|
|
Hiệp Thông Chuyển Cầu số 02 Ngày 21.12.2006
Thưa quý độc giả, kể từ nay Điện báo Mạng Lưới Chuyển Cầu sẽ được đổi tên thành HIỆP THÔNG CHUYỂN CẦU
Phi Lộ
Kính thưa quý độc giả,
Ðây là số báo thứ hai về Hiệp Thông Chuyển Cầu do Sứ Mệnh Giáo Dân gửi tới quý độc giả. Chúng tôi muốn hình thành tờ điện báo này chỉ lo về chuyên đề cầu nguyện. Ðây là những số báo đầu tiên chúng tôi giới thiệu những bài viết về cầu nguyện, đặc biệt về chuyển cầu để quý độc giả làm quen với đề tài này. Và trong những số tới, chúng tôi sẽ đề cập tới một số đề nghị cụ thể để chúng ta thiết lập được mạng lưới chuyển cầu cho chính chúng ta, cho những người thân, cho cộng đoàn, cho giáo hội và cho đất nước chúng ta. Rất mong quý độc giả tham dự và cầu nguyện cho mục vụ chuyển cầu này thành đạt tốt đẹp.
Bài vở trong số này gồm có:
* Ðức Giáo Hoàng Cầu nguyện - Hoàng Quý
* Con đường trái tim - Lm. Henri Nouwen
* Trợ tá cầu nguyện - John MaxwellHoàng Quý
Phải cầu nguyện thế nào?
Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, cuốn sách nổi tiếng của Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II với số bán kỷ lục thế giới năm 1995 đã nói với chúng ta về việc cầu nguyện như thế nào? Mở đầu cho phần nói về cầu nguyện, Ðức Gioan Phaolô II nhắc lại cho chúng ta lời Thánh Phaolô: "Thần Khí đến giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, nên chính Thần Khí chuyển cầu cho chúng ta bằng những tiếng rên khôn tả" (Rom 8:26). Và đây là lý do tại sao trong các buổihội họp hoặc cầu nguyện, truyền thống trong Giáo hội thường có thói quen tốt đẹp là hát hoặc đọc kinh cầu xin Chúa Thánh Thần đến giúp đỡ chúng ta.
Ðức Gioan Phaolô II nhắc nhở chúng ta hiểu rằng việc cầu nguyện không phải do sáng kiến hoặc khởi xướng của chúng ta, nhưng luôn luôn do Thiên Chúa khởi động, tạo sáng kiến nơi chúng ta. Chính cầu nguyện dẫn đưa chúng ta đi vào trạng thái xứng đáng siêu đẳng được làm con cái Thiên Chúa nhờ việc tạo dựng và cứu chuộc. Như vậy cầu nguyện là một chiếc đòn bẩy nâng chúng ta lên, vực chúng ta dậy và bước vào hàng ngũ con cái Thiên Chúa.
Cầu nguyện chính là lời thỉnh cầu xin Chúa thứ tha tội lỗi cho chúng ta, hiệp cùng với lời chuyển cầu của Chúa Cứu Thế, như Thánh Phaolô viết trong thư gửi các tín hữu Do Thái: "Khi còn mang thân xác con người, Ngài đã dâng lên cho Ðấng có thể cứu Ngài khỏi chết những lời cầu xin khẩn nguyện với lớn tiếng kêu van cùng nước mắt" (Dt 5:7).
Từ chỗ xin ơn tha thứ, cầu nguyện phải không ngừng tiến lên cao điểm là chúc tụng, là tôn vinh danh Chúa. Ở đây ÐGH dùng tiếng Latinh Opus Gloriae diễn tả lời cầu nguyện phải là công việc góp phần làm vinh danh Thiên Chúa. Và như vậy, tôn vinh Thiên Chúa khi cầu nguyện, chính là loài thụ tạo thi hành địa vị cao cả và ơn gọi của mình là nghĩa tử của Thiên Chúa. Cầu nguyện không phải hạ thấp phẩm giá con người, trái lại cầu nguyện nâng cao con người lên với Thiên Chúa. Nhìn thấu đáo nơi các vị Ðại Thánh như các Thánh Phanxicô, Têrêsa, Gioan Thánh Giá, Inhatiô, Anphôngsô, Don Bosco, chúng ta thấy gì nếu không phải là sự hiện diện vinh quang Thiên Chúa chiếu sáng nơi các ngài? (xem Jean Paul II, Entrez dans l'Espérance, Plon-Mame, 1994, tr. 41-44).
Ðức Giáo Hoàng cầu nguyện ra sao?
Trong chương kế tiếp cũng của cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, ÐHG nhìn nhận "Với tính cách là chứng tá của Chúa Kitô và là thừa tác viên Tin Mừng, giáo hoàng phải là con người của niềm vui và hy vọng. Niềm hân hoan chiến thắng điều xấu, không sao nhãng thực tế là tội ác và điều gian tà vẫn hiện hữu trong thế giới hôm nay và nơi mỗi con người. Tin Mừng dậy chúng ta phải gọi tên từng điều thiện việc ác, đồng thời cũng chỉ dậy cho chúng ta phải trở thành kẻ chiến thắng gian ác bằng việc thiện. Làm điều thiện không phải là chuyện dễ. Ðó là con đường hẹp Chúa Giêsu luôn luôn nói tới trong Tin Mừng. Và chính từ trung tâm cuộc giao tranh dành thắng lời cho điều thiện này giữa thế giới và trong lòng con người, nhu cầu phải cầu nguyện phát sinh và triển nở."
