Số 36 Ngày 02.12.2006

Mục Lục

Tác giả

Linh Giao
Tụy Hiền
Bùi Ngoc Điệp
GH. Biển Đức
Nguyễn Học Tập
Sứ Mệnh

MỤC VỤ - CHUYỂN CẦU

Linh Giao

Người chuyển cầu hay cầu bầu, có thể là người nam hay người nữ, người lớn hay trẻ em, là người chiến đấu thay mặt các người khác. Như vậy cầu bầu là một hoạt động đồng hóa chúng ta nhiều nhất với Chúa Giêsu. Trở thành người cầu bầu chính là chúng ta trở nên giống Chúa Giêsu vì đó là điều Chúa Giêsu ưa thích. Ngài vẫn là Đấng cầu bầu cho chúng ta trước mặt Thiên Chúa.      Dick Eastmam

Giáo hội giống như một đạo binh. Mỗi hàng ngũ trong đạo quân đều có ý nghĩa và cần thiết cả. Dù cho binh sĩ phải nhiều hơn tướng tá, nhưng mỗi người đều có vị trí trọng yếu của mình để đem lại thắng lợi trong trận chiến. Tất cả chúng ta đều đi theo sau Chúa Giêsu, vị Chỉ Huy Trưởng của đạo quân, Vị Đại Chiến Sĩ của thập giá. Điều quan trọng không phải là chức vụ của chúng ta, nhưng chỉ quan trọng là chúng ta giữ vững vị trí Chúa đã kêu gọi chúng ta.

Mỗi người tín hữu đều được mời gọi gia nhập đạo quân cầu bầu. Tất cả chúng ta đều phải cầu nguyện và cầu bầu cho nhau. Sức sống của chúng ta chính là tìm ra được vị trí của mình trong Thân Hình Mầu Nhiệm Chúa Kitô. Khi chúng ta đã nhận ra mình phải trở thành một phần tử trong mục vụ Thân Hình Ngài, chúng ta cần thấu hiểu sự nghiệp trọng yếu của Ngài chính là Đấng Cầu Bầu vĩ đại nhất của nhân loại.

Chính Chúa Giêsu đã công bố, “Thầy phải làm những công việc Người đã sai Thầy” (Ga 9:4). Công việc đầu tiên Ngài thường làm chính là Ngài tìm đến những nơi thanh vắng cầu nguyện suốt đêm. Như vậy nếp sống của Ngài là nếp sống cầu bầu. Nếu Chúa Giêsu cho chúng ta cảm nhận được nhu cầu quan trọng nhất của Ngài là cầu nguyện,  thì chúng ta là những Kitô hữu, tức là những kẻ thuộc về Ngài, là những “Giêsu nhỏ bé khác” (alter Christus), chúng ta cũng phải coi trách vụ cầu bầu của mình là trách vụ ưu tiên, hàng đầu. Ở đây không còn có nghĩa là chúng ta nên làm, hay cần làm, nhưng là “phải làm.”

* Đối diện với Satan

Tiên tri Edêkien diễn tả cho chúng ta thấy hai mặt của việc cầu bầu: nài xin Thiên Chúa can thiệp và phá hủy những việc làm của Satan, “Ta đã tìm kiếm trong bọn chúng một người xây tường và đứng trước nhan Ta, nơi chỗ tường sập để bầu chữa cho xứ sở, cản ngăn Ta hủy hoại nó, nhưng Ta đã không tìm ra.” (Ed 22:30)
Như thế việc cầu bầu không phải chỉ đơn thuần đến trước nhan Chúa cầu bầu cho người khác, nhưng hơn thế, còn phải còn phải đương đầu với Satan như lời Thánh Phaolô cảnh giác, “… kẻo chúng ta bị Satan phỉnh gạt, vì chúng ta không lạ gì ý đồ của nó” (2 Cor 2: 11). Thánh Phaolô còn nhấn mạnh thêm về cuộc chiến đấu cam go này, “Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời xa” (Eph 6:12).
Cuộc chiến đấu này là cuộc chiến đấu ‘xáp lá cà’ tức là mặt đối mặt với kẻ thù trên từng tấc đất của vương quốc Thiên Chúa. Muốn chiến thắng trong  trận chiến trường kỳ dai dẳng này, Thánh Phaolô căn dặn chúng ta, “Hãy mang toàn bộ binh giáp của Thiên Chúa để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ” (Eph 6: 11). Chúa Giêsu đã phải trả giá cho trách vụ cầu bầu cho nhân loại trên thập giá, còn chúng ta không phải trả giá sao

Hơn ai hết, tiên tri Isaia đề cập về người cầu bầu muốn trở thành hữu hiệu cũng phải trở nên giống người lính gác, “Giêrusalem hỡi, trên tường thành ngươi, Ta đã đặt lính gác, suốt ngày đêm, chúng sẽ chẳng bao giờ nín lặng. Hỡi những người có phận sự nhắc nhở Đức Chúa, anh em đừng nghỉ ngơi. Cũng đừng để Đức Chúa nghỉ ngơi bao lâu Người chưa tái lập, chưa đặt Giêrusalem làm lời ngợi khen trên khắp địa cầu” (Is 62: 6-7).
Như người lính gác đi đi lại lại ngày đêm canh phòng thành lũy hoặc cơ sở của mình, ngày nay các tín hữu của Chúa, từ giáo sĩ cho tới giáo dân đều phải trở thành các người lính canh gác hữu hiệu loại trừ tất cả những đánh phá của Satan và bè lũ  nơi thành phố, trong cộng đoàn cũng như nơi gia đình của mình. Thiên Chúa đang thiết lập dân của Người thành những người lính gác và không để Người nghỉ yên cho đến khi vương quốc của Người được thiết lập khắp trần gian. 
Ở đây tiên tri Isaia chỉ cho chúng ta một loại khí giới mới để tái lập vương quốc của Chúa sớm hiển trị trần gian chính là các người cầu bầu hãy biến thành phố của mình, cộng đoàn của mình, gia đình mình và chính mình thành những lời ca ngợi, chúc tụng Thiên Chúa. Tất cả mấu chốt của trận địa chiến này nằm nơi việc ca ngợi và chúc tụng Thiên Chúa.  Không lời cầu bầu nào hữu hiệu hơn lời ca ngợi, chúc tụng và tạ ơn Thiên Chúa. Việc còn lại là chính Chúa sẽ làm những gì con người không thể làm được.

 1/  Đăng tên xin gia nhập  đạo quân cầu bầu! Bạn hãy thân thưa với Chúa xin làm người lính gác của Ngài.
2/  Giữ tâm hồn trong trắng, tinh khiết để bạn dễ nhìn nhận ra những lãnh vực nào Ngài muốn bạn cầu nguyện.
3/ Khai triển việc nhận thức ra Chúa đang hiện diện trong đời bạn. Hãy luôn luôn ý thức bạn túc trực bất cứ lúc nào Ngài gọi bạn, tương tự như một bác sĩ hay một linh mục mang beeper trong người. Không quan trọng bạn đang làm gì, Chúa có thể thay đổi chương trình của bạn để kêu bạn cầu nguyện cũng như kéo còi báo động khi địch quân tấn công.
4/  Hãy cầu xin Chúa dậy bạn biết kéo còi báo động đúng lúc, đúng nơi, đúng người cần chúng ta cầu bầu.
5/ Đừng sợ phải cầu nguyện cho những việc, những người chúng ta không quen cầu nguyện cho. Thí dụ đang lúc cầu nguyện, bỗng dưng bạn được thôi thúc cầu nguyện cho một người nào đó ở Việt Nam. Trường hợp Chúa cầu nguyện cho ông Phêrô là một trường hợp điển hình, “Simon, Simon! Kìa Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy kiên vững niềm tin của các anh em” (Lc 22:31-32).

