|
|
Chuyên đề số 11 Ngày 09.11.2006
“Một phần đất của nhu cầu rộng lớn”
Huấn từ Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI
Dịp Hội Nghi Giáo Hội Toàn Quốc Ý ngày 19 tháng 10 năm 2006.
Trần Mỹ Duyệt chuyển ngữ(Toàn văn Huấn Từ)
Nội dung:
Chúa Phục Sinh: Trung tâm của đời sống
Phục Vụ của Giáo Hội Ý
Tỏ cho thấy sự “có mặt” của Đức Tin
Con người nhân bản: Lý trí, thông minh và tình yêu
Giáo dục
Chứng từ của Bác ái
Trách nhiệm dân sự và chính trị của người Công Giáo
Hiệp nhất với Đức KitôAnh chị em thân mến,
Tôi vui mừng có mặt ở đây với anh chị em tại thành phốn thơ mộng và lịch sử Verona này, để tham dự Hội Nghị Toàn Quốc Lần Thứ 4 của Giáo Hội Ý. Tôi gửi tới toàn thể quí anh chị em và từng người lời chào mừng của tôi trong Chúa.
Tôi cám ơn Hồng Y Camillo Ruini, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục, và Bác sĩ Gioavanna Ghirlanda, đại diện của Giáo Phận Verona, về những lời chúc mừng chân thành mà các vị đã gửi đến tôi nhân danh toàn thể anh chị em, và về việc tóm lược tiến trình của Đại Hội.
Tôi cám ơn Hồng Y Dionigi Tettamanzi, Chủ Tịch Ủy Ban Chuẩn Bị, và tất cả mọi người đã làm việc cho biến cố đáng ghi nhớ này. Với tất cả tâm tình, tôi xin cám ơn từng anh chị em hiện diện nơi đây, trong sự hiệp thông vui mừng, gồm nhiều thành phần khác nhau của Giáo Hội Ý: Giám Mục Flavio Roberto Carraro của Verona, vị đã tiếp đón chúng ta; các giám mục hiện diện, các linh mục và phó tế, các tu sĩ nam nữ, và các anh chị em nam nữ giáo dân, những người đã nói lên nhiều thực trạng của người Công Giáo Ý.
Đệ Tứ Hội Nghị Toàn Quốc là một bước mới mẻ trên con đường ứng dụng những hướng dẫn của Công Đồng Vatican II, mà Giáo Hội Ý đã thực hiện từ nhiều năm ngay sau Công Đồng vỹ đại này.
Trước hết, nó là con đường hiệp thông với Thiên Chúa Cha và với Chúa Giêsu Kitô Con Ngài trong Chúa Thánh Thần, và từ đó hiệp thông với chúng ta trong sự hiệp nhất trong một Thân Mình của Đức Kitô (cf 1 Jn 1:3; 1 Cor 12:12-13). Nó là con đường trực tiếp dẫn đến việc phúc âm hóa, để giữ cho đức tin sống động và mạnh mẽ nơi dân tộc Ý. Vì thế, nó là một chứng từ vững vàng của tình yêu đối với nước Ý và trăn trở sống động cho sự thiện hảo của người dân.
Cuộc lữ hành này của Giáo Hội tại Ý đã đi trong sự hiệp thông bền chặt và mật thiết với Đấng kế vị Thánh Phêrô: Tôi vui mừng nhắc lại với anh chị em Đầy Tớ Chúa, Giáo Hoàng Phaolô VI, đấng đã triệu tập Đệ Nhất Hội Nghị vào năm 1976, và Đức Gioan Phaolô II, do những đóng góp mạnh mẽ của ngài mà tất cả chúng ta khi nhớ lại tại Hội Nghị ở Loreto và Palermo, đã làm vững mạnh niềm tự tin của Giáo Hội Ý để hành động, nhờ đó việc tin vào Chúa Giêsu Kitô tiếp tục trao ban, cũng như đối với những người nam và nữ của thời đại chúng ta, ý thức và nhận định sự hiện hữu của con người và nhờ đó đã có một “mẫu mực hướng dẫn và một sức mạnh ảnh hưởng thu hút” trên cuộc hành trình của dân tộc tiến về tương lai mình (cf. Discourse at the Meeting with the Italian Church in Loreto, 11 April 1985; L’Osservatore Romano English edition, 6 May, p.5).
Chúa Phục Sinh: Trung tâm của đời sống
Với cùng một tinh thần ấy, hôm nay tôi có mặt tại Verona để cầu nguyện với Thiên Chúa cùng với anh chị em, để chia sẻ, mặc dù một cách giới hạn, công việc của anh chị em trong những ngày này, và để đưa ra điều tôi suy nghĩ với anh chị em về những gì coi như quan trọng nhất đối với sự hiện diện Kitô Giáo trên nước Ý.
Anh chị em đã có một quyết định sáng suốt, đặt Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh làm trung tâm của Hội Nghị, và của tất cả đời sống và chứng nhân của Giáo Hội tại Ý. Sự Phục Sinh của Chúa Kitô là một sự kiện đã xẩy ra trong lịch sử, mà các Tông Đồ là những người chứng nhân, và một cách hiển nhiên không phải là những người đã khám phá ra nó. Cùng một lúc, nó không đơn thuần là một sự trở lại của đời sống trái đất của chúng ta. Thay vào đó, nó là một “biến đổi” phi thường nhất mà chưa bao giờ xẩy ra, một “bước nhẩy” quyết định tới một chiều kích mới một cách thâm thúy của đời sống, bước vào trong một trật tự khác một cách cương quyết mà trên tất cả liên quan đến Đức Giêsu Nagiareth, với ngài cả chúng ta nữa, toàn thể gia đình nhân loại, lịch sử và toàn vũ trụ.