Ðối với ÐGH Gioan Phaolô II, trách vụ cầu nguyện là nhiệm vụ hàng đầu của ngài. Ngài không cầu nguyện cho mình, nhưng ngài chuyển cầu cho mọi người theo một tầm vóc, một kích thước rộng lớn nhất. Chúng ta hãy nghe ngài phát biểu: "Lời cầu nguyện của giáo hòang mang một tầm kích đặc biệt nhất. Ôm ấp những lắng lo cho Giáo hội trong trí óc và trong tâm khảm khiến hàng ngày, qua cầu nguyện, giáo hoàng đi một vòng hành hương khắp thế giới. Như vậy giáo hoàng có một bản đồ thế giới dành cho cầu nguyện: bản đồ của các cộng đoàn, các Giáo hội, các xã hội cũng như các vấn đề nổi lên giữa thời đại hôm nay. Theo nghĩa này, giáo hoàng được mời gọi phải cầu nguyện cho đại đồng bao gồm toàn thể Giáo hội rộng lớn hoàn vũ. Giáo hoàng trình bầy trước Thiên Chúa tất cả niềm vui và hy vọng, cũng như đồng thời các khổ đau và khắc khoải Giáo hội đang cùng chia sẻ với xã hội đương thời. Năm 2000 đang hình thành một thách thức đích thực. Tuy nhiên nơi đâu tội lỗi gia tăng, nơi đó ơn thánh cũng tràn ngập (ubi abundavit peccatum, superabundavit gracia).
Sự thực thâm sâu này nhắc nhở thường trực lời mời gọi khẩn thiết phải cầu nguyện. Thiên Chúa trao phó mọi người cho từng người chúng ta và từng người chúng ta cho mọi người. Tất cả chúng ta đều là 'con cái của lời giao hứa.' Cũng như chính Chúa Kitô nói với các môn đệ: 'Hãy can đảm lên: Thầy đã chiến thắng thế gian' (Ga 4:28). Tuy nhiên Ngài cũng không khỏi không bận tâm: 'Nhưng Con Người khi trở lại, liệu còn tìm thấy niềm tin trên trái đất không?' Tất cả đều nói lên tầm vóc cần thiết phải cầu nguyện truyền giáo trong Giáo hội."
Thực vậy, Giáo hội cùng với các tín hữu phải cầu nguyện để khắp nơi phải 'hoàn thành công việc cứu độ thế gian của Chúa Kitô. Giáo hội phải cầu nguyện để không ngừng hoàn tất sứ mệnh mình đã nhận lãnh từ nơi Thiên Chúa.
Và để kết thúc cho phần huấn dụ chúng ta về nhu cầu khẩn thiết phải cầu nguyện, Ðức Gioan Phaolô phát biểu: "Cầu nguyện một trật vừa là việc tìm kiếm Thiên Chúa vừa là việc Thiên Chúa mặc khải chính mình cho chúng ta. Thiên Chúa mặc khải mình là Ðấng tạo Hóa, là Người Cha, là Vị Cứu Chúa và Cứu Ðộ, là Thần Khí. Trong cầu nguyện, trước tiên Thiên Chúa biểu lộ chính mình như Lòng Thương Xót, nghĩa là như một Tình Yêu đi đến tìm gặp con người khổ đau. Tình yêu này che chở, đỡ nâng và mời gọi lòng tín thác. Sự chiến thắng của điều thiện trong thế giới phải được nối kết mật thiết với cầu nguyện. Tâm hồn cầu nguyện chíùnh là tâm hồn tuyên xưng chân ký này và làm hiện diện giữa thế giới một Vị Thiên Chúa của Tình Yêu Xót Thương."
(Jean-Paul II, Entrez dans l'Espérance, Plon-Mame, 1994, tr. 41-54)
CON ÐƯỜNG TRÁI TIM (The Way of the Heart)
Lm. Henri J.M. Nouwen
Thanh vắng (solitude) chỉ cho chúng ta con đường phải tạo hình lại tư cách của chúng ta, không phải do các sức ép của thế giới, nhưng do một não trạng mới, não trạng của Ðức Kitô. Thanh lặng ngăn ngừa chúng ta khỏi bị ngộp thở vì thế giới lắm điều tiếng này và dậy chúng ta cách thức nói Lời Thiên Chúa. Sau cùng, cầu nguyện không ngừng đem lại ý nghĩa đích thực cho an tĩnh và thanh lặng. Trong cầu nguyện không ngừng, cùng với trí óc, chúng ta đi vào trái tim mình. Như vậy, nhờ đi qua trái tim mình, chúng ta tiến vào trái tim Chúa, Ðấng ôm ấp tất cả lịch sử bằng tình yêu đời đời sáng tạo và tái tạo của Ngài.
Cuốn sách này được khơi dẫn từ khóa hội thảo về linh đạo sa mạc tại Yale Divinity School. Ðây là một trong những cuộc hội thảo khích động cha Nouwen nhiều nhất. Cuộc hội thảo này gồm có năm nữ nhân và mười một nam nhân đại diện cho các truyền thống tôn giáo khác nhau như Unitarian, Baptist, Presbyterian, Dutch Reformed, Disciples of Christ, Công Giáo và Chính Thống Giáo. Cuộc hội thảo gồm có các lứa tuổi từ tuổi hai mươi đến bốn mươi và thuộc địa dư rộng lớn từ Hoa Kỳ tới Ái Nhĩ Lan, Hòa Lan và Úc Châu. Tất cả các hội thảo viên đều cố công khám phá những gì các vị Chân Tu trong Sa Mạc thuộc thế kỷ thứ tư đã nói với những ai muốn trở thành các thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô trong kỷ nguyên này.