Chính Chúa Giêsu thúc bách các môn đệ cũng như chúng ta cầu nguyện cho mùa gặt hái các tâm hồn, “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10: 2). Chúng ta đang được Ngài mời gọi gia nhập đoàn quân trừ bị của Ngài. Tinh thần cầu nguyện này phải tràn lan trên các quốc gia, các cộng đoàn để thực sự tạo lập được những  cuộc sinh nở phục hưng, dù phải trả giá những đớn đau.
Bà Cindy Jacobs kể lại trường hợp ông Lamphier như một điển hình Chúa đã xử dụng những con người bình thường để làm nên các kỳ công của Ngài. Vào năm 1857, ông đi rảo khắp phố xá rải truyền đơn mời mọi người đến tụ tập cầu nguyện tại một góc phố vào mỗi buổi trưa trong khu Manhattan tại New York. Sau hai mươi lăm phút ông đứng đó một mình và chưa có ai đáp lời, niềm tin thúc bách ông tiếp tục cầu nguyện. Cuối cùng đến khoảng 12:30, có sáu người đến. Tuần sau có hai mươi người. Sau đó họ quyết định đến đây cầu nguyện hàng ngày thay vì hàng tuần. Và trong sáu tháng sau đã có hơn mười ngàn người tụ tập nhau cầu nguyện trong các cửa tiệm hoặc văn phòng làm việc của họ. Điều khó tin nổi ở đây là mọi người thuộc nhiều đoàn thể hoặc cộng đoàn khác nhau họ cùng làm việc với nhau như một tổ chức và không ai ganh tị ghen ghét nhau.
Phải chăng đây không là bài học cho Giáo hội ngày nay đi vào chuẩn bị cho đại cuộc phục hưng khi biết xử dụng chiêu thức hữu hiệu là cầu nguyện và cầu bầu. Nhà tu đức nổi tiếng Martin Lloyd-Jones đã lưu lại lời phát biểu để đời, “Lịch sử của các cuộc phục hưng xác định rõ ràng rằng Thiên Chúa thường hành động bằng những cách thức khác thường nhất và đem lại những cuộc phục hưng vững vàng, không phải qua những chức sắc thẩm quyền, nhưng có lẽ qua những người nhận biết mình chỉ là những thành phần thật khiêm cung nhỏ bé và tầm thường trong Giáo hội.”

CÁC ĐOẠN THÁNH KINH VỀ CHUYỂN CẦU

1/ Cựu Ước: Kn 20: 7; 17  -  Xh 32:9-14 hoặc Ds 14: 11-21 (260) 
                 ĐNL 9: 18-29 (321)  - 1Sam 12:23 (474)
2/ Tân Ước: Mt 8: 5-13 (1856)  -  Gia 5:14-20 (2254)

Mục Lục

TẠI SAO PHẢI SỐNG LỜI CHÚA ?

Tụy Hiền

Bài trước chúng ta đã cùng nhau xác quyết : nhiệm vụ của người tín hữu là phải Sống Lời Chúa và phải giúp người khác cùng Sống Lời Chúa.
Câu hỏi thứ nhất chúng ta đưa ra, đó là tại sao lại phải Sống Lời Chúa.
Như chúng ta đã biết đạo là đường. Đã là đường thì chúng ta phải bước đi trên đó, nếu muốn tới nơi định tới. Cũng thế, đã theo đạo thì chúng ta phải sống đạo, nghĩa là phải sống lời Chúa nếu chúng ta muốn trở về với Ngài.
Tục ngữ đã bảo :
- Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.
Đã là con cái Chúa, chúng ta phải trở nên giống Ngài. Đã là môn đệ Chúa, chúng ta cũng phải cố gắng trở nên giống Ngài.
Trở nên giống Chúa, có nghĩa là Chúa suy nghĩ, Chúa phán đoán, Chúa nói năng, Chúa xử sự, Chúa hành động thế nào, thì chúng ta cũng phải bắt chước mà làm như vậy. Ngài dạy chúng ta sống thế nào, thì chúng ta phải lắng nghe và quyết tâm thực hiện như vậy.
Người tín hữu phải trở nên một “Alter Christus”, một Kitô khác. Phải làm thế nào để những người chung quanh nhận ra khuôn mặt dịu hiền của Ngài  qua thái độ cư xử của chúng ta.
Muốn được như vậy, thì cách duy nhất là hằng ngày phải lắng nghe Lời Chúa, ghi nhớ và suy niệm trong  lòng, rồi đem ra áp dụng vào cuộc sống.
Nhờ đó, lời Chúa sẽ dần dần thấm nhập vào trong tâm hồn và biến đổi chúng ta nên giống Ngài, đồng thời giúp chúng ta thể hiện được những đường nét của Đức Kitô  qua khuôn mặt, qua lời nói và qua những cử chỉ bên ngoài của mình.
Tôi còn nhớ mang máng một mẩu chuyện về cuộc đời thánh Vianney, đại khái như thế này :
Có một người mang nhiều ác cảm đối với thánh nhân, trước những lời đồn thổi về nhân đức của thánh nhân, người ấy muốn kiểm chứng xem có đúng như vậy hay không ?
Vì thế, người ấy đã vào nhà thờ, rình rập và quan sát thánh nhân. Sau một hồi quan sát và rình rập, khi bước ra, người ta hỏi :
- Anh đã thấy gì ?
Người ấy trả lời :
- Tôi đã thấy Thiên Chúa trong một con người .

TẠI SAO PHẢI GIÚP NGƯỜI KHÁC SỐNG LỜI CHÚA ?

Câu hỏi thứ hai, đó là tại sao phải giúp người khác cùng sống lời Chúa ?
Tôi xin thưa vì Chúa đã truyền dạy : 
- Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho muôn dân…
- Các con hãy nên chứng nhân cho Thày tại Giêrusalem, Giuđêa, Samaria và cho đến tận cùng bờ cõi trái đất.
Chúng ta có thể giúp người khác Sống Lời Chúa bằng chính đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương của mình.
Cách đây không lâu, một phụ nữ Anh giáo, tò mò vào quan sát một nhà thờ Công giáo. Trong giây phút đó, cô quyết định trở lại, lí do rất đơn giản chỉ vì cô đã nhìn thấy mấy em thiếu nhi đang cầu nguyện một cách sốt sắng ở cuối nhà thờ.
Ngày kia, một kỹ sư ba mươi tuổi, cũng xin trở lại chỉ vì thái độ vui vẻ  của một anh lính cong giáo. Mặc dầu bị chế nhạo, nhưng tối nào anh cũng quỳ gối cầu nguyện một cách rất chăm chú.
Thứ đến, chúng ta phải giúp người khác cùng Sống Lời Chúa, vì đó là dấu chỉ chứng tỏ chúng ta là những người con hiếu thảo và có lòng yêu mến Chúa thực sự.
Khi yêu mến ai, người ta thường ước muốn điều tốt cho họ và cố gắng làm vừa lòng họ. Cũng thế, nếu thực lòng yêu mến Chúa, chúng ta phải ra sức làm sáng danh Chúa, cố gắng làm cho mọi người chung quanh nhận biết, tôn thờ và chu toàn thánh ý Chúa như lời Ngài đã phán :
- Ta còn nhiều chiên khác chưa thuộc về đàn này. Ta cũng phải dắt chúng về và chúng sẽ nghe tiếng Ta. Rồi sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên mà thôi.
Hơn nữa, như tôi đã trình bày :
- Đối tượng của đức  tin không phải là một đồ vật quí giá chúng ta lo cất dấu cho riêng mình, nhưng là một người. Người ấy đã yêu thương tôi, đã chịu chết vì tôi. Và người ấy chính là Đức Kitô. Vì thế chúng ta có bổn phận làm cho người khác nhận biết và yêu mến Ngài.
Đối tượng của đức tin còn là một “Phúc Âm”, còn là một  Tin mừng. Đã là một tin mừng thì chúng ta có bộn phận phải loan truyền, phải chia sẻ cho người khác.
Tuy nhiên, để dễ dàng chu toàn nhiệm vụ sống lời Chúa và giúp người khác cùng sống lời Chúa, chúng ta cần phải tiến vững chắc qua hai giai đoạn, đó là bản thân phải sống lời Chúa trước khi có thể giúp người khác cùng sống lời Chúa.
Thực vậy, không ai có thể cho cái mình không có. Tôi không thể cho người khác tiền nếu như trong túi tôi không có một đồng xu nào cả.
Cũng vậy, người tín hữu không thể đem Chúa cho người khác một cách hiệu quả, nếu bản thân lại không có Chúa trong tâm hồn và  không thấm nhuần tinh thần của Chúa trong cuộc sống.
Chúng ta có thể so sánh : Lời Chúa giống như một giòng điện, người Kitô hữu là một sợi dây nối liền giữa Đức Kitô là nguồn điện, với anh em là những chiếc bóng đèn. Bóng đèn chỉ có thể cháy sáng, khi có điện do sợi dây dẫn tới. Bao lâu sợi dây không có điện thì bóng đèn cũng không thể nào cháy sáng được.
Cũng thế, ngày nào người tín hữu không sống lời Chúa, ngày ấy họ không xứng đáng là một Kitô hữu, một người có Đức Kitô, và không thể nào chu toàn sứ mạng đem Chúa đến với người khác.

SỐNG LỜI CHÚA TRONG GIA ĐÌNH.