Đây là điều tại sao Sự Phục Sinh của Chúa Kitô là tâm điểm của lời giảng dậy và chứng từ Kitô Giáo từ khởi đầu và cho đến tận cùng thời gian. Thật vậy, nó là một mầu nhiệm cao cả, mầu nhiệm của sự cứu độ của chúng ta, mà nó tìm thấy sự kiện toàn của nó trong Sự Phục Sinh của Ngôi Lời Nhập Thể, và cả hai tiên hưởng và bảo đảm niềm hy vọng của chúng ta. Nhưng dấu chứng của mầu nhiệm này là tình yêu, và chỉ trong lý lẽ của tình yêu mới có thể đem lại gần và một cách nào đó thấu iểu được: Đức Giêsu Kitô chỗi dậy từ cõi chết, bởi vì toàn thể con người của ngài đã hiệp nhất một cách tuyệt vời và một cách mật thiết với Thiên Chúa Đấng là tình yêu, là điều mạnh mẽ hơn cả sự chết.
Ngài đã là một với Đời Sống không thể phá hủy và vì thế ngài có thể cho đi chính sự sống mình, để mình bị giết đi, nhưng ngài đã không thua cái chết một cách chung cuộc: tại Bữa Tiệc Ly người đã một cách cụ thể biết trước và chấp nhận do tình yêu của người cái chết trên Thập Giá, nhờ đó chuyển hóa nó thành một tặng vật của chính ngài, qua tặng vật này ban cho chúng ta sự sống, tự do và ơn cứu độ.
Sự Phục Sinh của ngài, vì thế, cũng giống như sự bột phát của ánh sáng, bột phát của tình yêu đã làm tan chảy những xích xiềng tội lỗi và sự chết. Nó đã khai mở một chiều kích mới của sự sống và một thực tại mới, từ đó phát sinh một thế giới mới, một cách tiếp tục đi sâu vào thế giới của chúng ta, biến đổi nó và đem nó lại với chính ngài.
Tất cả những điều này xẩy ra một cách cụ thể xuyên qua đời sống và chứng từ của Giáo Hội; hơn thế nữa, chính Giáo Hội tạo nên những hoa trái đầu mùa của sự biến đổi này là công việc của Thiên Chúa chứ không phải của chúng ta. Qua đức tin và Phép Thánh Tẩy, mà sự chết và phục sinh, tái sinh, biến đổi thành một đời sống mới. Nó là những gì mà Thánh Phaolô đã đề cập đến trong Thư ngài gửi cho tín hữu Galata: “Tôi không sống nữa, nhưng Đức Kitô sống trong tôi” (2:20). Từ đó, căn tính cốt yếu của đời sống tôi được thay đổi nhờ Bí Tích Thánh Tẩy, và tôi tiếp tục hiện hữu chỉ trong tình trạng đổi mới này.
Con người tự nhiên của tôi được lấy đi và tôi được tràn đầy với một chủ thể trong đó cái “tôi” của tôi vẫn còn những đã được biến đổi, thanh luyện, “bắt đầu” nhờ việc tháp nhập vào một chủ thế Khác, người chiếm hữu một chỗ mới trong sự hiện hữu của tôi. Vì thế, chúng ta trở nên “một trong Đức Kitô” (Gal 3:28), một chủ thể mới cá biệt, và “cái tôi” của chúng ta được giải thoát khỏi sự cách ngăn của nó.
“Tôi, nhưng không phải là tôi”: đây là một mô thức của sự hiện diện Kitô Giáo được thiết lập trong Phép Thánh Tẩy, mô thức của việc phục sinh trong thời gian, mô thức của Kitô hữu “mới” được kêu gọi để biến đổi thế giới.
Ở đây mang sẵn miềm vui Phục Sinh của chúng ta. Ơn gọi của chúng ta và nhiệm vụ Kitô hữu chúng ta được hợp tác để vươn tới sự viễn mãn trọn vẹn trong thực tại hằng ngày của cuộc sống chúng ta những gì Chúa Thánh Thần đã hoàn thành trong chúng ta qua Bí Tích Thánh Tẩy. Thật ra, chúng ta được kêu gọi để trở nên những người nam nữ mới, để có thể trở thành những chứng nhân của Đấng Đã Phục Sinh và vì thế, trở thành những người mang niềm vui và hy vọng Kitô Giáo trong thế giới, một cách cụ thể trong cộng đồng của những người nam và nữ trong nơi chúng ta sống.
Phục Vụ của Giáo Hội Ý
Vì thế, từ thông điệp nền tảng này của Sự Phục Sinh hiện diện trong chúng ta và trong công việc thường ngày của chúng ta, tôi đi tới chủ đề phục vụ của Giáo Hội Ý đối với quốc gia, Âu Châu và thế giới.
Nước Ý ngày nay giới thiệu nó cho chúng ta như là một phần đất của những nhu cầu rộng lớn, và cùng lúc một nơi thích hợp cho một chứng từ như vậy.