Họ trao đổi tư tưởng và kinh nghiệm từ các câu chuyện trong sa mạc, dần dần mọi người nhìn ra "con đường trái tim" chính là con đường nối kết mọi người lại với nhau, dầu cho những dị biệt về lịch sử, địa dư, tâm lý hoặc tôn giáo. Chính nhờ những khám phá mới mẻ và thâm sâu này, cha Nouwen đã trình bầy đề tài "Con đường trái tim" tại Perkins School of Theology ở Dallas và National Convention of Pastoral Counselors ở Denver. Và cha Nouwen đã nhận được cuộc đối thoại trong các cơ hội này.
LỜI DẪN NHẬP
Cuốn sách này được xuất bản lần đầu vào năm 1981, cách Năm Thánh 2000 khoảng 20 năm, do đó thời gian tính đã trôi qua, nhưng lời tiên tri của cha Nouwen vẫn còn giá trị. Vào thời điểm ấy, cách đây 20 năm, cha Nouwen đặt câu hỏi: "Chúng ta còn gì để cử hành Năm Thánh 2000?" Nhiều người tự hỏi liệu nhân loại còn sống sót với những sức mạnh hủy diệt của mình không? Khi chúng ta suy tư về tầm mức tăng trường nghèo đói, sức lan tràn mau chóng của hận thù cũng như bạo lực giữa các quốc gia, mức thiết lập các hệ thống vũ khí nguyên tử hãi hùng, chúng ta đi đến nhận thức thế giới này như đã lên tầu trong chuyến đi tự sát. Chúng ta phải đau khổ nhớ lại lời Thánh Sử Gioan:
"Ngôi Lời... ánh sáng chân thực...đang đến trong thế gian... nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận Người" (Ga 1:9-11).
Xem ra màn đêm mỗi lúc mỗi dầy đặc, quyền lực của quỷ dữ mỗi hoành hành. Hơn bao giờ hết con cái của Thiên Chúa bị thử thách nghiêm trọng như chưa từng thấy.
Từ những nhận thức vừa rồi, cha Nouwen vẫn tư lự đặt câu hỏi cho mình: làm thế nào để trở thành người thừa hành (thừa tác viên) của Chúa giữa hoàn cảnh sống đầy trăn trở như thế? Cần những điều kiện nào để các thiện nam tín nữ của Chúa muốn đem ánh sáng vào chốn tối tăm, "đem tin vui cho người nghèo khổ, công bố tự do cho người bị giam hãm, mở mắt cho người đui mù, trả tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồng ân của Chúa" (Lc 4:18-19)? Ðâu là những đòi hỏi cho các tín hữu được Chúa mời gọi dấn thân vào những rối loạn và hấp hối của thời đại để nói lên lời hy vọng?
Phải chăng không khó khăn khi chúng ta nhìn vào tấm thảm cảnh hãi hùng của thời đại hôm nay, nơi chúng ta đang dấn thân trong các giáo xứ, trường học, bệnh viện, nhà tù, để có thể hoàn thành được trách vụ đem ánh sáng Chúa Kitô chiếu dọi vào những nơi còn tối tăm? Biết bao người trong chúng ta đã lâm vào tình trạng thờ ơ hững hờ, hơn thế nữa, còn trở thành những phản chứng của Tin Mừng. Nhiều người lại trở thành mệt mỏi, kiệt quệ, chán nản, cay đắng và nôn mửa. Còn một số khác hoạt động và dấn thân hơn, nhưng kết cuộc, họ hăng say làm sáng danh họ hơn làm sáng Danh Chúa Giêsu Kitô.
Làm thế nào có thễ vẫn duy trì được sức sống sáng tạo, lòng nhiệt thành dấn thân cho Lời Chúa, mong mỏi phục vụ và khởi động các đoàn đội?
Làm sao chúng ta tìm ra được sức nuôi dưỡng và kiên cường?
Làm thế nào chúng ta làm thuyên giảm được những đói khát tâm linh?
Làm thế nào ngăn chặn được những hục hoặc, những chèn ép, những chia rẽ đang trở thành trầm trọng trong Hội Thánh của Chúa?Cha Nouwen đặt ra những câu hỏi vừa rồi để tiếp theo trong tập sách nhỏ này, cha giới thiệu cho chúng ta một số tư tưởng cũng như kỷ luật giúp mình cố gắng trở thành những chứng tá sống động của Chúa Kitô giữa thời đại đầy những cám dỗ, những cạm bẫy biến chúng ta trở thành những con người bất trung, tập trung vào lối sống tiện nghi ích kỷ và kết cục dẫn tới con đường tuyệt vọng không lối thoát.
Chúng ta tìm ra lối thoát ở đâu? Có phải nơi những nhà tư tưởng và tu đức nổi danh thế giới như Jacques Ellul, William Stringfellow, Thomas Merton, Teilhard de Chardin? Những vị này nói rất nhiều và rất thâm thúy, nhưng ở đây cha Nouwen đặt chú tâm vào nguồn mạch cảm hứng nơi những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo. Những lời hướng dẫn đầy thần khí này thật đơn giản, cụ thể và trực tiếp, có thể dẫn dắt chúng ta đi thẳng vào cuộc chiến đấu. Nguồn mạch này chính là Apophthegmata Patrum, tức là những lời chỉ dậy của các Giáo Phụ Sa Mạc. Các Giáo Phụ Sa Mạc sống trong sa mạc Ai Cập vào các thế kỷ thứ tư và thứ năm, có thể cung ứng cho chúng ta viễn ảnh thật quan yếu, giúp chúng ta sống tốt đẹp tác vụ của chúng ta giữa thời đại hôm nay. Các vị Giáo Phụ là các Kitô hữu đã đi tìm một hình thức tử đạo mới. Một khi các cuộc bách hại chấm dứt, thật khó có thể làm chứng nhân cho Chúa Giêsu Kitô khi đi theo Ngài bằng chứng tá đẫm máu. Tuy nhiên, chấm dứt bách hại không có nghĩa thế giới đã chấp nhận Tin Mừng của Chúa Kitô và đã thay đổi đường lối chống đối. Thế giới lúc nào cũng tiếp tục yêu chuộng đêm tối hơn ánh sáng (Ga 3:19). Và giả như thế giới không còn là địch thủ của các Kitô hữu nữa, thì các Kitô hữu vẫn phải là đối thủ của bóng đêm thế giới. Lui vào sa mạc là con đường tránh thoát sống phù phiếm, sống lệ thuộc vào thế gian. Antôn, Agathon, Macarius, Poemen, Theodora, Sarah và Syncletica trở thành các nhà dìu dắt tâm linh. Tại đây các ngài đã trở thành các thánh tử đạo theo lối mới: là các chứng nhân chống lại sức mạnh hủy diệt của quỷ ma, là các chứng tá cho sức mạnh cứu độ của Chúa Giêsu Kitô.