Gia đình chính là một môi trường thuận tiện nhất để huấn luyện cho người Kitô hữu biết thực sự sống Lời Chúa và làm việc tông đồ giáo dân. Trách nhiệm huấn luyện trước tiên là của các bậc cha mẹ.
Đúng thế, cha mẹ phải làm gương sáng về tình yêu thương mà Chúa đòi hỏi ngay trong phạm vi gia đình của mình, đồng thời mỗi ngày phải đào sâu để bản thân hiểu và sống Lời Chúa, nhờ đó giúp con cái mình cùng hiểu và sống Lời Chúa nữa.
Không gì đẹp bằng hình ảnh một gia đình trong đó mọi người biết yêu thương  và nghĩ đến nhau, biết giúp đỡ, nhường nhịn và khích lệ nhau nên thánh.
Đâu có tình yêu thương thì ở đấy có Thiên Chúa. Và đâu có Thiên Chúa, thì ở đấy có hạnh phúc. Vậy gia đình yêu thương nhau chính là thiên đàng nơi trần thế và đời sống gương mẫu ấy có sức hấp dẫn rất lớn.
Người ngoài dễ nhận biết và tin thờ Thiên Chúa, nếu như những Công giáo biết sống lời Chúa và thực thi tình bác ái yêu thương trong chính gia đình của mình.
Tuy nhiên, gia đình chỉ có thể sống lời Chúa, nếu biết hâm mộ lời Chúa. Mỗi ngày phải chăm chỉ lắng nghe, tìm hiểu, suy gẫm và quyết tâm thực hiện lời Chúa bằng những việc làm cụ thể.
Giờ kinh tối sẽ là những giây phút thuận tiện nhất, để học hỏi, suy niệm và áp dụng lời Chúa trong sinh hoạt gia đình.

LỜI CHÚA TRONG GIỜ KINH TỐI

Mỗi gia đình Kitô hữu muốn sống lời Chúa, trước hết phải mua sắm một cuốn Kinh Thánh, toàn bộ Cựu ước và Tân ước, hay ít nữa là Tân ước, gồm bốn Phúc Âm.
Cuốn Kinh Thánh phải được để trên bàn thờ hay một nơi nào khác thuận tiện và trang trọng.
Khi đọc lời Chúa, mọi người phải có thái độ cung kính, lắng nghe như chính Chúa đang nói với mình. Ba việc nên làm khi học hỏi lời Chúa trong giờ kinh tối, đó là :

1. LẮNG NGHE LỜICHÚA.

Mọi người đứng lên và lắng nghe người hướng dẫn đọc một đoạn Phúc Âm thích hợp, rồi kết thúc bằng câu :
- Đó là lời Chúa.
Mọi người đáp lại bằng câu tung hô :
- Lạy Chúa Kitô ngợi khen Chúa.
Người hướng dẫn nên chọn bài Phúc Âm trước, theo một trong ba tiêu chuẩn sau đây :
        . Chọn theo đề tài phù hợp với từng mầu nhiệm của kinh Mân côi.
        . Mỗi tuần nên đọc lại Phúc Âm ngày Chúa nhật một lần.
        . Đôi khi nên chọn bài Phúc Âm thích hợp với hoàn cảnh riêng của gia đình.

2. SUY NIỆM VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA :

Cha mẹ hay người hướng dẫn nói mấy lời vắn tắt, giúp suy niệm lời Chúa trong ít phút : ý Chúa muốn dạy gì qua bài Phúc Âm ? Phải sống lời Chúa như thế nào trong tư tưởng, lời nói và việc làm ?
Trường hợp không có người hướng dẫn suy niệm chung, sau khi nghe đọc Phúc Âm, mọi người ngồi xuống yên lặng suy nghĩ  ít phút trước khi bước sang phần chia sẻ lời Chúa và lời nguyện tự phát.
Cha mẹ nên lợi dụng những giây phút quí báu này, để huấn luyện đức tin cho con cái, để khuyên bảo chúng ăn ở xứng đáng là những người con của Chúa…
Đây cũng là lúc thuận tiện để sửa dạy con cái : cha mẹ dâng lên Chúa những lời cầu nguyện để nhắc bảo con cái chừa bớt thói hư tật xấu, hứa với Chúa sẽ quyết tâm sửa mình để được nên tốt lành hơn theo lời Chúa đã dạy và theo gương Chúa đã làm.

3. LỜI NGUYỆN TƯ PHÁT.

Sau cùng, kết thúc bằng những lời nguyện tự phát. Đây là lúc chúng ta nói với Chúa những điều dốc quyết trong đời sống cụ thể hằng ngày, xin Chúa giúp chúng ta sửa mình để sống theo lời Chúa chỉ dạy.
Trong phần cầu nguyện này, từng người sẽ chia sẻ những tâm tình sốt sắng của mình cho người khác bằng cách cầu nguyện lớn tiếng, và kết thúc bằng câu :
-Xin Chúa nhận lời chúng con.
Mọi người hợp một ý bằng cách lặp lại :
-Xin Chúa nhận lời chúng con.
Để đỡ mất thời giờ, trước lúc đọc kinh, nên chỉ định những người chia sẻ Lời Chúa và lời nguyện tự phát. Mỗi buổi chỉ cần độ hai hay ba lời nguyện mà thôi.
Để kết luận, tôi xin kể lại một mẩu tâm sự như sau :
Có một anh thanh niên lên đường ra tỉnhtìm kiếm công ăn việc làm. Người bạn của anh khi tiễn chân đã nhắc nhở :
- Này anh, anh hãy nhớ rằng mình sắp dấn thân vào một cuộc phiêu lưu thật nguy hiểm đấy nhé.
Anh thanh niên trả lời :
- Phải, tôi biết lắm.
Đoạn móc trong túi ra cuốn Kinh Thánh, anh giơ lên cao  và nói :
- Tôi sẽ cần chiếc địa bàn này để vững tay lái và đi đúng hướng.
Lời Chúa phải là một chiếc địa bàn định hướng cho mỗi bước đi ngày tháng. Lời Chúa phải là tiêu chẩn soi dẫn cho mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của chúng ta.

Mục Lục

CẦU NGUYỆN - CHUYỂN CẦU MỘT NHU CẦU CỦA ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG

JB. Bùi Ngoc Điệp

Tại sao, ở vào những thời điểm biến động trong xã hội như hiện nay,
lại cần có một nhu cầu thiêng liêng?
I. DẪN NHẬP:
Nhìn vào thực tế của đời sống con người. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra, con người ngày nay tất bật lo lắng đủ chuyện, cuộc sống đầy ắp những lo âu buồn chán, không mấy khi được bình an. Lo âu chán nản bởi vì họ đã bỏ ra nhiều công sức, nhưng cuối cùng họ luôn tự hỏi: “Liệu có ai để ý đến những gì mình làm không? Và liệu những việc làm ấy có ý nghĩa gì không?”
Trong một cuộc sống với những việc đầy ứ phải làm, những công việc luôn còn dang dở, những ước đoán dự liệu không đâu… làm cho nhiều người, cả chúng ta nữa, luôn lo lắng và bận rộn như bị kẹt cứng trong mạng nhện của những dự kiến giả tạo. Chỉ khi có một khoảnh khắc yên tĩnh nào đó để nghỉ ngơi, để hồi tâm hay nhìn lại cuộc đời, chúng ta mới thấy rằng chúng ta đã bỏ ra quá nhiều công sức, nhưng cuối cùng chúng ta vẫn tay trắng, trống vắng và cô đơn… Bởi vì chúng ta không có hay thiếu thốn đời sống thiêng liêng. (x. Henri JM. Nouwen. Making all things new – An invitation to the sprituality life)
II. ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG LÀ GÌ ?
Đời sống thiêng liêng phải chăng đó là đời sống tinh thần, là sinh hoạt của con người hàng ngày nhắm tới ba đối tượng: Chân-thiện-mỹ. Ba đối tượng ấy tương ứng với ba năng khiếu: lý trí, ý chí và óc thẩm mỹ. Nhưng, những ai chỉ phát huy ba năng khiếu ấy trong phạm vi thế giới hữu hình thì chỉ có một đời sống con người khép kín mà thôi. Còn ai phát huy thêm cả năng khiếu tín ngưỡng hướng về siêu việt, thì đời sống tinh thần mới thực sự phong phú.
Có một đời sống thiêng liêng không có nghĩa là: Phải từ bỏ gia đình, việc làm, thay đổi cách làm việc hay từ bỏ các sinh hoạt xã hội, chính trị, mất hết thú vui văn chương nghệ thuật; cũng không có nghĩa là phải tìm một đời sống tu trì, trường kỳ cầu nguyện. “Nhưng là một sự trở lại, bao gồm một kinh nghiệm đồng nhất”: những mâu thuẫn, những đau khổ, những công việc, hy vọng, bạn bè, các sinh hoạt, các cảm hứng…v.v, giờ đây không còn là công việc bận tâm lo lắng như trước nữa. Nhưng ngược lại, chúng ta xem nó như những “xác nhận và mạc khải của Chúa Thánh Thần” trong chúng ta. “Nhờ-với-trong Chúa Thánh Thần”, những lo toan, biến động của đường đời chỉ còn là ân huệ hay chỉ như là những thử thách để làm mạnh mẽ và làm rõ nét đời sống mới vừa được khám phá.
III. ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU :
Đời sống thiêng liêng của người kitô hữu bao gồm cả những năng khiếu tự nhiên quy hướng về Chân-thiện-mỹ trong thế giới hữu hình; và cả năng khiếu tôn giáo đi tìm những thực tại siêu việt trong các kinh nghiệm tín ngưỡng; hơn thế nữa người kitô hữu còn tìm kiếm gặp gỡ Đấng Siêu Việt là Thiên Chúa được mặc khải nhờ Chúa Con là Đức Giêsu Kitô (x. 2Cr 4,6).
Đức Kitô chịu đóng đinh làm nên một gạch nối giữa thực tại Thiên Chúa và thực tại con người; vì thế ta có thể chạm đến Thiên Chúa qua nhân loại và chạm đến nhân loại qua Thiên Chúa, miễn là ta chọn lấy Thánh giá, bởi lẽ chỉ tại nơi đó tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với con người mới có thể hoán chuyển lẫn nhau.
Chính Chúa Giêsu đã dạy cho chúng ta ý nghĩa và nhu cầu của đời sống thiêng liêng: “Trước hết hãy tìm Nước Thiên Chúa, mọi sự sẽ đến dồi dào sau” (Mt 6,33). Đứng trước cuộc sống tất bật và đầy lo âu của chúng ta, Đức Giêsu không khuyên chúng ta đừng quá xao xuyến; Ngài cũng không cho rằng việc chúng ta làm không quan trọng, không có giá trị hay không hữu ích; Ngài cũng không khuyên chúng ta xa rời đời sống để đi theo con đường an bình, yên nghỉ hay tránh mọi phấn đấu trong trần gian. Chúa chỉ đề nghị chúng ta đi từ ‘quá nhiều chuyện đến chỉ có một chuyện cần thiết’ (x. Lc 42) là: “Trước hết hãy tìm Nước Thiên Chúa, mọi sự sẽ đến dồi dào sau” (Mt 6,33; x. 1Tm 6,17).
Điều mà người kitô hữu quan tâm thực hiện là sống ngay bây giờ sự kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi trong đức tin, đức cậy và đức mến. Đó là sự sống đời đời mà chúng ta có thể nếm cảm ngay trên trần gian này: “Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Đức Giêsu Kitô” (Ga 17,3).
Do đó, con người gặp gỡ Thiên Chúa phải xuyên qua một tiến trình: “phát xuất từ Chúa Thánh Thần, qua Chúa Giêsu và tới cùng Chúa Cha”. Ngược với lộ trình mà Thiên Chúa đến với con người: “Phát xuất từ Chúa Cha” (x. Ga 17,26; Ep 1,3-4), “Được mạc khải nhờ Chúa Con” (x. Ga 3,16), “Và được hoàn tất trong Chúa Thánh Thần” (x. Gl 4,6; Rm 5,5).
IV. KẾT LUẬN và NHẬN ĐỊNH:
          “Giữa một thế giới, một thời đại chao đảo, ngụp lặn trong hận thù, trong chiến tranh, trong vô luân, trong chán chường tuyệt vọng trước cuộc sống, con người ngày nay đang tìm về thế giới tâm linh để tìm lấy cho mình một cái gì đó bám víu, cậy trông, và che chở. Và thực sự, con người ngày nay đang tìm về cầu nguyện như một đường lối giải thoát cho chính mình và cho thế giới” (trích “chuyển cầu” Sứ mệnh giáo dân, số 35).
Trước hết, đời sống thiêng liêng là một nhu cầu thiết yếu của mỗi người, mỗi cộng đoàn, mỗi xã hội, mỗi tôn giáo, … dù ở bất cứ thời đại nào.
Những thay đổi trong thế giới hôm nay: những bước phát triển nhảy vọt của xã hội đã và đang thúc đẩy con người tìm kiếm và thỏa mãn những nhu cầu vật chất; các giá trị cá nhân, những đòi hỏi về tự do cá nhân và nhân quyền ngày càng được đề cao; sự bùng nổ thông tin, chủ nghĩa hưởng thụ và khoái lạc đang lan tràn, v.v… Những điều này đưa đến nguy cơ hủy diệt hay ít là coi nhẹ và lãng quên tính chất đời sống thiêng liêng.
Do tác động phổ quát của tiến trình toàn cầu hóa này đã biến đổi bộ mặt trái đất, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp và sâu đậm đến từng cá nhân và cộng đồng. Các giá trị đó đôi lúc đã làm xáo trộn cả một thời đại hay một hệ thống văn hóa, đạo đức, những cơ cấu xã hội và ảnh hưởng sâu đậm trên cuộc sống cũng như tâm thức của mỗi con người. Thực tế cũng cho ta thấy, ở một vài nơi, dường như người ta đã đánh mất vai trò và tầm quan trọng của mình, không còn nhận ra sự hiện diện và tương quan của mình với người khác, với xã hội, với vũ trụ và với Đấng tạo hóa. Từ đó, nhu cầu thiêng liêng có lẽ không còn là lý tưởng để họ theo đuổi nữa. Thực trạng trên là một thách đố, một lời mời gọi mỗi người cần có một đời sống thiêng liêng “như là một sự trở lại” để có một cuộc sống và một cách sống mãnh liệt hơn.
Riêng đối với đời sống người kitô hữu. Đời sống này là đời sống thiêng liêng trong Thần Khí, nghĩa là đời sống phát sinh do Chúa Thánh Thần. Để Chúa Thánh Thần hướng dẫn: sống mầu nhiệm Đức Kitô được sai đi, xây dựng hiệp nhất, yêu mến mọi người như Chúa Kitô đã yêu mến. Đó chính là đời sống mà Chúa Thánh Thần làm cho con người đáp lại tình yêu của Thiên Chúa.
Tài liệu tham khảo:
Aloysius Pieris, S.J. Bản dịch của Trần Duy Nhiên.
Henri JM. Nouwen. Making all things new – An invitation to the sprituality life.
Nguyễn Hữu Quang, FSC. Linh đạo huấn luyện, tài liệu học tập HVLD 2004.
Sứ mệnh giáo dân, số 35.

Mục Lục

CHÚNG TA “THUỘC VỀ MỘT GIA ĐÌNH
CỦA NHỮNG NGƯỜI TIN VÀO MỘT THIÊN CHÚA”

Huấn từ Đức Bênêđíctô XVI trong buổi gặp gỡ Ali Bardakoglu,
giáo trưởng Tôn Giáo Vụ Thổ Nhĩ Kỳ, 28 tháng 11 năm 2006.