Nó là một nhu cầu lớn lao, bởi vì tham dự vào một nền văn hóa chiếm ưu thế ở Tây Phương và kiếm tìm để giới thiệu chính nó như một phần đất phổ quát và tự mình đầy đủ, phát sinh một tục lệ mới của đời sống. Từ đó một làn sóng mới của những nguyên tắc và luật lệ ngược lại với giáo sỹ và những ảnh hưởng luật pháp trên người tín hữu xuất hiện, qua đó, chỉ duy những gì là khảo sát và đo đếm được mới có giá trị một cách hợp lý, trong khi ở mức độ của thực hành, tự do cá nhân được coi như giá trị căn bản ở đó mọi thứ khác phải tuân phục.
Vì thế, Thiên Chúa tồn đã bị loại ra khỏi văn hóa và đời sống chung, và niềm tin vào ngài trở nên khó khăn hơn. Cũng bởi vì chúng ta sống trong một thế giói mà luôn luôn hiện như là sảm phẩm của chúng ta, trong đó, có thể nói Thiên Chúa không còn xuất hiện trực tiếp nhưng dường như trở thành dư thừa, ngay cả không còn chỗ đứng nữa.
Trong sự liên kết chặt chẽ với tất cả những thứ này, đem đến việc giảm bớt căn rễ của con người, được coi như một sản phẩm đơn thuần của tự nhiên và như vậy không hoàn toàn tự do, và ngay chính con người khả dĩ được đối xử giống như bất cứ một con vật khác. Vì thế, đã đến lúc cho một cuộc lật ngược chính đáng khởi sự cho việc ra đi của nền văn hóa này, được bắt đầu như một đòi hỏi của phẩm giá và tự do của con người.
Cũng như thế, đạo đức đã được xem lẫn giữa biên giới của lý thuyết tương đối và hữu dụng, với việc khai trừ mọi nguyên tắc luân lý được coi là giá trị và trong sự nối kết với những nguyên tắc đó.
Không khó khăn gì để nhìn thấy loại văn hóa này đem lại một sự đổ vỡ trầm trọng và tận gốc rễ như thế nào không chỉ với Kitô Giáo, nhưng hơn nữa một cách tổng quát, với các tôn giáo và những truyền thống luân lý của nhân loại. Do đó, không có thể xây dựng một cuộc đối thoại giá trị với những nền văn hóa khác, trong đó chiều kích tôn giáo được giới thiệu một cách mạnh mẽ, ngoài ra không có thể đáp ứng những câu hỏi căn bản về ý thức và hướng đi của cuộc sống chúng ta.
Vì vậy, nền văn hóa này đã chỉ được đánh dấu bằng một tình trạng thiếu thốn trầm trọng, nhưng còn bằng nhu cầu lớn lao và nghèo nàn bị che dấu của hy vọng.
Tuy nhiên, như tôi đã đề cập, nước Ý ở vào cùng thời điểm cấu tạo một mảnh đất thuận lợi cho chứng nhân Kitô Giáo. Ở đây, thực ra, Giáo Hội là một thực tại sống động – và chúng ta nhìn thấy điều này - , nó chứng tỏ được sự hiện diện nhỏ bé giữa dân tộc, giữa mọi lứa tuổi và mọi trình độ.
Những truyền thống Kitô Giáo thường xuyên tiếp tục được bắt rễ và trỗ sinh hoa trái, trong khi một nỗ lực lớn lao của việc truyền bá phúc âm và giảng dậy giáo lý đang hoạt động, đã giải thích một cách đặc biệt cho những thế hệ mới, nhưng giờ đây còn nhiều hơn nữa cho các gia đình. Ngoài ra, sự kém cỏi về việc xử dụng lý trí gia tăng rõ rệt đã tự mình đóng kín, và trên một nền đạo đức cá nhân quá đáng bị xụp đổ: trong thực hành, mối nguy cơ trầm trọng đã được nhận thấy của việc tự tách rời khỏi gốc rễ Kitô Giáo của xã hội chúng ta.
Cảm giác này, đã tràn lan trong dân chúng Ý, khuôn mẫu một cách mạnh mẽ và được diễn tả bởi nhiều hình thái văn hóa quan trọng, ngay cả đối với những ai không chia sẻ, hoặc ít nhất không thực hành niềm tin của chúng ta.
Vì vậy, Giáo Hội và những người Công Giáo Ý đã được kêu gọi để đón nhận cơ hội trọng đại này, và trên hết phải nhận thức ra nó. Bởi thế, thái độ của chúng ta không bao giờ được từ chối và tự khép kín. Thay vào đó, chúng ta phải tiếp tục sống động, và nếu thăng tiến một cách có thể, nhiệt tâm của chúng ta, mở rộng một cách tin tưởng tới những mối liên hệ khác, mà không làm phí phạm bất cứ năng lực nào có thể đóng góp vào sự phát triển nền luân lý và văn hóa Ý.
Thật ra, nó tùy thuộc nơi chúng ta, không phải với những nguồn lợi nghèo nàn, nhưng với sức mạnh đến từ Chúa Thánh Thần, để ban cho những đáp trả tích cực và cải đổi đối với những khao khát và những vấn nạn của người dân chúng ta.
Nếu chúng ta có thể làm được như thế, Giáo Hội ở Ý sẽ cung ứng một sự phục vụ lớn lao không những đối với quốc gia này, nhưng còn với Âu Châu và thế giới nữa. Bởi vì cái bẫy sập của tinh thần thế tục xuất hiện khắp mọi nơi và nhu cầu đức tin được sống trong sự liên hệ với những thách đố này của thời đại chúng ta cũng như cho mọi người.