Cha Nouwen học từ các giải thích linh đạo, từ những lời khuyên nhủ các khách thăm viếng và từ cách thực hành tu trì khắc khổ thực tiễn của các vị tu hành này, như những nền tảng, những căn bản cho con đường tu đức, cho lối sống đạo của các thừa tác viên ngày nay phải noi theo. Như các Giáo Phụ Nam Nữ Sa mạc, chúng ta cần tìm ra lối đường sống thực tiễn theo lời khuyên của Thánh Phaolô: "Anh em đừng rập khuôn theo lối cư xử của thế gian vây quanh anh em, nhưng cải biến lối xử thế của anh em bằng cách rập khuôn theo tinh thần mới. Ðó là cách thức giúp anh em nhận ra được ý Chúa và biết được đâu là điều tốt Chúa muốn và đâu là điều hoàn thiện cần phải làm theo" (Rom 12:2).
Ðễ hệ thống hóa các suy tư linh đạo này, cha Nouwen xử dụng câu chuyện kể về Abba Arsenius. Arsenius là nhà trí thức trong đẳng cấp nghị viên của Roma sống trong triều đình Ðại đế Theodosius, như nhà hộ giáo bên cạnh hai hoàng tử Arcadius và Honorius. Câu chuyện được kể lại như sau: "Trong lúc đang sống trong hoàng cung, Abba Arsenius cầu nguyện với Chúa: 'Lạy Chúa, xin dẫn dắt con đi theo con đường cứu độ.' Và Arsenius nghe được tiếng nói: 'Arsenius, con hãy lẩn tránh khỏi thế gian này và con sẽ được cứu độ.' Thế là ông bí mật lên tầu dời Roma đi Alexandria và rút vào sống nếp sống u tịch trong sa mạc. Tại đây Arsenius tiếp tục cầu nguyện với Chúa: 'Lạy Chúa, xin dẫn dắt con đi theo con đường cứu độ.' Lần này ôngnghe được tiếng nói: 'Arsenius, con hãy trốn thoát, giữ thanh lặng và luôn luôn cầu nguyện, đó là tất cả nguồn mạch sống trong sạch.'" Theo cha Nouwen, các chữ trốn thoát, giữ thanh lặng và cầu nguyện đúc kết được linh đạo sa mạc. Ðường lối tu đức vừa rồi sẽ ngăn ngừa thế gian không rập khuôn chúng ta theo hình ảnh của nó được, và như vậy đường lối linh đạo này sẽ dẫn dắt chúng ta sống theo Thánh Thần.
Cha Nouwen coi như trách vụ đầu tiên của cha là phải định nghĩa thế nào là lẩn tránh khỏi thế gian. Ðó là ý nghĩ hai chữ Thanh Vắng (solitude). Trách vụ thứ hai là phải định nghĩa thanh lặng như yếu tố nền tảng của con đường tu đức trong mục vụ ngày nay. Sau cùng cha thách thức chúng ta sống ơn gọi cầu nguyện không ngừng.
Linh đạo sa mạc do cha Nouwen vừa giới thiệu phần nào có những nét tương đồng với linh đạo của Mẹ Têrêsa đi theo:
- Thanh lặng dẫn tới cầu nguyện
- Cầu nguyện đem đến niềm tin
- Niềm tin đem đến yêu thương
- Yêu thương dẫn đến phục vụ
- Phục vụ đem lại an bình.
Hầu hết các nhà tu đức nổi tiếng của thế kỷ 20 như cha Anthony de Mello, Thomas Merton, Karl Rahner, Basil Pennington, Thomas Keating đều hướng đến sa mạc học hỏi với các Giáo Phụ tại đây về đường lối tu đức, nhằm áp dụng cho thời đại hôm nay. Cha Henry Nouwen là một trong những kiện tướng cổ võ cho linh đạo sa mạc mang tầm vóc Giáo hội hoàn vũ đáng chúng ta học hỏi và noi theo.