Chuyển ngữ: Trần Mỹ Duyệt

Cuộc gặp gỡ này còn có sự hiện diện của những đại diện của Cộng Đồng Hồi Giáo, và những giáo trưởng Hồi Giáo tại Ankara và Istanbul, cũng như các hồng y, giám mục, trong đoàn tháp tùng của Đức Thánh Cha.
Tôi lấy làm biết ơn về cơ hội được viếng thăm phần đất quá phong phú về lịch sử và văn hóa này, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên của nó, để tận mắt chứng kiến khả năng sáng tạo của người dân Thổ Nhĩ Kỳ, và để hiểu rõ nền văn hóa cổ xưa và chiều dài lịch sử của quí vị, cả trong lãnh vực tôn giáo và dân sự.
Vừa khi tôi đặt chân đến Thổ Nhĩ Kỳ, tôi đã được Chủ Tịch Cộng Hòa và Đại Diện Chính Phủ tiếp đón một cách trang trọng. Đối với tôi, đây cũng là một niềm vui lớn lao được gặp gỡ và chào thăm Thủ Tướng Erdogan tại phi trường. Trong cuộc gặp gỡ các vị, tôi đã sung sướng bày tỏ sự quí mến của tôi đối với toàn thể dân tộc của quốc gia hùng vỹ này, và ngưỡng mộ trước mộ phần của nhà sáng lập quốc gia tân tiến Thổ Nhĩ Kỳ,  Mustafa Kemal Ataturk.
Giờ đây tôi vui mừng được gặp gỡ ngài, Chủ Tịch Tôn Giáo Vụ. Tôi xin gửi tới ngài những cảm tình của sự kính trọng, qua việc nhận thức những công tác lớn lao của ngài, và tôi gửi lời chào mừng của tôi tới toàn thể những nhà lãnh đạo tôn giáo của Thổ Nhĩ Kỳ, đặc biệt những Giáo Trưởng của Hồi Giáo tại Ankara và Istanbul. Qua ngài, thưa ngài Chủ Tịch, với lòng kính trọng và sự quí mến đặc biệt, tôi xin chào thăm tất cả mọi anh chị em Hồi Giáo thuộc Thổ Nhĩ Kỳ.
Quê hương của quí vị rất thân thương đối với các Kitô hữu: nhiều Cộng Đoàn Giáo Hội tiên khởi đã được thành lập và phát triển ở đây, được hướng dẫn bởi lời giảng dậy của các Tông Đồ, đặc biệt là Thánh Phaolô và Gioan. Theo truyền thống đối kể lại với chúng tôi rằng Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu đã sống tại Êphêsô, trong nhà của Thánh Tông Đồ Gioan.
Phần đất cao cả này cũng đã được chứng kiến một sự nở hoa phi thường của nền văn minh Hồi Giáo trong nhiều lãnh vực khác biệt, bao gồm cả nghệ thuật, văn chương, cũng như luật pháp.
Rất nhiều những đài kỷ niệm của Kitô Giáo và Hồi Giáo mang dấu tích một quá khứ vàng son của Thổ Nhĩ Kỳ. Quí vị có quyền hãnh diện về những điều này, bảo vệ chúng cho sự thán phục của ngày càng đông những du khách đặt chân đến quốc gia này.
Tôi đã chuẩn bị cho chuyến viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ của tôi với những cảm tình như đã được bày tỏ bởi vị tiền nhiệm của tôi Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII, khi ngài đến đây với tư cách là Tổng Giám Mục Giuseppe Roncalli, để điều hành văn phòng Đại Diện Tông Tòa ở Istanbul: “Tôi yêu thích người Thổ Nhĩ Kỳ, những người mà Thiên Chúa đã sai tôi đến.... Tôi yêu mến người Thổ Nhĩ Kỳ, tôi nhận ra những đức tính thiên phú của những người dân mà phần đất của họ xứng đáng đón nhận qua bằng chứng của một nền văn mình” (Journal of a Soul, pp.228,233-4).
Về phần tôi, tôi cũng muốn đề cao những đức tính cao quí của dân chúng Thổ Nhĩ Kỳ. Ở đây tôi lập lại những lời của vị tiền nhiệm vừa qua của tôi, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, kỷ niệm tốt đẹp, ngài đã nói vào dịp tông du của ngài năm 1979: “Tôi thiết nghĩ rằng đã đến lúc cần thiết, cho ngày nay khi những Kitô hữu và những người Hồi Giáo đã bước vào một giai đoạn của lịch sử, để nhận thức và phát triển những ràng buộc tinh thần để hợp nhất chúng ta, để duy và làm phong phú lẫn nhau, cho thiện ích của tất cả mọi người, ‘hòa bình, tự do, công bằng xã hội, và những giá trị đạo đức” (Huấn từ cho Cộng Đồng Công Giáo ở Ankara, 28 tháng 11 năm 1979).
Những câu hỏi ấy vẫn tiếp tục hiện diện qua những năm nối tiếp; thật vậy, như tôi đã nhấn mạnh vào lúc mở màn Giáo Triều của tôi, chúng đòi buộc chúng ta thực hiện những cuộc đàm phán như một trao đổi chân tình giữa các bạn hữu. Năm ngoái, vào Ngày Giới Trẻ Thế Giới, khi tôi vui mừng được gặp gỡ các thành viên của những cộng đoàn Hồi Giáo tại Cologne, tôi đã lập lại nhu cầu để dẫn đến việc đối thoại giữa các nền văn hóa và giữa các tôn giáo với niềm hy vọng và lạc quan. Nó không thể bị coi nhẹ do một sự tùy thuộc: ngược lại, nó là “sự cần thiết chủ yếu, mà sự đo lường rộng lớn của tương lại chúng ta tùy thuộc ở đó” Address to representatives of some Muslim Communities, Cologne, 20 August 2005).
Những người Kitô hữu và Hồi Giáo, theo những tôn giáo riêng biệt của họ, cho thấy sự thật của đặc tính thánh thiện và phẩm giá của con người. Đây là căn bản của sự liên đới và lòng trọng kính hỗ tương. Đây là căn bản của sự hợp tác trong việc phục vụ cho hòa bình giữa các quốc gia và dân tộc, niềm mong ước thiết tha nhất của mọi kẻ có niềm tin và tất cả những người thiện chí.
Hơn 40 năm qua, giáo huấn của Công Đồng Vaticanô II đã cảm hứng và hướng dẫn Hội Thánh bước vào con đường này cùng với các Giáo Hội địa phương trên khắp thế giới tiến tới những quan hệ với những tín đồ của các tôn giáo khác. Theo truyền thống Thánh Kinh, Công Đồng dậy rằng tất cả các chủng tộc đều chia sẻ một nguồn gốc chung và một vận mạng chung: Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của chúng ta và là đích điểm của cuộc hành trình dương thế của chúng ta. Những Kitô hữu và những người Hồi Giáo thuộc về cùng một gia đình của những người tin nhận một Thiên Chúa, và Đấng mà tùy theo những truyền thống riêng biệt, dõi theo tiền nhân của họ đến với Abraham (cf. Second Vatican Council, Declaration on the Relation of the Church to Non-Christian Religions “Nostra Aetate” 1,3). Sự hiệp nhất tinh thần và nhân loại này trong những xuất xứ và vận mạng của chúng ta thúc đẩy chúng ta kiếm tìm một con đường chung trong khi chúng ta đóng góp phần của mình cho đòi hỏi về những giá trị nền tảng rất đặc sắc của nhân loại trong thời đại của chúng ta. Là những người nam nữ của tôn giáo, chúng ta bị thách đố bởi sự ước muốn lớn lao cho nền công chính, phát triển, sự liên đới, tự do, an sinh, hòa bình, bảo vệ sự sống, bảo vệ môi trường và những tài nguyên của trái đất. Bởi vì cả chúng ta nữa, trong khi tôn trọng quyền tự trị chính đáng của những việc làm thế tục, cần một sự đóng góp đặc biệt để cống hiến trong việc tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu đối với những câu hỏi khẩn trương này.
Trên tất cả, chúng ta có thể cống hiến một sự đáp trả đáng tin cậy cho câu hỏi mà nó nổi cộm một cách rõ ràng của xã hội chúng ta hôm nay, mặc dù nếu nó thường xuyên bị gạt bỏ ra bên lề, đó là câu hỏi về ý nghĩa và mục đích của cuộc đời, đối với mỗi cá nhân và chung toàn thể nhân lọai. Chúng ta được kêu gọi để làm việc với nhau, như vậy để giúp xã hội mở cửa chính nó tới chỗ tuyệt vời, mang lại cho Thiên Chúa Toàn Năng một chỗ xứng hợp của ngài. Con đường tốt nhất tiến tới là qua sự đối thoại thẳng thắn giữa những người Kitô hữu và Hồi Giáo, dựa trên sự thật được soi dẫn bởi ước muốn chân thành để hiểu nhau hơn, tôn trọng sự khác biệt và nhận thức những gì chúng ta cùng có chung. Điều này sẽ dẫn chúng ta tới một sự kính trọng chính đáng cho những chọn lựa có trách nhiệm mà mỗi người, đặc biệt những cái thuộc về những giá trị căn bản và những xác tín tôn giáo của mỗi cá nhân.
Như một lời giải thích cho mối hợp nhất huynh đệ với nó những Kitô hữu và người Hồi Giáo có thể cùng nhau cộng tác, tôi muốn nhắc lại một vài lời được Giáo Hoàng Grêgôriô VII nói với một hoàng tử Hồi Giáo ở Bắc Phi năm 1076, vị hoàng tử đã hành động với tấm lòng từ thiện lớn lao đối với những Kitô hữu dưới quyền của ông. Đức Grêgôriô đã nói về hành động bác đặc biệt mà những Kitô hữu và người Hồi Giáo đã mang ơn lẫn nhau “Bởi vì chúng ta tin vào một Thiên Chúa, cho dù có khác nhau về cách thế, và bởi vì chúng ta thờ lậy ngài và ca ngợi ngài mọi ngày như Đấng Tạo Thành và Cai Trị thế giới”.
Tự do tôn giáo, được  bảo đảm một cách hợp pháp và được tôn trọng một cách hữu hiệu qua hành động, cả hai đối với những cá nhân và các cộng đồng, bảo vệ cho tất cả những kẻ tin điều kiện cần thiết cho việc đóng góp trung thành của họ vào việc xây dựng xã hội, trong một thái độ phục vụ hữu hiệu, một cách đặc biệt đối với những người yếu đuối nhất và nghèo khổ.
Thưa ngài Chủ Tịch, tôi muốn kết thúc bằng việc ca tụng Đấng Chí Tôn và Thiên Chúa nhân từ về cơ hội hạnh phúc này, nó mang chúng ta lại với nhau trong danh thánh ngài. Tôi cầu xin để nó có thể là một dấu chỉ cho lời cam kết   đối thoại của chúng ta giữa những Kitô hữu và người Hồi Giáo, và là một điều khuyến khích để kiên trì trên bước đường này, trong sự tôn trọng và tình thân hữu. Ước gì chúng ta tiến tới một sự hiểu biết nhau hơn, tăng thêm những ràng buộc thân ái giữa chúng ta trong một ước vọng chung để sống với nhau trong hài hòa, bình an và tin tưởng lẫn nhau. Như những người có niềm tin, chúng ta hãy kín múc từ lời cầu nguyện của chúng ta sức mạnh cần thiết để vượt qua mọi trở ngại của thành kiến và hãy mang dấu chỉ đoàn kết đối với đức tin vững vàng của chúng ta trong Thiên Chúa. Nguyện xin phép lành của ngài luôn luôn ở với chúng ta.