Tỏ cho thấy sự “có mặt” của Đức Tin
Anh chị em thân mến, giờ đây chúng ta phải tự hỏi mình: Làm cách nào, và trên những nền tảng nào, chúng ta có thể hoàn thành trọng trách như thế? Tại Hội Nghị này anh chị em đã có được một cách rõ ràng cần thiết để đưa ra một nội dung cô đọng và có thể thực hành chứng nhân Kitô Giáo, xét nghiệm xem bằng cách nào nó có thể được đem ra thực hành và phát triển trong mỗi một thuộc nhiều lãnh vực lớn lao của kinh nghiệm con người.
Chúng ta vì thế được giúp đỡ để khỏi mất đi dấu hiệu trong hành động mục vụ chúng ta của việc nối kết giữa đức tin và đời sống thường nhật, giữa lời mời gọi Phúc Âm và những lo lắng và nguyện vọng mà mỗi người người vẫn mang trong tâm hồn.
Thế nên, trong những ngày này anh chị em đã phản ảnh về cuộc đời dễ mến và về gia đình, về công ăn việc làm và về những ngày lễ, về giáo dục và văn hóa, về những tình trạng nghèo đói và bệnh tật, về những bổn phận và trách nhiệm của đời sống xã hội và chính trị.
Trên tất cả, tôi muốn nhấn mạnh về phần tôi như thế nào, qua chứng từ muôn hình thức này rằng, tiếng “có” cao cả phải được hòa nhập với Thiên Chúa, mà tiếng đó qua Đức Giêsu Kitô đã nói với con người, với cuộc sống của con người, với tình yêu nhân loại, với sự tự do của chúng ta và với trí thông minh của chúng ta như thế nào, để nhờ đó, niềm tin vào Thiên Chúa với bộ mặt nhân loại mang lại vui mừng cho thế giới.
Thật ra, Kitô Giáo được khai mở cho tất cả mọi nền văn hóa và xã hội, đó là công lý, chân thật và thuần khiết, những thứ làm sung sướng, an ủi, và tăng sức mạnh cho sự hiện hữu của chúng ta. Thánh Phaolô trong thư gửi những tín hữu Philípphê đã viết: “Những gì là chân thật, những gì là khả kính, những gì là công chính, những gì là tinh khiết, những gì là yêu thương, những gì là nhân đức, nếu có gì tuyệt hảo, nếu có gì đáng khen, anh em hãy chú trọng về những việc ấy” (4:8).
Do đó, người môn đệ Chúa Kitô nhận thức và vui mừng đón nhận những giá trị chính đáng của nền văn hóa thuộc thời đại chúng ta, như những hiểu biết khoa học hoặc những kỹ thuật tiến bộ, nhân quyền, tự do tôn giáo, dân chủ. Chúng không lỗi thời hoặc mất giá trị, tuy nhiên, sự mỏng dòn nguy hiểm của tính chất nhân bản này là một đe dọa cho sự tiến bộ của con người trong mọi mốc điểm lịch sử; một cách thực tế, chúng không coi thường những áp lực nội tại và những mâu thuẫn của thời đại chúng ta.
Vì thế, công việc phúc âm hóa không bao giờ là một hội nhập đơn thuần của văn hóa, nhưng nó luôn là một sự thanh luyện, một sự thay đổi can đảm dẫn tới sự chữa lành và trưởng thành, một sự khai mở phát sinh một “cuộc sáng tạo mới” (II Cor 5:17: Gal 6:15) là hoa trái của Chúa Thánh Thần.
Như tôi đã viết trong Thông Điệp “Deus Caristas Est” ngay từ đầu khi có mặt Kitô Giáo – và do đó, bắt đầu chứng từ của chúng ta như những người tin nhận – không có quyết định đạo đức hoặc ý tưởng lớn lao, nhưng là sự gặp gỡ Con Người của Đức Giêsu Kitô, “đem lại cho đời sống một chân trời mới và một hướng đi quyết định” (n.1).
Hoa trái của sự gặp gỡ này cũng hiển nhiên trong một cách thế sáng tạo và đặc biệt trong trạng thái văn hóa và con người thời nay, trên tất cả trong sự liên kết với lý do đã đem lại sinh hoạt của khoa học tiến bộ và những kỹ thuật liên đới. Một đặc tính căn bản của vấn đề sau này là, thực tế là, việc sử dụng có tổ chức của những phương tiện chính xác để cộng tác với thiên nhiên để ứng dụng những năng lực bao la vào việc phục vụ của chúng ta.
Toán học, như thế, chính là sự sáng tạo của trí thông minh của chúng ta: một đối xứng giữa những cấu tạo của nó và những cấu tạo thực của vũ trụ – cũng là tiền hỗ trợ của mọi khám phá tân kỳ và kỹ thuật của khoa học, đã được trình bày qua công thức rõ ràng bởi Galileo Galilei với định luật nổi tiếng mà cuốn sách của thiên nhiên đã được viết bằng ngôn ngữ toán học – khơi lên sự ngưỡng mộ của chúng ta cũng như một câu hỏi lớn lao.
Thật vậy, điều này nói lên rằng vũ trụ tự nó được cấu trúc trong một cách thức khôn ngoan, nhờ thế một sự nối kết rõ ràng xuất hiện giữa lý lẽ chủ quan và khách quan của chúng ta về vũ trụ.
Rồi nó không thể không nêu lên câu hỏi tự mình là nếu phải chăng không có sự khôn ngoan nguyên thủy là nguồn gốc chung cho tất cả.