THANH VẮNG
Nhập đề
Thánh Antôn, "người cha của các thầy khổ tu" là một hướng đạo viên tuyệt hảo giúp chúng ta hiểu được vai trò của thanh vắng trong mục vụ. Sinh năm 251, Antôn là thuộc gia đình nông dân Ai Cập. Năm lên mười tám, Antôn nghe lời Kinh Thánh trong thánh đường, "Hãy đi và bán hết tất cả những gì là tư hữu và phân phát tiền cho người nghèo khó rồi đến đây theo Ta" (Mt 19:21). Antôn nhận ra Lời Tin Mừng vừa rồi nói với chính mình. Sau một thời gian sống như một người lao công nghèo hèn nơi ven làng, Antôn rút lui vào sống trong sa mạc, nơi đó Antôn sống suốt hai mươi năm hoàn toàn thanh vắng. Trong những năm này, Antôn cảm nghiệm thấy một cuộc thử thách kinh hoàng. Cái vỏ sò của những yên ổn ngoài mặt tan vỡ và hố thẳm của tội lỗi đang mở ra trước mắt. Nhưng Antôn đã chiến thắng bước ra khỏi cơn thử thách cam go này - không phải vì sức mạnh của ý chí riêng mình hoặc những chiến công sống khắc khổ, nhưng chỉ vì việc quy phục vô điều kiện trước vương quyền của Chúa Giêsu Kitô. Khi Antôn chấm dứt thời gian sống trong thanh vắng, mọi người nhìn ra nơi ngài những những đức tính của một con người mạnh khỏe bình thường cả về tâm hồn, trí khôn lẫn thân xác. Người ta tuốn đến xin ngài chữa lành, ủy lạo và hướng dẫn. Vào lứa tuổi già, ngài lại rút vào nơi thanh vắng hơn nữa để hoàn toàn đắm mình trong mối tận hiệp trực tiếp với Chúa. Ngài chết năm 356 lúc ngài thọ một trăm lẻ sáu tuổi.
Thánh Athanasiô kể lại câu chuyện về Thánh Antôn, muốn chứng tỏ cho chúng ta thấy chúng ta cần ý thức về tiếng gọi phải biến đổi cái tôi sai lầm và xung động của mình thành cái tôi mới của Chúa Giêsu Kitô. Câu chuyện về Thánh Antôn chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng thanh vắng là chiếc lò lửa giúp biến đổi con người chúng ta. Sau cùng, câu chuyện Thánh Antôn biểu lộ cho chúng ta nhìn ra, chính nhờ cái tôi được biến đổi hoặc cải biến mà rồi mục vụ thực sự tuôn chảy hồng ân. Từ đây Cha Henri Nouwen đề nghị chúng ta hãy khám ra ba khía cạnh của cuộc đời Thánh Antôn, với hy vọng phát giác ra các vấn đề, các nan đề cũng như những vận hội trong mục vụ của chúng ta.
Các Giới Chức bị quản thúc
Linh mục Thomas Merton viết trong lời giới thiệu cuốn The Wisdom of the Desert như sau:
Xã hội như các Giáo phụ Sa mạc nhìn xem, chính là con tầu đang chìm đắm và từng cá nhân đang bơi lội cuộc sống mình. Những ai tin tưởng rằng nên để mình trôi xuôi theo dòng nước, thụ động chấp nhận các phong thái và giá trị được xã hội công nhận, quả thực đó là một thảm họa của thời đại.
Quan sát vừa rồi dẫn đưa chúng ta vào cốt lõi của nan đề. Xã hội chúng ta hôm nay không còn là một cộng đồng tỏa chiếu tình yêu của Chúa Kitô, nhưng là một mạng lưới nguy hiểm của thống trị và vận động, dễ dàng đưa chúng ta tới chỗ ngộp thở và đắm đuối tâm hồn. Câu hỏi nền tảng đặt ra cho chúng ta, phải chăng các thừa tác viên của Chúa Giêsu đã không bị những quyền lực hấp dẫn của thế giới tăm tối đúc khuôn một cách thâm sâu, đến nỗi chúng ta trở thành mù quáng trước vận mệnh của chính mình cũng như của người khác và đang đánh mất dần sức mạnh và sức vận dụng, để bơi lội cứu vãn cuộc sống của chính chúng ta?
Chúng ta hãy dừng lại một lúc nhìn vào các công việc thường nhật của mình. Thông thường chúng ta là những con người bận rộn. Chúng ta có nhiều buổi họp phải tham dự, nhiều cuộc thăm viếng phải hoàn thành, nhiều hoạt động phải hướng dẫn. Sổ nhật ký của chúng ta đầy các buổi hẹn tiếp xúc, chương trình hàng ngày hàng tuần tràn ngập các các việc phải dấn thân, lịch trình hàng năm đầy các kế hoạch phải thực hiện. Chúng ta ít có giai đoạn không biết mình phải làm gì và chúng ta như những con thiêu thân lao mình vào cuộc sống lơ đễnh, không biết dành ra thời giờ dừng chân và nghỉ ngơi, để tự kiểm điểm lại chính mình xem những gì mình đã nghĩ, đã nói, đã làm có đáng nghĩ, đáng nói và đáng làm không? Chúng ta chỉ còn đơn thuần như dòng nước lững lờ với những cái "phải làm", "nên làm" đã trói tay chúng ta và chúng ta sống với những mệnh lệnh đó như những chuyển đạt chính cống Tin Mừng của Chúa Kitô. Phải vận động các tín hữu đến nhà thờ, phải tổ chức giải trí cho giới trẻ, phải lo gây quỹ cho nhiều để thu vén tiền bạc, và trên hết phải làm thế nào cho mọi người vui thích. Phải lo nêu cao thành tích của mục vụ được đo bằng quyên góp được nhiều tiền. Ðồng thời, chúng ta cũng phải giữ mối giao hảo tốt đẹp với Giáo hội và chính quyền, chúng ta phải làm thế nào để ít nhất đa số các tín hữu yêu thích và kính trọng mình, chúng ta phải vận động thế nào để mình được leo lên hàng đầu trong các chương trình, và chúng ta phải tận dụng thời gian đi nghỉ và tiền bạc để sống một cuộc sống thoải mái, tiện nghi? Như vậy chúng ta trở thành những con người bận bịu y hệt những con người thế tục bận rộn khác, cũng được thưởng y hệt những gì những con người bận rộn khác được thưởng!