Mục Lục

NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN TRONG CÔNG ĐỒNG VATICAN II (I)

                                                                                                                                                                                    NGUYỄN HỌC TẬP

LTS. Chúng tôi xin cáo lỗi với tác giả và quý độc giả, vì bài lần này chính là bài số 1 và bài lần trước là bài số 2.

Một khi đã xác nhận người tín hữu giáo dân là thành phần Cộng Đồng Dân Chúa, là phần Thân Thể Mầu Nhiệm Chúa Giêsu, tham dự vào ba tước vị của Người, tư tế, tiên tri và vương giả, cần phải xác định tham dự thế nào và có sự khác biệt nào giữa sự tham dự của họ, khác với sự tham dự của hàng giáo phẩm, nhứt là trong tước vị tư tế.
A- Tư Tế
Vấn đề được đặt ra là sự khác biệt giữa chức tư tế chung ( comune) của các thành phần trong Cộng Đồng Dân Chúa và tư tế thừa tác vụ (ministérielle) của hàng giáo phầm. Chương II của Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân ( LG ) đề cập đến vấn đề đang bàn ở số 10.
* Trước tiên Hiến Chế LG, qua những trích dẫn Tân Ước, nói lên tước vị tư tế của mọi tín hữu Chúa Ki Tô ( giáo sĩ cũng như giáo dân), với đặc tính liên quan đến đời sống trước khi liên quan đến động tác tế tự: " Thật vậy, những người chịu phép rửa, qua biến cố tái sinh và được Chúa Thánh Thần xức dầu, họ được thánh hoá để trở nên nơi cư ngụ thiên  thánh và biến thành tư tế thánh thiện, để qua các tác động Ki Tô hữu của họ, họ dâng lên Chúa những của lễ thiêng thánh và loan báo những kỳ công của Đấng từ bóng tối đã gọi họ vào ánh sáng diệu huyền" ( LG II, 10).
   * Kế đến, Hiến Chế LG đề cập đến sự khác biệt giữa thiên chức tư tế chung của mọi tín hữu và chức tư tế thừa tác vụ của hàng giáo phẩm: " Chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác vụ ( ministériel) hay tư tế phẩm trật, mặc dầu khác biệt nhau tự bản chất chớ không phải khác nhau về thứ bậc, cả hai đều được thiết lập liên đới nhau: thật vậy, mỗi thiên chức tùy theo cách hành xử của mình, nhưng cả hai đều cùng tham dự vào chức tư tế duy nhứt của Chúa Ki Tô" ( LG 2, id.).
 Sự khác biệt đó được gọi là quyền năng, qua đó chức tư tế thừa tác vụ được giao cho phận vụ:
- xây dựng và hướng dẫn Cộng Đồng Dân Chúa tư tế,
- tác động dâng hiến Thánh Thể nhân danh Chúa Ki Tô.
- và dâng hiến Thánh Thể nhân danh Cộng Đồng Dân Chúa.
Nhưng dù cho có sự khác biệt tự bản thể, chức tư tế chung của các tín hữu cũng như chức tư tế thừa tác vụ của hàng giáo phẩm đều được đặt trên một nền tàng chung, trên chức tư tế của Chúa Ki Tô mà mọi thành phần dân Chúa đều tham dự, tín hữu cũng như thừa tác viên.
Như vậy, chức tư tế chung không phải chỉ là của người tín hữu giáo dân, mà là của cả Cộng Đồng Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ cũng như giáo dân. Chức tư tế thừa tác vụ là để tác động cho Cộng Đồng Dân Chúa, ở một thứ bậc và bản chất khác.
Diển tả như vậy, Công Đồng Vatican II đã lấy lại hình ảnh Cộng Đồng Dân Chúa theo truyền thống Cựu Ước, cả dân Do Thái là dân thánh dâng lễ ngợi khen và cảm tạ những gì Thiên Chúa đã làm cho mình. Đồng thời cũng giữ được đặc tính đặc biệt của chức tư tế thừa tác vụ của hàng giáo phẩm, so với những gì các Ki Tô hữu khác có thể tham dự vào chức tư tế của Chúa Giêsu.
Sau khi đề cập đến chức tư tế thừa tác vụ của hàng giáo phẩm, nhứt là của các Giám Mục, ở chương III, Công Đồng đề cập đến chức tư tế chung của các tín hữu giáo dân ở chương IV, số 34, một cách ngắn gọn, nhưng rất súc tích:  " Chúa Giêsu Ki Tô, Vị Tư Tế Thượng Phẩm và Vĩnh Viễn, cũng muốn tiếp tục qua các động tác của giáo dân nhân chứng và phục vụ của mình, làm cho họ sống động bằng Thánh Thần của mình và không ngừng thúc đầy họ trong mọi hành động tốt lành và trọn hảo. Thật vậy, qua họ Người liên hệ mật thiết với đời sống và sứ mạng, cũng ban cho họ một phần phận vụ tư tế của Người để họ thực hiện động tác tế tự thiêng liêng, để Thiên Chúa được tôn vinh và cứu rỗi con người. Do đó, các tín hữu giáo dân, được dâng hiến cho Chúa Ki tô và được Chúa Thánh Thần thánh hoá, họ được mời gọi và huấn dạy một cách tuyệt hảo để Chúa Thánh Thần thực hiện nơi họ những kết quả luôn luôn sung túc nhứt. Thật vậy, mọi hoạt động, lời cầu nguyện và các sáng kiến tông đồ của họ, đời sống hôn nhân và gia đình, công việc hằng ngày, các nâng đở tinh thần và thể xác, nếu được thực hiện trong Chúa Thánh Thần, và ngay cả đến những vấn đề phiền nảo trong cuộc sống, nếu họ biết nhẫn nại chịu đựng, tất cả đều trở nên của lễ hy sinh dâng hiến đẹp lòng Thiên Chúa nhờ Chúa Giêsu. Và những gì vừa kể, trong Thánh Lễ là những của lễ rất tốt đẹp dâng lên Chúa Cha cùng chung với Thánh Thể Chúa Giêsu. Như vậy người tín hữu giáo dân, tác động thánh thiện ở mọi nơi như là những người tôn thờ Thiên Chúa, họ dâng hiến chính thế giới cho Chúa" ( LG 4, 34). 
Nói cách khác, người tín hữu giáo dân là người sống chức tư tế của Chúa Giêsu trong cuộc sống của họ. Dâng hiến mình, động tác của mình, cả môi trường sống của mình và thánh hoá anh em, để dâng hiến tất cả cho Chúa. Chức tư tế của người tín hữu giáo dân  trùng hợp với đời sống tác động  thánh hoá môi trường mình đang sống và dâng cho Chúa. Sống trong Chúa Thánh Thần là hướng về Chúa, dâng hiến cho Chúa đời sống và động tác sống của mình.
Những gì vừa kể cho chúng ta thấy
- vai trò của Chúa Thánh Thần: trong Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể hướng về Chúa Cha trong tâm tình con cái.
- chiều hướng theo khuôn mẫu Chúa Ki tô của đời sống Ki Tô giáo: sống hướng về Chúa Cha là sống như Chúa Giêsu.
- dâng hiến thế giới cho Chúa: sống và hành động làm cho tốt đẹp, hoàn thiện môi trường sống của mình để hướng tất cả về cho Chúa.
Sống cuộc sống thánh thiện đối với người tín hữu giáo dân, không cần phải loại thế gian ra khỏi đời sống mình, sống lánh xa thế tục, mà là sống giữa thế gian, hành động tốt đẹp để thánh hoá thế gian và quy hướng thế gian về với Chúa, để mọi yếu tố trần thế đều có ý nghĩa hiện hữu và cùng đích của mình nơi Chúa.
Tác động thánh thiện trong mọi hoàn cảnh là đã dâng hiến cho Chúa, quy hướng thế gian về với Chúa, sống chức tế tự của mình tham dự vào chức tế tự của Chúa Ki Tô.