Vì vậy, một cách rõ ràng phản ảnh của sự tiến bộ về khoa học đem chúng ta đến với đấng sáng tạo Logos. Xu hướng làm nên cái chính cốt nghịch lý thay đổi và cưỡng bức đã bị đổi mới, đồng thời dẫn tới sự hiểu biết của chúng ta và tự do của chúng trở lại với nó. Dựa trên những nền tảng này, một lần nữa trở nên có thể để làm lớn mạnh phạm vi tư duy của chúng ta, để tái khai mở nó cho những câu hỏi về sự thật và sự thiện, để liên kết với thần học, triết học và khoa học trong một sự hiệp nhất sẵn có đã nối buộc chúng lại với nhau.
Đây là nhiệm vụ trước mắt chúng ta, một cuộc mạo hiểu quyến dũ xứng đáng với sự cố gắng của chúng ta, đem lại một lực đẩy mới cho nền văn hóa của chúng ta và khôi phục lại đức tin Kitô Giáo với đầy đủ quyền công dân trong đó.Một “dự án văn hóa” của Giáo Hội tại Ý, với viễn ảnh của dự án này, không còn nghi ngờ gì nữa về một trực giá hạnh phúc và có thể đem lại một đóng góp quan trọng.
Con người nhân bản: Lý trí, thông minh và tình yêu
Mặt khác, con người nhân bản không chỉ là lý trí và thông minh, mặc dù được cấu tạo bởi những yếu tố này. Nó mang trong mình, được ghi khắc trong sâu thẳm của sự hiện hữu nó, nhu cầu tình yêu, được yêu, và để yêu trở lại. Vì thế, nó tự hỏi mình và thường xuyên cảm thấy lạc lõng trong cái đắng đót của cuộc đời, sự dữ có mặt trên thế giới và nó xuất hiện quá mạnh mẽ cùng với sự vô nghĩa một cách căn bản của tri giác.
Một cách đặc biệt trong thời đại của chúng ta, mặc dù mọi nỗ lực được thực hiện, sự dữ vẫn không bị chế ngự. Thật vậy, quyền lực của nó xem chừng được khích lệ, và mọi cám dỗ dấu kín nó mau chóng được phơi bày, như kinh nghiệm sống thường ngày và những biến cố lịch sử lớn lao cả hai đã minh chứng.
Những câu hỏi hiện nay vì thế lập lại: Có thể nào có được một chỗ an toàn cho cuộc đời chúng ta để yêu thương chân tình, và trong một phân tích rốt ráo, thì phải chăng trái đất có thật là một công trình tạo dựng khôn ngoan của Thượng Đế. Ở đây, trên mọi lý lẽ con người, điều mới lạ nghịch lý của mạc khải Thánh Kinh xuất hiện giúp chúng ta: Đấng Tạo Hóa Trời và đất, một Thiên Chúa đấng là nguồn mạch của mọi hiện hữu, Đấng Sáng Tạo duy nhất Logos, lý trí tạo dựng này biết thế nào để yêu thương con người một cách cá biệt, hoặc hơn nữa, yêu nó một cách thiết tha và mong được nó yêu mến lại. Lý trí tạo dựng, đấng cùng lúc yêu, và vì thế trao ban mạng sống đối trong một lịch sử tình yêu với Israel, dân ngài, và trong hành động này, trong cái táo bạo của hành động phản bội của dân ngài, tình yêu ngài tỏ tự nó giầu mạnh trong lòng xót thương và trung thành một cách bền bỉ. Đây là một tình yêu tha thứ vượt trên mọi biên giới.
Trong Chúa Giêsu Kitô, một thái độ như thế vươn tới mức độ vô biên, chưa bao giờ nghe tới và cảm động: trong ngài, thực ra, Thiên Chúa làm cho mình trở nên một trong chúng ta, trở thành anh em của chúng ta trong nhân tính, và hơn thế nữa, hy sinh mạng sống mình cho chúng ta.
Qua cái chết trên Thập Giá, được coi như một sự dữ lớn lao nhất lịch sử, đem lại rằng “việc Thiên Chúa quay mặt lại chính mình đó, mà ngài trao ban chính mình để nâng con người lên và cứu độ nó. Đây là một đặc tính cao cả nhất của tình yêu (“Deus Caritas Est,” n.12), trong đó nó làm sáng tỏ ý nghĩa của “Thiên Chúa là tình yêu” như thế nào (I Jn 4:8), và con người cũng hiểu tình yêu xác thật phải được định nghĩa như thế nào (cf. ibid., nn.9-10,12).
Bởi vì ngài thật sự yêu chúng ta một cách rõ ràng, Thiên Chúa tôn trọng và bảo toàn tự do của chúng ta. Ngài không kể đến sức mạnh của sự dữ và tội lỗi với một quyền lực lớn lao, nhưng – như Giáo Hoàng Đấng Kính Gioan Phaolô II của chúng ta đã nói với chúng ta trong Thông Điệp “Dives in Misericordia” và sau đó trong tác phẩm “Memory and Identity” – Hoài niệm và Căn Tính, chứng từ tinh thần của ngài – ngài ưa thích đặt một giới hạn cho sự nhẫn nại và lòng thương xót ngài, cái giới hạn đó, thực ra, là sự đau khổ của Con Thiên Chúa. Trong cách thức này đau khổ của chúng ta cũng được biến đổi từ bên trong, xuất hiện trong chiều kích của yêu thương và mang một lời hứa của ơn cứu rỗi.
Anh chị em thân mến, tất cả những gì vị Giáo Hoàng Gioan Phaolô II không những không nghĩ tới và ngay cả không tin tưởng với một đức tin trừu tượng: ngài đã hiểu rõ nó và tin tưởng nó với một đức tin được đo lường chứng trong đau khổ. Trên con đường này, như Giáo Hội, chúng ta được kêu gọi để theo chân ngài, trong đường lối và cách thức đo lường mà Thiên Chúa đã sắp đặt cho mỗi người trong chúng ta.
