ và việc chuyển dời ngôi nhà, hình ảnh các ngôn sứ thời xưa cũng được trình bày xen kẽ giữa các bức nối. Đức Clement VII còn tạo điều kiện dễ dàng cho các tín hữu hành hương bằng cách cho đóng cửa ra vào duy nhất, nhưng cho trổ ba cửa khác.
Vì có rất nhiều phép lạ được thực hiện tại Nhà Thánh, nên ngay từ đầu, công việc lưu giữ các hồ sơ hóa ra rất vất vả và mất nhiều thời giờ, và do đó, đã bị gián đoạn. Tương tự, con số chính xác các tín hữu đến hành hương cũng không thể đếm nổi. Tuy nhiên, theo phỏng đoán, đã có trên 200 nhân vật được tôn phong hiển thánh, chân phúc, hoặc đáng kính đã từng đến kính viếng Nhà Thánh, trong số đó có thánh Francis Cabrini, thánh Alphonsus Liguori, thánh Charles Borromeo, thánh Phanxicô de Sales, thánh Ignatius Loyola. Thánh nữ Thérèse Hài Đồng Giêsu đã tả lại cuộc kính viếng của ngài trong quyển Tự Thuật. Thánh nữ viết rằng, “Cảm xúc của con thật sâu lắng khi thấy mình được ở dưới mái nhà của Thánh Gia, nhìn ngắm những bức tường mà ánh mắt thánh thiện của Chúa Giêsu cũng đã từng ngắm nhìn.” Thánh nữ Tiến Sĩ dường như đã cho chúng ta hiểu nguyên nhân vì sao ngôi nhà nhỏ bé ấy đã được bảo tồn một cách mầu nhiệm như vậy, “Chúa Giêsu vui lòng cho chúng ta nhìn thấy ngôi nhà của Người để làm cho chúng ta mộ mến đức khó nghèo và cuộc đời ẩn khuất.”
Kể từ văn kiện công nhận đầu tiên được ban hành vào năm 1310 của Đức Clement V đến nay, đã có khoảng 47 vị giáo hoàng đã chuẩn nhận Nhà Thánh bằng việc dâng tiến hiến vật, ban các đặc ân, đặc chuẩn và ân xá, hoặc qua các bửu sắc, các văn kiện trang trọng hoặc thông thường. Có đến 13 vị giáo hoàng đã từng kính viếng đền thánh Loreto, kể cả chân phúc Gioan XXIII, người đã tông du đến đền thánh vào mùng 4 tháng 10 năm 1962, một tuần trước dịp khai mạc thánh công đồng chung Vatican II, để cầu nguyện cho công đồng được kết quả. Một vị giáo hoàng khác là Đức Gioan Phaolô II cũng đã đến kính viếng đền thánh vào dịp lễ Sinh Nhật Đức Mẹ, mùng 8 tháng 9 năm 1979, trước khi thực hiện chuyến tông du lịch sử đến Ái nhĩ lan và Hoa kỳ. Đức Gioan Phaolô II đã tuyên bố, “Mọi mái nhà, trước tiên, đều là đền thánh của người mẹ.” Ngài còn thêm rằng đền thánh này là “… mái nhà của mọi người và từng người.” Trong diễn từ của mình, Đức Gioan Phaolô II còn nhận định Nhà Thánh là “… đền thánh trước tiên, là nhà thờ thứ nhất, nơi chiếu tỏa ánh sáng mẫu tính của Mẹ Thiên Chúa.”
Từ năm 1296, một số cuộc giám định chính thức liên quan đến tính xác thực của Nhà Thánh đã được tiến hành. Khi ấy, một phái đoàn gồm 16 thành viên có tài năng và uy tín đã được giáo quyền các cấp đề cử. Sau khi đến Thánh Địa để xem xét vị trí tọa lạc ban đầu của Nhà Thánh, phái đoàn kết luận rằng Nhà Thánh đã được làm theo kiểu nhà một phòng rất phổ biến thời Chúa Kitô, và dựa theo những kích thước đích xác và những đặc điểm khác, thì ngôi nhà ấy thực sự có nguồn gốc từ Nazareth,” … một lời xác quyết đã được củng cố bằng vô số các phép lạ.”
Một cuộc giám định khác đã được thực hiện vào thời gian từ năm 1524 đến năm 1534. Đức Clement VII cử ba vị giám chức sang Tersatto để xem xét ngôi nhà đã được xây tại nơi trước kia Nhà Thánh đã có một thời gian dừng tạm. Các kích thước ấy trùng khớp với các kích thước của Nhà Thánh Loreto. Tại Nazareth, chân móng nơi Nhà Thánh đã tọa lạc từ ban đầu cũng được xem xét và thấy hoàn toàn giống như những kích thước của ngôi nhà thánh. Rất lâu sau đó, một cuộc điều nghiên khác đã được tiến hành và cho thấy đá và vữa của Nhà Thánh không phải là loại thường được biết đến ở Loreto, nhưng lại rất phổ biến và hoàn toàn giống về mặt hóa học với những vật liệu xây dựng tại Nazareth.