B - Tiên tri.
Thiên chức tiên tri trong Cộng Đồng Dân Chúa, trải qua nhiều thế kỷ, dường như bị lãng quên. Bởi lẽ
- tiên trị, được hiểu là loan báo biến cố Ki Tô giáo trong tương lai, tuyên bố về ngày cánh chung. Chúa Giêsu là tiên tri, bởi vì Người thực hiện các lời được các tiên tri báo trước.
- tiên tri, được hiểu như là mạc khải những gì mới lạ, trong khi đó thì giáo lý dạy chúng ta là những gì Chúa muốn, Chúa đã mạc khải cho chúng ta tất cả, mạc khải được kết thúc với cái chết của vị Tông Đồ cuối cùng.
Trái lại đối với Công Đồng Vatican II, tiên tri là loan truyền và làm nhân chứng sống về Chúa Ki Tô, bằng chính đời sống đức tin và bác ái của mình, như là dâng lên Chúa của lễ ngợi khen, " ...bằng chính miệng lưỡi mà ca tụng Danh Thánh Chúa" ( Heb 13, 15).
Như vậy, tiên tri là nhân chứng và tuyên xưng đức tin.
Nhân chứng không chỉ có nghĩa là loan truyền đức tin, mà hàm chứa cả việc thực hiện đức bác ái: " Người tín hữu giáo dân chứng tỏ mình là con cái của lời Chúa hứa, nếu họ có đức tin vững mạnh và niềm hy vọng không lay chuyển, biết hành động có kết quả trong hiện tại  ( Eph 5, 16; Co 4, 5) và với lòng kiên nhẫn biết trông đợi vinh quang tương lai ( Rom 8, 5). Và niềm hy vọng vừa kể họ không chôn giấu trong tâm hồn, nhưng luôn luôn biết tiếp tục hối cải và chiến đấu chống lại những kẻ thống trị thế giới tối tăm nầy và chống lại các tinh thần quái ác ( Eph 6, 12), diển tả niềm hy vọng đó qua các cấu trúc của đời sống trần thế".>/i>
Như vậy sống năng chức tiên tri là sống bằng đời sống nhân chứng đạo đức, hành thiện, được đặt nền tảng trên đức tin, nhờ đó người tín hữu Chúa Ki tô tự bẩm sinh mình có thể cách hành xử và đem ra thực hiện, nhờ sức mạnh của Thánh Thần chân lý ( LG 12).
Khả năng bẩm sinh đó khiến cho người tín hữu
- gắn bó với đức tin,
- thấu hiểu thâm sâu vào các mầu nhiệm đức tin,
- đem ra thực hành một cách hoàn hảo trong cuộc sống.
Trong các bản văn trích dẫn, chúng ta không thấy Công Đồng đề cập đến cá nhân như là người có đặc sủng tiên đoán được tương lai, mà là phận vụ chung để loan báo và làm nhân chứng của Cộng Đồng Dân Chúa. Chương 12 của Hiến Chế LG nhắc nhở chúng ta là " cả dân Chúa, từ Giám Mục đến người tín hữu giáo dân cuối cùng" đều được Chúa ban cho đức tin, hiểu biết ý nghĩa đức tin, đều đồng thuận chấp nhận những gì thuộc về đức tin và luân lý.
Hiểu biết nội dung ý nghĩa đức tin được mạc khải và cùng nhau tin  những gì được Chúa mạc khải cho qua các Thánh Tông Đồ và qua Giáo Hội, tiếp tục sứ mạng truyền bá đức tin của các Ngài, hàng giáo phẩm và giáo dân không thể nào không đồng nhứt với nhau về đức tin.
Mỗi thành phần Dân Chúa đều tham dự vào thiên chức tiên tri duy nhứt của Chúa Giêsu, mỗi người tùy theo phần của mình: " Chúa Ki Tô là Đấng Tiên Tri Cả, chứng nhân bằng chính đời sống mình và bằng sức mạnh của lời giảng dạy đã tuyên xưng vương quốc của Chúa Cha, tiếp tục chu toàn phận vụ duy nhứt của Ngài cho đến khi vinh quang Thiên Chúa được tỏ rạng trọn vẹn, không những qua hàng giáo phẩm, là những vị giảng dạy nhân danh và với quyền năng của Ngài, mà còn qua các tín hữu giáo dân, qua họ Ngài thiết lập những nhân chứng của Ngài, giáo huấn họ trong ý nghĩa đức tin và trong ân sủng của lời giảng dạy ( Act 2, 17-18; Ap 19, 10), nhờ đó sức mạnh Phúc Âm được chiếu sáng trong cuộc sống hằng ngày, trong gia đình và xã hội" ( LG 4, 35).
Như vậy phận vụ tiên tri được thực hiện bằng nhân chứng.
Phận vụ đó không chỉ thể hiện trong một vài thời điểm nào đó trong đời sống, mà gắn liền với cả sự hiện hữu con người, bởi vì không có gì thuộc về con người mà không được ảnh hưởng cứu rỗi của Chúa Ki Tô liên quan đến và không liên hệ đến niềm hy vọng tốt lành.
Nhân chứng hay phận vụ tiên tri được thể hiện bằng đời sống và bằng ngôn từ: người tín hữu giáo dân cũng có phận sự rao giảng Phúc Âm, " ...phận sự đó mang tính cách đặc biệt và đặc biệt hữu hiệu, bởi vì là phận vụ được thực hiện ngay trong những hoàn cảnh sống thông thường giữa trần thế " ( LG 4, 35).
Đặc tính đó của người tín hữu giáo dân trong phận vụ rao giảng Phúc Âm còn được Công Đồng Vatican II nêu rõ hơn nữa, là phận vụ rao giảng Phúc Âm liên hệ đến các động tác của họ chuyên lo trong các lãnh vực trần thế:  " Người tín hữu giáo dân, ngay cả khi họ chuyên lo các lãnh vực trần thế, họ cũng có thể và họ phải thực hiện động tác qúy báu rao giảng Phúc Âm cho thế gian" ( LG 4, 35).
Như vậy động tác rao giảng Phúc Âm không chỉ được dành riêng trong một vài khoản không gian, đặc ân hay trong một vài chức năng chính thức nào đó, mà là động tác được ấn tín trên cấu trúc cuộc sống đức tin hằng ngày của người tín hữu: " trong cuộc sống hôn nhân và gia đình", như Công Đồng đề cập, để nói lên đến môi trường nào tinh thần Phúc Âm có thể thẩm thấu được.
Như vậy, nơi thực hiện phận vụ tiên tri của mình cũng là nơi huấn luyện tuyệt hảo cho người tín hữu giáo dân thi hành phận vụ tông đồ của họ. Đó cũng là môi trường đức tin Ki Tô Giáo thẩm thấu mọi cách sống và mỗi ngày biến đổi cuộc sống thế trần của người tín hữu Chúa Ki Tô thành cuộc sống trần thế thấm đầy ánh sáng Phúc Âm.
Như vậy, đôi vợ chồng tín hữu Chúa Ki Tô được mời gọi người nầy trở thành tiên tri ( nhân chứng Phúc Âm) cho người kia và cha mẹ là tiên tri ( nhân chứng Phúc Âm) cho con cái, nhân chứng đức tin và tình thương của Chúa Ki Tô.
Với cách hành xử đó, gia đình Ki Tô giáo lớn tiếng tuyên xưng các đức tính hiện tại của Nước Thiên Chúa và niềm hy vọng vào cuộc sống diễm phúc trên Thiên Quốc.
Và hiểu như vậy, chúng ta hiểu được phận vụ tiên tri ( nhân chứng Phúc Âm) không phải chỉ được thể hiện dưới hình thức cộng đồng trong Cộng Đồng Dân Chúa. Đặc tính chung của Cộng Đồng Dân Chúa được thể hiện trong cuộc sống và trong lãnh vực nghề nghiệp của mỗi người tín hữu giáo dân.
Ý thức được phận vụ của mình tham dự vào sứ mạng rao giảng Phúc Âm của Giáo Hội, mặc nhiên hàm chứa việc các tín hữu giáo dân phải được học hỏi, chuẩn bị trưởng thành về đức tin, ngoài ra được soi sáng bởi ánh sáng khôn ngoan Ki Tô giáo.
Và đó là phận vụ hàng giáo phẩm phải cung cấp cho họ: " Họ trên trông đợi ở các vị linh mục ánh sáng và sức mạnh thiêng liêng" ( GS, 43). 
Ai  cũng biết rằng qua nhiều thế kỷ, do sự dốt nát và không có thẩm quyền về tín lý, các tín hữu giáo dân bị đặt ra bên lề việc tham dự vào sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội.