Đúng ra mà nói, Thập Giá gây cho chúng ta sự sợ hãi, như nó đã gây ra sự sợ hãi và thống khổ trong Chúa Giêsu Kitô (cf. Mk 14:33-36); nhưng nó không hẳn là điều tiêu cực của cuộc đời, mà để có được đời sống hạnh phúc, cần thiết phải loại bỏ.
Hơn thế, là một tiếng “có” rõ ràng của Thiên Chúa đối với con người, một sự diễn tả tuyệt vời của tình yêu ngài và là suối nguồn của đời sống viên mãn và tuyệt hảo. Vì thế, nó bao gồm lời mời gọi xác tín nhất để theo Đức Kitô trên con đường của sự nâng đỡ yêu thương của chính nó.
Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh một tư tưởng cảm khích một cách đặc biệt đối với các phần tử đau khổ của Thân Mình của Chúa. Tại Ý, như mọi phần đất trên thế giới, họ hoàn tất những gì còn thiếu sót trong cuộc khổ nạn của Đức Kitô trong thân xác họ (cf. Col 1:24), và do đó, họ đóng góp một cách thức rất hữu hiệu cho phần rỗi của mỗi người. Họ là những chứng nhân rõ ràng nhất của vui mừng đến từ Thiên Chúa và mang lại sức mạnh để đón nhận thập giá trong tình yêu mến và kiên nhẫn.
Chúng ta biết rõ rằng sự chọn lựa của đức tin này và việc theo Đức Kitô không phải hoàn toàn dễ dàng. Thay vào đó, nó luôn luôn trái ngược và có thể bàn cãi. Vì thế, Giáo Hội lưu giữ một “dấu hiệu đối nghịch” trong những bước chân của Thầy mình (cf Lk 2:34), ngay cả trong thời đại chúng ta.
Nhưng chúng ta không thất vọng. Ngược lại, chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng với tiếng (“xin lỗi”) với bất cứ những ai hỏi chúng ta về thượng trí (“logos”) đối với niềm hy vọng của chúng ta, như Thư Thứ Nhất của Thánh Phêrô (3:15) kêu gọi chúng ta, điều mà anh chị em đã chọn lựa một cách rất thích hợp như một hướng dẫn Thánh Kinh cho hướng đi của Hội Nghị này. Chúng ta phải trả lời “với lời ngọt ngào và lòng kính trọng”, với một “lương tâm trong sáng” (3:15-16), với một sức mạnh dịu dàng đến từ sự hiệp thông với Đức Kitô.
Chúng ta phải làm điều này mọi lúc, theo mức độ của tư tưởng và hành động bằng cung cách cư xử cá nhân và chứng từ công khai. Sự hợp nhất keo sơn được thể hiện trong Giáo Hội vào những thế kỷ đầu giữa một đức tin giúp cho trí thông minh và một đời sống thực hành được đặc tính hóa bằng tình yêu hỗ tương và sự quan tâm săn sóc đối với sự nghèo khó và đau khổ, đã làm lan rộng sứ mạng cao cả của Kitô Giáo trong thế giới La-Hy xả ra. Vì thế, nó cũng có thể xẩy ra sau này, trong nhiều nền văn hóa khác nhau và trong những tình huống lịch sử.
Điều này vẫn tiếp tục là đại lộ cho việc phúc âm hóa. Nguyện xin Chúa hướng dẫn chúng ta sống với sự hợp nhất giữa sự thật và tình yêu trong những điều kiện thích hợp với thời đại chúng ta, cho việc phúc âm hóa nước Ý và cho thế giới hôm nay. Và để được thế, tôi gợi ý một điểm quan trọng và căn bản: giáo dục.
Giáo dục
Một cách căn bản, để cho kinh nghiệm của đức tin Kitô Giáo và tình yêu được đón nhận, sống và truyền thụ từ thế hệ này tới thế hệ kế tiếp, là câu hỏi căn bản và rõ ràng về giáo dục của con người. Hình thành trí thông minh của một người phải là điều quan tâm, không được coi thường sự tự do của nó và khả năng để yêu thương. Đây là điều tại sao nguồn trợ giúp của Ân Sủng là cần thiết.
Chỉ trong cách thức ấy, cái nguy cơ cho số mạng gia đình nhân loại có thể được ngăn chặn, mà nó được đại diện bằng sự bất quân bình giữa sự bột phát của khả năng kỹ thuật và việc phát triển khó khăn hơn của những nguồn gốc luân lý của chúng ta.
Một nền giáo dục chân chính phải thức tỉnh sự can đảm để làm những quyết định chính đáng mà ngày nay được coi như một sự trói buộc nhục nhã đối với tự do của chúng ta. Trong thực tế, chúng cần thiết đối với việc lớn mạnh và chiếm hữu những cái lớn lao trong đời sống, một cách đặc biệt, để gây ra tình yêu để trưởng thành trong tất cả vẻ đẹp của nó: Vì thế, để đem lại ý nghĩa và cương quyết đối với tự do của chính nó.
Từ sự lo lắng cho con người nhân bản và sự hình thành của nó đến “không” của chúng ta để làm suy yếu và những hình thức tồi tệ của tình yêu và đối với việc giả mạo của tự do, xem như cũng trong việc giảm thiểu của lý trí đối với duy chỉ những gì là đo đếm hoặc có thể điều khiển. Trong sư thật, những tiếng “không” hơn là những tiếng “có” đối với tình yêu đích thật để đối với thực tế của con người như nó đã được tạo dựng nên bởi Thiên Chúa.