Sau trận hỏa hoạn phá hủy bức tượng nguyên thủy vào năm 1921, một cuộc giám định khác đã được xúc tiến. Các phát hiện kỹ thuật được thực hiện trong cuộc giám định khảo cổ tháng 4 năm 1921 và tháng 7 năm 1922 đã được đúc kết trong bức thư của kiến trúc sư F. Mannucci gửi cho đức giám mục giáo phận Recanati. Trong bức thư ấy, kiến trúc sư đã viết:
ttg“Việc xây những bức tường ấy nhất thiết đòi phải có một chân móng để đảm bảo sức chống đỡ vững chắc, hay ít ra phải có một nền đất được sửa dọn với những lớp đất nền. Ngược lại, những bức tường Nhà Thánh chẳng hề có chân móng nào cả, còn nền đất bên dưới, vốn là một thứ đất tơi và bột, lại cũng không có một chuẩn bị nào hết. Ở một vài chỗ, những bức tường lại hoàn toàn hổng chân với nền đất bên dưới. Vì thế, ta có thể kết luận chắc chắn rằng Nhà Thánh đã không được xây dựng tại địa điểm hiện thời…. Cách thức các bức tường được xây theo những hàng ngang và nối kết bằng một thứ vữa hảo hạng cho thấy rõ ràng các bức tường ấy đã được những bàn tay tài khéo xây dựng, và có lẽ sẽ thiếu thực tế nếu như tin rằng, nếu như chúng đã được xây tại vị trí ấy, thì người vẽ kiểu hoặc giám sát công trình lại không lưu tâm đến đặc tính của loại đất ở đó đến độ bỏ qua qui luật cơ bản nhất trong việc xây dựng trên nền đất bột…. Vì thế, ắt hẳn ngôi nhà đã được chuyển dời đến.
Thật là một điều ngạc nhiên và khác thường, vì Nhà Thánh, mặc dù không có chân móng và đứng trên nền đất tơi, không vững, một phần lại phải chịu sức nặng quá đáng của mái vòm được làm thay vì mái nhà, nhưng vẫn đứng vững vàng, không thấy có một dấu trĩu oằn hoặc một dấu hư hại nào, dù nhỏ nhất, đối với các bức tường”.
Mới đây, sau nhiều năm chuẩn bị và điều nghiên, một công trình khảo cổ đã được khởi sự vào chiều tối ngày 7 tháng 5 năm 1962. Với sự chấp thuận của Đức Thánh Cha, công trình đã được một nhóm các nhà khảo cổ, kỹ sư và chức sắc Giáo Hội thực hiện một cách kín đáo suốt ba năm trời, cho đến ngày 29 tháng 6 năm 1965. Việc đào xới và nghiên cứu lớp đất đá bên dưới đã được tiến hành vào những giờ khá muộn, sau tám giờ tối, khi vương cung thánh đường đã khóa cửa, không cho du khách vào kính viếng. Nhờ công trình ấy, ngày nay phía dưới Nhà Thánh vẫn còn một “hiện trường khảo cổ,” với một hệ thống đường hầm giúp các học giả có thể tham quan một cách tuyệt đối an toàn.
Kết quả công trình nghiên cứu ấy đã được đăng tải trên nhiều tập san chuyên đề và trong quyển Contributi Archeologici Per La Storia Della Santa Casa Di Loreto, gồm những biểu đồ, bản thảo, bản đồ, hình ảnh cùng các thông tin liên quan đến những khía cạnh sơ thời của các lăng mộ, những cuộc chuyển dời và phục chế của kiến trúc ấy. Công trình nghiên cứu chi tiết ấy hoàn toàn phù hợp với các điều truyền tụng về Nhà Thánh Loreto, và cho thấy Nhà Thánh đứng vững mà không hề có chân móng, với bốn lớp tường: lớp thứ nhất là bức tường thực sự của Nhà Thánh; lớp thứ hai là bức tường gạch do dân chúng Recanati xây, không tiếp chạm đến Nhà Thánh; lớp thứ ba là bức đỡ cho lớp cẩm thạch; và lớp cuối cùng là chính lớp cẩm thạch. Phần nền đã được thực hiện nhiều lần. Phần nền hiện nay đã được làm vào năm 1939.
Các nhà khảo cổ đã có những phát hiện kỳ thú, chẳng hạn những đồng tiền của Cộng Hòa Ancona thế kỷ XIV trong một cái khe trên bức tường Recanati và nhiều đồng tiền tương tự đã được tìm thấy dưới chiếc bàn thờ bằng đá. Ngoài ra, bên dưới nền nhà khoảng 2,2 mét, người ta cũng tìm thấy những bia mộ thời đế quốc La mã.
Nhà Thánh đứng bên dưới mái vòm của vương cung thánh đường đã khiến Đức Pius XI phải kêu lên, “Trong mọi đền thánh được cung hiến Mẹ Thiên Chúa, đền thánh trước nhất rạng ngời ánh quang khôn sánh chính là Nhà Thánh Loreto.” Ngài còn nói, “Có rất nhiều lý do tốt lành để tin nhận tính xác thực của Nhà Thánh, trong khi không có một lý do xác đáng nào để chối bỏ.”
Nhiều vị giáo hoàng đã biểu lộ lòng sùng mộ đặc biệt đối với Đức Mẹ Loreto và hậu thuẫn tính xác thực của ngôi nhà nhỏ bé của Đức Mẹ; còn các tín hữu hành hương - nhờ tấm biển đặt nơi lối vào - được cảnh báo về tính cách linh thánh của nơi họ sắp vào kính viếng, “Hỡi tất cả những ai bước vào nơi đây, hãy run sợ, vì đây là nơi linh thánh nhất trên trần gian.”

Joan Carroll Cruz