- Tất cả những điều vừa rồi gợi ra cho chúng ta nhìn thấy nếp sống mục vụ của mình mang đầy các khuynh hướng thế tục một cách kinh hoàng. Tại sao lại thế được? Tại sao các con cái của ánh sáng lại dễ dàng trở thành những kẻ đồng lõa với tăm tối? Câu trả lời thật giản dị! Căn tính của chúng ta, cảm quan về chính mình đang lâm nguy, đang bị đe dọa. Lối sống thế tục của giáo sĩ đang bị lệ thuộc phải đáp ứng cho nhu cầu của địa phương. Cái tôi thế tục và lầm lạc của mình chính là cái tôi đang bị xã hội chế tạo, nhào nặn, như cha Thomas Merton gọi đó là "bị thúc bách, bị ép buộc". Bị thúc bách, bị quản chế là danh từ chính xác nhất diễn tả cái tôi của chúng ta. Ðã đến thời điểm phải quyết đáp lại cái tôi của chúng ta. Tôi là ai? Tôi là người được yêu thích, được ca tụng, được ngưỡng mộ, bị ghen ghét, bị khinh khi, bị chê bai. Dù tôi là một nhạc công, một thương gia hay một thừa tác viên, quan hệ gì thế gian nhận định về tôi. Nếu bận rộn là điều tốt, thế là tôi phải bận rộn. Nếu kiếm được nhiều tiền là dấu hiệu của tự do đích thực, thế thì tôi phải tìm cách nào cho mình nhiều tiền. Nếu tôi biết nhiều người coi tôi quan trọng, tôi cần phải giao tiếp với họ. Việc bị quản thúc được diễn tả bằng thái độ lo sợ ngấm ngầm mình sẽ bị thất bại, và bị thúc bách liên tục phải ngăn cản những chuyện đó bằng cách thu nhặt cho bằng được nhiều việc làm, nhiều tiền và nhiều bạn hữu.
Những quản thúc này, áp chế này làm nền tảng xây dựng hai kẻ thù chính yếu của đời sống tâm linh, đó là giận dữ và tham lam. Chúng là mặt trái sâu kín của lối sống thế tục, những trái chua cay của lối sống lệ thuộc trần tục. Còn gì giận dữ hơn khi bị thúc bách trả lời cho cảm nghiệm thấy mình bị cướp đoạt, bị thiếu thốn? Khi cảm quan về cái tôi của mình bị lệ thuộc vào những gì người khác nói về tôi, lúc đó cơn giận dữ hoàn toàn phản ứng tự nhiên trước những lời người khác bình phẩm về mình. Và khi cảm quan về mình bị lệ thuộc vào những gì mình kiếm chác được, lòng tham lam đánh hơi thấy, nhất là khi những ao ước của chúng ta hụt hẫng. Như vậy lòng tham lam và cơn giận dữ là hai người bạn nối khố của cái tôi lầm lạc, đã bị xã hội của thế giới vô thường này quản thúc mất rồi.
Giận dữ đặc biệt được xem như tính xấu nghề nghiệp của mục vụ ngày nay. Các chủ chiên tức giận với các chức sắc vì không hoàn hành công việc và với các con chiên vì không theo mình. Quý ngài tức giận với những ai không đến thánh đường vì họ không chịu đến và với những ai đến thánh đường nhưng không đếnvới nhiệt tình. Quý ngài tức giận với những gia đình đã gây ra mặc cảm tội lỗi, với những gia đình không làm quý ngài toại nguyện. Ðây không phải là những cơn giận dữ nảy lửa, công khai, sôi động, nhưng ngấm gầm che dấu đàng sau cái mỉm cười nham hiểm, lời nói bóng bảy, và cái bắt lịch sự giống cái hôn của Giuđa. Ðó là cơn giận đông lạnh, cơn giận gậm nhấm và dần dần làm tê liệt trái tim quảng đại của một chủ chiên. Nếu có điều gì gây cho mục vụ trở thành tàn nhẫn và buồn tẻ, chính vì cơn giận u tối và hiểm độc chất chứa trong các con người mệnh danh mình là tôi tớ của Chúa Kitô.
Ðiều đó chẳng lạ lùng gì khi Thánh Antôn và các thầy khổ tu nhìn nhận đó là một thảm họa tâm linh, khi lẳng lặng chấp nhận những phong thái và giá trị của xã hội này. Qủa thực khó khăn không phải chỉ cho các cá nhân Kitô hữu, nhưng còn cho cả Hội Thánh tránh thoát khỏi những quản thúc, những áp chế "hấp dẫn' này của trần gian. Ðâu là câu giải đáp cho những nan đề này? Họ phải chạy trốn khỏi con tầu đang đắm này và bơi lấy cuộc sống mình. Ðịa danh cứu độ họ lại chính là sa mạc, là nơi thanh vắng. Và chúng ta tiếp tục nhìn xem thanh vắng giúp ích gì cho quý vị này.
Lò lửa chuyển hóa
Khi Antôn nghe lời Chúa Giêsu: "Hãy đi và bán những gì anh có và phân phát tiền cho người nghèo khổ... rồi đến đây theo Ta," ông coi đó như chính Chúa kêu gọi ông hãy tránh thoát khỏi những sức dồn ép của trần giới. Ông dời bỏ gia đình, sống nghèo hèn trong mái chòi tranh ngoài bìa làng và suốt ngày chăm chỉ làm việc và cầu nguyện. Chẳng bao lâu sau ông nhận ra mình cần phải từ bỏ nhiều hơn nữa. Ông phải đối diện với những kẻ thù trong chính con người mình đó là lòng giận dữ và tham lam. Ông cần phải tiến lên thêm nữa để con người ông hoàn toàn biến cải thành con người mới. Con người già cỗi và lầm lạc của chính mình phải chết đi để con người mới phát sinh. Muốn được như thế, Antôn cần phải rút lui hoàn toàn vào thanh vắng của sa mạc.