Tôi muốn diễn tả nơi đây việc đón nhận với tất cả tấm lòng của tôi đối với công việc giáo dục và sáng tạo lớn lao mà những Giáo Hội địa phương không bao giờ mỏi mệt đem lại tại Ý, bằng việc quan tâm mục vụ đối với những thế hệ mới và đối với các gia đình.
Giữa nhiều hình thức cho quyết tâm này, tôi không thể không nghĩ đến những trường sở Công Giáo một cách đặc biệt, bởi vì sự tôn trọng của chúng vẫn có mặt, trong một số đo lường, những thiên kiến quá khứ là những thứ tạo nên những trì hoãn thiệt thòi, và không còn chính đáng nữa, trong việc nhận ra trách nhiệm và trong việc cho phép hành động cụ thể của chúng.
Chứng từ của Bác ái
Chúa Giêsu đã nói với chúng ta rằng bất cứ việc gì chúng ta làm cho một trong những anh chị em của chúng ta, chúng ta đã làm những việc ấy cho ngài (cf. Mt 25:40). Vì thế, tính chất xác thực của hành động mật thiết với Đức Kitô được xác định một cách đặc biệt trong tình yêu cụ thể và việc quan tâm đối với những người yếu đuối và nghèo khó nhất, và đối với những ai bị đe dọa nhất và gặp khó khăn trầm trọng.
Giáo Hội Ý có một truyền thống tốt đẹp trong việc gần gũi, giúp đỡ và liên kết với người nghèo túng, đau ốm, bị loại bỏ, điều này được nhìn thấy qua việc diễn tả bằng sự thành công lạ lùng của “những Thánh nhân của bác ái”. Truyền thống này vẫn tiếp tục đến ngày nay, và nó tiếp tục trong nhiều trạng thái mới mẻ của tình trạng nghèo đói luân lý và vật chất qua Cơ Quan Bác Ái Công Giáo, các tổ chức thiện nguyện, những công tác thường xuyên kín đáo của nhiều giáo xứ, các cộng đoàn tu trì, các hiệp hội và các nhóm, các cá nhân được tác động do tình yêu Chúa Kitô và người lối xóm.
Còn gì nữa, Giáo Hội ở Ý tỏ ra sự liên đới phi thường đối với số đông vô kể người nghèo trên trái đất. Vì thế, thật là quan trọng để tất cả những chứng từ của bác ái luôn luôn giữa được đường lối chuyên biệt xa trên cao và bốc cháy, nuôi dưỡng tự nó bằng khiêm nhường và tín thác nơi Thiên Chúa, tự giữ nó tự do khỏi những gợi ý không tưởng và những cảm tình phe nhóm, và trên hết, bằng việc đo lường viễn ảnh của nó bằng tầm nhìn của Đức Kitô. Việc làm thực hành là quan trọng, tuy nhiên, hành động chia sẻ cá nhân với nhu cầu và với sự đau khổ của người anh em được coi là đáng kể hơn.
Vì thế, anh chị em thân mến, bác ái của Giáo Hội làm cho tình yêu Thiên Chúa trở nên hữu hình trong thế giới và cũng làm cho đức tin của chúng ta tin vào việc Nhập Thể, Tử Giá và Chúa Phục Sinh trở thành xác tín.
Trách nhiệm dân sự và chính trị của người Công Giáo
Hội Nghị của anh chị em đã quan tâm một cách đúng mức đề tài quyền công dân, đó là, câu hỏi về trách nhiệm dân sự và chính trị của người Công Giáo. Chúa Kitô đã đến để cứu rỗi con người thật và cụ thể, con người sống trong lịch sử và trong cộng đồng, và do đó, từ khởi đầu, Kitô Giáo và Giáo Hội đã có một chiều kích và giá trị công khai.
Như tôi đã viết trong Thông Điệp “Deus Caristas Est” (cf. nn.28-29) về mối tương quan giữa tôn giáo và chính trị, Chúa Giêsu Kitô đã mang lại một tính chất quan trọng, mở ra con đường tới một thế giới nhân bản hơn, tự do hơn qua sự phân biệt hỗ tương và quyền tự trị của Quốc Gia và Giáo Hội, đó là, giữa những gì thuộc về Caesar và những gì thuộc về Thiên Chúa (cf. Mt 22:21).
Tự do thật của tôn giáo mà chúng ta có như một giá trị toàn cầu, một sự cần thiết đặc biệt cho thế giới hôm nay, đã có những gốc rễ lịch sử ở đây. Vì thế, Giáo Hội không phải là và cũng không chủ tâm là một tổ chức chính trị. Cùng lúc giáo hội có một ảnh hưởng lớn trong sự thiện hảo của cộng đồng chính trị, mà linh hồn của nó là công lý, và cống hiến sự đóng góp đặc biệt như một mức độ song đôi.
Thật vậy, đức tin Kitô Giáo thanh luyện lý trí và giúp nó trở thành tốt hơn: kết quả là, với học thuyết xã hội mà sự tranh cãi của nó bắt nguồn từ những gì được làm cho phù hợp với bản chất của mỗi con người, sự đóng góp của Giáo Hội là làm cho những gì là công bình được nhận thức một cách rõ ràng và rồi cũng chu toàn nó. Tóm lại, những sức mạnh của luân lý và tinh thần là cần thiết một cách rõ ràng khi chúng bảo đảm rằng những đòi hỏi của công lý được đưa lên trước những lợi ích cá nhân, một mức chuẩn xã hội hoặc ngay cả một quốc gia. Ở đây một lần nữa, đối với Giáo Hội có một khoảng cách rộng để bén rễ những năng lực này trong lương tâm, để nuôi dưỡng chúng và làm vững chắc chúng.