C - Vương giả
Ở chương II Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân ( LG ), chương đề cập đến Cộng Đồng Dân Chúa, Công Đồng không đề cập đến việc tham dự của Dân Chúa vào thiên tước vương giả của Chúa Ki Tô. Ở số 13  chương II, Công Đồng nói lướt qua về các thành phần Cộng Đồng Dân Chúa tham dự vào thiên tước vương giả của Người. Điều vừa kể cho thấy chủ ý của Ủy Ban Tín Lý là không muốn áp đặt một nền thần học về ba tước vị của Chúa Ki Tô như một sơ đồ cứng rắn. Trong ba tước vị của Chúa Ki Tô, lấy lại tư tưởng của Thánh Kinh, thiên chức vương giả được đề cập đến ở chương IV, đoạn 16.
Và Ủy Ban Tín Lý cũng lưu ý đến cách hiểu của Công Đồng Vatican II về ba tước vị đó: phượng tự, nhân chứng và phục vụ trong Cộng Đồng Dân Chúa:  " Quyền năng nầy ( quyền năng vương giả) Chúa Giêsu đã thông ban cho các môn đệ Người, để một khi họ có được địa vị trong tự do vương giả, chính họ cũng loại bỏ được quyền năng của tội lỗi nơi chính họ bằng cuộc sống hy sinh từ bỏ và thánh thiện ( Rom 6, 12), hơn nữa, để phục vụ Chúa Giêsu nơi người khác, trong khiêm nhường và nhẫn nại, họ có thể hướng dẫn anh em họ đến vị Vua, mà thần dân của Người chính họ cũng là những nhà vua" ( LG IV, 36). 
Như vậy vương tước được thể hiện dưới hình thức phục vụ. Mẫu gương và tiêu chuẩn để đối chiếu của vương tước đó chính là Chúa Ki Tô. Người đã đạt đến tước vị vương giả của Người qua đức vâng lời. Giờ đây Người đang ngự trị ( Mt 28, 20) và ban cho các môn đệ Người tham dự vào vương tước của Người.
Tham dự vào vương tước đó là làm cho người tín hữu Chúa Ki tô ở vào địa vị
"tự do vương giả ": chiến thắng trên vương quyền tội lỗi và phục vụ Chúa Ki Tô trong người khác, để hướng dẫn mọi người đến với Người.
Phục vụ, tự do và vương giả, đó là những ý niệm để diển tả địa vị của những ai thuộc về vương quyền của Chúa Ki Tô và hành xử trong địa vị vương tước của mình. Nước Thiên Chúa dần dần được thực hiện trong dòng lịch sử con người, cũng qua chính động tác của người tín hữu giáo dân.
Động tác để thực hiện Nước Thiên Chúa được thể hiện
- đối với các chủ thể con người,
- đối với các tạo vật được dựng nên.
Động tác đem Nước Thiên Chúa đến với con người để biến hoá con người và thánh hoá tạo vật như vừa kể, được Công Đồng lấy lại các tư tưởng của nền thần học trước Công Đồng, liên quan đến việc
- nhận biết giá trị của mỗi tạo vật được dựng nên, "Và Thiên Chúa nhìn thấy đó là điều tốt đẹp" ( Gn 1, 4.10.12.18.21.25. 31).
- hướng dẫn và sắp đặt thiết định các tạo vật để ngợi khen Thiên Chúa.
Ủy Ban Tín Lý " nói lên giá trị của mọi tạo vật để nhấn mạnh sứ mạng tông đồ trên của cải vật chất, nhắc nhớ rằng sứ mạng tông đồ của người tín hữu giáo dân không phải là tự mình gán cho các tạo vật những giá trị từ bên ngoài "
( Giacomo Canobbio, id., 226). - " Động tác của các tín hữu giáo dân đối với tạo vật hệ tại ở việc biến đổi chúng qua việc làm của mình và phân phát chúng thế nào để góp phần thăng tiến nhân loại trong tự do và trong tự do tinh thần Ki Tô giáo" ( Giacomo Canobbio, id.).
Như vậy, " Qua các thành phần của Giáo Hội, Chúa Ki Tô càng ngày càng chiếu toả ánh sáng cứu rỗi của Người cho cả  cộng đồng nhân loại " ( LG, 36). Động tác cứu rỗi của Chúa Ki Tô được thực hiện giữa xã hội loài người và nhờ động tác của người tín hữu giáo dân. " Chúa Ki Tô càng ngày càng chiếu toả ánh sáng cứu rỗi của Người cho cả cộng đồng nhân loại ", nói cách khác,  "tác động cứu rỗi của Chúa Ki Tô...cho cả cộng đồng nhân loại ".
Động tác cứu rỗi đó không những không giới hạn ở việc rao giảng tín lý, mà còn bao gồm cả động tác biến cải,
- giải thoát  ý nghĩa và địa vị cao cả của con người " được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa" ( Gn 1, 27) và là " con Thiên Chúa" ( Mt 6, 9), khỏi ách nô lệ của tội lỗi và sự chết,
- và giải thoát ý nghĩa chính đáng nguyên thủy và cao cả của mọi toại vật, được Thiên Chúa đặt để nơi chúng, khi Chúa dựng nên chúng.
Trong nhãn quang vừa kể, câu khẳng định căn bản của Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân ( LG ) về sứ mạng truyền giáo của người tín hữu giáo dân được đặt trên nền tảng Ki Tô học   ( Christologia):  " Sứ mạng tông đồ của người tín hữu giáo dân là tham dự vào chính sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội. Và đối với sứ mạng nầy, tất cả đều được chính Chúa ủy thác cho qua phép Rửa và phép Thêm Sức " ( LG IV, 33).
Và Nghị Định Thực Hiện Truyền Giáo ( Decretum Apostolicam Actuositatem, AA) còn thêm:  " Ơn kêu gọi Ki Tô hữu (...) do bản tính của mình là ơn kêu gọi tông đồ " ( AA, 2).
Trở nên giống Chúa Ki Tô, qua phép Rửa, thành phần thân thể mầu nhiệm của Người, làm cho người tín hữu Chúa Ki Tô, tham dự vào phận vụ cứu rỗi của Người. Chúng ta không thể tách rời thực tại bản thể ( réalité ontologique) của Chúa Ki Tô ra khỏi phận vụ cứu rỗi của Người, cũng vậy chúng ta không thể tách rời thực thể trở nên giống Chúa Ki Tô ( conforme au Chirst) của người tín hữu ra khỏi phận vụ tham dự vào sứ mạng cứu rỗi. Không có một động tác nào của người tín hữu Chúa  Ki Tô đích thực mà không là tác động một cách nào đó, thực thi sứ mạng cứu rỗi của Người. Không thể tách rời động tác nội bộ nào của Giáo Hội ( intraecclesialis) có tính cách tông đồ và thuộc về Giáo Hội, mà không liên hệ một cách nào đó đến động tác hướng ngoại (extraecclesialis) không có giá trị tông đồ và thuộc về sứ mạng của Giáo Hội.
Với một nhãn quang tổng quát: cả Cộng Đồng Giáo Hội đều tham dự vào sứ mạng của Chúa Ki Tô; mỗi người tín hữu Chúa Ki Tô ( giáo sĩ, tu sĩ cũng như giáo dân), mỗi người tùy theo phần của mình, thực hiện toàn diện sứ mạng nầy, bởi vì qua Giáo Hội, mỗi người được tháp ghép vào Chúa Ki tô và thông hiệp, trở nên giống như Người ( conforme au Christ). Mỗi người có những đặc tính sống và hành động tham dự vào sứ mạng của Giáo Hội của mình, được xác định do hoàn cảnh và điều kiện của cuộc sống, tại vị trí đó mỗi người được ơn gọi của mình cắt đặt mình và do ân sủng Chúa Thánh Linh xếp đặt cho mình.
 
Mục Lục

DƯ ÂM LỊCH PHỤNG VỤ & SỔ TAY 2007

(tiếp theo)

Kính thưa quý độc giả,

Qua một tháng phát hành cuốn Lịch Phụng vụ & Sổ tay 2007, cảm tạ Chúa đang giúp cuốn lịch phát hành tại hải ngoại và quốc nội sắp đạt được chỉ tiêu. Ðiều kỳ lạ trong việc phát hành lần này chúng tôi nhận ra Chúa không giúp cho kế hoạch quảng bá rầm rộ như đã dự liệu trên các cơ sở truyền thông bên trong cũng như bên ngoài. Mọi dự trù của chúng tôi đều không thực hiện được. Thêm vào đó, việc bầy bán Lịch tại các nơi hội h̔