Thanh vắng trở thành lò lửa biến cải con người. Thiếu thanh vắng, con người chúng ta vẫn trở thành nạn nhân của xã hội và tiếp tục bị vướng víu giữa những ảo tưởng về cái tôi lầm lạc của mình. Chính Chúa Giêsu cũng đã bước vào lò lửa này. Nơi đó ngài bị ba cơn cám dỗ, tức ba sức ép của trần giới: muốn mình giá trị "hãy biến đá thành bánh", muốn khoa trương, muốn nổi bật "hãy gieo mình xuống đất", và muốn nắm nhiều quyền thế "tôi sẽ ban cho ông mọi dân nước". Nơi đó Ngài xác quyết Thiên Chúa mới là gốc nguồn của căn tính Ngài, "Ngươi phải thờ phượng Thiên Chúa là Chúa của người và chỉ phục vụ một mình Ngài." Thanh vắng là bãi chiến trường cho những cuộc giao tranh dữ dội và đồng thời cũng là bến gặp gỡ hồng phúc tràn đầy - giao tranh với những sức dồn ép của cái tôi lầm lạc và đến gặp gỡ Thiên Chúa tình yêu, Ðấng cống hiến chính mình như một bản thể cho cái tôi mới.
Ở đây gợi lại hình ảnh của những nhà thần bí thời trung cổ. Chúng ta nhận ra mình đang đứng trước vùng thánh địa nơi mục vụ và tu đức gắn bó chặt chẽ với nhau. Thánh địa này chính là nơi thanh vắng.
Người ta thường nghĩ thanh vắng là nơi mình tĩnh dưỡng, an nghỉ; nơi riêng tư chỉ "một mình ta với ta", nơi chúng ta "sạc" lại bình điện hoặc nơi góc võ đài để lau chùi vết thương hoặc thoa bóp dầu cho tỉnh táo. Nhưng không phải thế với các thánh nhân như Gioan Tẩy Giả, Antôn, Bênêđictô, cha Charles de Foucauld hoặc các anh em tu hội Taizé. Thanh vắng không phải là nơi riêng tư chữa trị bệnh. Hơn thế, thanh vắng là nơi biến cải con người, nơi con người cũ phải chết dần chết mòn và con người mới nảy sinh, nơi chỗi dậy của những nam nữ tín hữu thành tín.
Tới đây cha Nouwen muốn làm sáng tỏ thêm ý nghĩa của bốn chữ "thanh vắng biến cải" (transforming solitude) khi diễn tả những cuộc chiến đấu cũng như những lần gặp gỡ trong nơi thanh vắng này.
Trong nơi thanh vắng, chúng ta được giải thoát khỏi những ngột ngạt: không còn bạn bè trò chuyện, không còn điện thoại để réo nhau, không còn hò hẹn hội họp, không còn ca nhạc giải trí, không còn sách báo giải khuây, trái lại chỉ còn lại một mình - trần trụi, thương tổn, yếu ớt, tội lỗi, thiếu thốn, nát tan - có nghĩa là chẳng còn gì hết. Chúng ta phải đối diện với cái vô hữu này, cái trống không này trong nơi thanh vắng của chính mình, cái vô hữu rùng rợn khi tất cả mọi chuyện trong tôi đều chạy theo bạn bè, chạy theo công việc làm ăn, chạy theo các giải trí, để chúng ta quên đi cái vô hữu của mình và gây cho mình niềm tự tin là mình còn giá trị lắm, còn sáng giá lắm. Nhưng tất cả mọi chuyện không đơn giản thế đâu. Thoạt khi chúng ta quyết định đi vào thanh vắng, lập tức các ý tưởng lộn xộn, các hình ảnh rối loạn, các lối sống phóng khoáng man dại, các trò kịch cỡm bắt đầu nhảy tung tăng trong tâm trí chúng ta như những con khỉ đột nhào lặn trên cây.Lòng giận dữ và tham lam bắt đầu thò mặt xấu xí ra. Chúng ta ban cho kẻ thù của chúng ta những bài diễn văn dài dẵng, đối nghịch, và đi vào những giấc mơ dâm giật như thể chúng ta là những con người phong lưu, hấp dẫn, đầy ảnh hưởng hoặc chỉ là những kẻ xấu số, nghèo khổ và rất cần đến những vỗ về, những ủi an ngay lập tức. Như vậy chúng ta lại cố công trốn thoát khỏi vực thẳm đen tối của cái tôi vô hữu và lại chất chứa cái tôi lầm lạc trong cái vinh quang hão huyền của mình.
Cha Nouwen khuyên chúng ta tuân giữ bổn phận của mình là phải kiên trì trong cõi thanh vắng này, phải lì lợm ở lại trong căn phòng cho đến khi những người khách quyến dụ này chán nản quấy phá ngoài cửa và bỏ lại chúng ta một mình trong thanh vắng. Trong bức họa Isenheim Altar họa sĩ Grunewald vẽ thực tế hãi hùng của những bộ mặt quỷ dữ xấu xí đang cám dỗ thánh Antôn trong nơi thanh vắng. Cuộc chiến đấu này là một thực tại và những nguy hiểm cũng thật sự đe dọa. Ðó là hiểm nguy, là đe dọa của cuộc sống khi toàn thể cuộc đời chúng ta là một cuộc tự vệ dài dẵng chống lại thân phận bèo bọt của mình, là một gắng sức không ngơi nghỉ chiến thắng chính mình bằng đức độ.