Bổn phận trước mắt để hành động trong phạm vi chính trị là xây dựng một trật tự công bình trong xã hội không chỉ là trách nhiệm của Giáo Hội, nhưng cũng là bổn phận của người tín hữu, những người hành động như những công dân dưới trách nhiệm của riêng mình. Đây là một bổn phận quan trọng lớn lao mà người Kitô hữu Ý được kêu gọi để dấn thân bằng sự quảng đại và can đảm, được chiếu sáng bằng đức tin và Giáo Quyền của Giáo Hội, và bằng việc noi gương bác ái của Đức Kitô.
Ngày nay đòi hỏi một sự chú tâm đặc biệt và trách nhiệm phi thường đối với những thách đố lớn lao gây nguy hiểm những phần đất rộng lớn của gia đình nhân loại: chiến tranh và khủng bố, đói khát, một số những chứng bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Nhưng cũng cần thiết phải đối diện với lối giải quyết công bằng và những luật lệ rõ ràng đối với những nguy cơ của những chọn lựa chính trị và luật pháp mà nó đi ngược lại với những giá trị căn bản và những nguyên tắc nhân loại học và đạo đức ăn rễ trong bản tính của con người, một cách đặc biệt, liên quan đến việc bảo vệ đời sống con người trong mọi tiến trình của nó, từ lúc hoài thai cho đến khi tắt thở tự nhiên. Và để thăng hoa gia đình trên nền tảng hôn nhân, tránh không đem vào trật tự công cộng những hình thức khác của việc phối hợp mà nó đóng góp vào việc làm xáo trộn, làm đen tối tính chất đặc biệt của nó và vai trò không thể thay đổi của nó trong xã hội.
Chứng từ can đảm và công khai mà Giáo Hội và những người Công Giáo Ý đã và đang minh chứng về vấn điều này là hành động phục vụ quí giá đối với nước Ý, cũng là sự khuyến khích và hữu ích cho nhiều quốc gia khác. Chứng từ và lời hứa này là một phần của tiếng “có” vỹ đại mà như những người tin vào Chúa Kitô, chúng ta nói với người Thiên Chúa yêu thương.
Hiệp nhất với Đức Kitô
Anh chị em thân mến, những bổn phận và trách nhiệm mà Hội Nghị này đang đề cao quả thật rất lớn lao và phong phú. Chúng ta được khuyến khích để giữ mãi trong lòng rằng chúng ta không cô đơn một mình mang vác gánh nặng. Thực ra, chúng ta nâng đỡ nhau, và chính Thiên Chúa trên tất cả hướng dẫn và nâng đỡ con thuyền mỏng dòn của Giáo Hội.
Ở đây, chúng ta trở lại điểm khởi đầu, sự hiện hữu của chúng ta hiệp nhất trong người tối quan trọng, và như vậy, giữa chúng ta, để ở với ngài để có thể ra đi trong Danh ngài (cf. Mk 3:13-15).
Như vậy, sức mạnh thật của chúng ta là nuôi dưỡng mình bằng Lời và Thân Thể ngài, để hiệp nhất chúng ta với sự dâng hiến của ngài cho chúng ta, như chúng ta sẽ làm trong cử hành Thánh Lễ chiều nay, tôn thờ ngài hiện diện trong Thánh Thể, thực ra, việc tôn thờ phải ở trước hành động và chương trình thường ngày của chúng ta, để có thể đem lại cho chúng ta tự do thật sự, và để chúng ta có thể được cho biết tiểu chuẩn hành động của chúng ta.
Nguyện xin Mẹ Maria Đồng Trinh rất được yêu mến và tôn kính mọi nơi trên nước Ý, hướng dẫn và ở trước chúng ta trong sự hiệp nhất của chúng ta với Đức Kitô. Trong người chúng ta gặp gỡ, tinh luyện và không làm hư hoại, đặc tính thật của Giáo Hội, và nhờ qua người, chúng ta học để hiểu biết và yêu mến mầu nhiệm của Giáo Hội sống trong lịch sử, để chúng ta cảm nhận cách sâu sa là một thành phần của Giáo Hội, và đến phần mình, chúng ta trở thành “những linh hồn của giáo hội”, chúng ta học để chống lại “tục hóa nội tại” đe dọa Giáo Hội trong thời đại chúng ta, một thành quả của tiến trình tục hóa đã ghi khắc đậm nét nền văn hóa Âu Châu.
Anh chị em thân mến, cùng nhau chúng ta dâng lên lời nguyện cầu khiêm nhường nhưng vững tin lên Chúa, cho cộng đồng Công Giáo Ý, tháp nhập vào sự hiệp thông sống động của Giáo Hội mọi nơi và mọi lúc, và hiệp nhất chặt chẽ với các giám mục của mình, để đem lại thúc dục đổi mới cho đất nước thân yêu này, và cho mọi góc cạnh của trái đất, chứng từ vui mừng của Chúa Giêsu Phục Sinh, niềm hy vọng của nước Ý và của thế giới.
(Bản chính Anh ngữ của infoenglish@zenit.org ngày 28 tháng 10 năm 2006)