Ðó là một chiến đấu, chiến đấu chết đi cho cái tôi lầm lạc của mình. Cuộc chiến đấu này còn dài dẵng, vượt quá sức mạnh của chúng ta. Bất cứ ai muốn chiến đấu với ma quỷ bằng khí giới riêng của mình, họ đều trở thành điên khùng. Khôn ngoan của sa mạc chính là cuộc đụng độ với cái vô hữu rùng rợn của chúng ta sẽ thúc bách chúng ta phải quy phục chính mình hoàn toàn và vô điều kiện trước Cứu Chúa Giêsu. Ðơn thương độc mã một mình, chúng ta sẽ chẳng đương đầu nổi với tội lỗi, với cám dỗ. Chỉ có mình Chúa Kitô mới thắng lướt được sức mạnh của quỷ dữ. Chỉ ở trong Ngài và nhờ Ngài chúng ta mới có thể tồn tại được với những thách thức của cuộc đời thanh vắng.
Tới đây Cha Nouwen kể lại câu chuyện lý thú của Abba Elias: "Có một ông già sống trong một ngôi đền và ma quỷ đến nói với ông, 'Ông hãy dời khỏi nơi đây vì nơi đây thuộc về chúng tôi,' và ông già trả lời, 'Không có chỗ nào cho mấy người cả'. Thế là bọn quỷ bắt đầu rải các lá cọ của ông đi khắp nơi, mỗi chỗ một lá, và cứ thế ông lão kiên nhẫn đi thâu lượm lại từng lá. Một lúc sau, một tên quỷ nắm lấy tay ông và lôi ông ra cửa. Khi ông già vừa tới cửa, ông nắm lấy then cửa và kêu lên, 'Chúa Giêsu ơi, cứu con với.' Lập tức lũ quỷ bỏ chạy. Rồi ông lão già ngồi khóc. Chúa đến hỏi ông 'Tại sao con lại khóc?' Ông già trả lời Chúa: 'Bọn quỷ dám nắm lấy tay con người và xử đối tàn tệ như vậy.' Lúc đó Chúa nói với ông, 'Con vô ý lắm. Khi con quay mặt lại Ta, con nhìn thấy Ta đã đứng bên con rồi.'”
Câu chuyện này muốn chứng tỏ một điều khi chúng ta đến gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô, thì chính Ngài đến chiến đấu thực sự cho chúng ta đấy. Việc gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô này không xẩy ra trước hoặc sau hoặc bên ngoài cuộc chiến đấu với cái tôi sai lầm của mình và với quỷ ma. Không phải thế, chính ở giữa cuộc chiến đấu này Chúa đến với chúng ta và Ngài nói với chúng ta như nói với ông lão già: "Vừa khi con quay mặt lại Ta, con nhìn thấy Ta đã ở bên con rồi."
Như vậy, khi chúng ta bước vào thanh vắng, việc đầu tiên chính là chúng ta đi gặp Chúa, ở lại với Ngài và chỉ một mình Ngài thôi. Như vậy công việc đầu tiên của chúng ta khi đến với thanh vắng không phải là chú tâm đến những bộ mặt muốn tấn kích chúng ta, nhưng chúng ta phải dán cặp mặt tâm trí vào Ngài, Ðấng Cứu Chúa của chúng ta. Chỉ nhờ hồng ân của Ngài chúng ta mới chiến thắng được tội lỗi. Chính nơi chữa lành này chúng ta mới dám mở vết thương tâm hồn và thể xác ra. Chỉ dồn chú tâm vào Ngài chúng ta mới chế ngự được những nỗi lo sợ hoang mang và đối diện với bản chất thực sự của mình. Khi chúng ta nhận ra không còn phải là chúng ta sống nữa nhưng chính Chúa sống trong chúng ta, Ngài trở thành cái tôi thực sự của chúng ta, chúng ta mới có thể từ từ đẩy lui được các sức ép và bắt đầu cảm nghiệm được sự tự do làm con cái của Chúa. Và khi đó chúng ta nhìn lại mình với nụ cười hân hoan, khi nhận ra mình không còn tức giận hay tham lam nữa.
Những điều vừa rồi có nghĩa lý gì với cuộc sống thường ngày của chúng ta hiện tại? Cha Nouwen nói với chúng ta rằng, dầu cho chúng ta không được mời gọi sống cuộc đời khổ tu, cũng như chẳng có điều kiện để sống trong sa mạc đầy thách đố cam go, chúng ta vẫn còn trách nhiệm với cõi thanh vắng của chúng ta. Chính vì hoàn cảnh sống thế tục của chúng ta ít cống hiến cho mình những kỷ luật tâm linh, do đó chúng ta phải tự mình khai triển lấy. Thực vậy, chúng ta phải tạo ra sa mạc riêng cho mình khi hàng ngày chúng ta rút vào một nơi thanh vắng, giũ bỏ mọi sức ép, mọi lo toan và đến hiện diện êm đềm trước mặt Ðấng Chữa Lành. Không tạo ra được một sa mạc như thế, chúng ta sẽ liều mình đánh mất linh hồn mình ngay chính lúc mình đang rao giảng Tin Mừng cho người khác. Trái lại, nếu tạo được sa mạc như thế, chúng ta sẽ không ngừng sống phù hợp với Ngài, Ðấng chúng ta phục vụ Nhân Danh Ngài.
Việc đầu tiên chúng ta cần phải thiết lập, chính là dành riêng ra thời giờ và nơi chốn đến tận hiệp với Chúa một mình thôi. Tùy theo hoàn cảnh và tính tình, mỗi người hãy tạo ra một kỷ luật thanh vắng riêng cho chính mình. Nhưng kỷ luật thực sự không bao giờ được mơ hồ hoặc tổng quát. Ðó phải là một kỷ luật cụ thể và xác định trong cuộc sống thường nhật. Một ngày kia cha Nouwen đến gặp Mẹ Têrêsa Calcutta và xin Mẹ chỉ cho cha cách thức phải sống thế nào để trung thành với ơn gọi linh mục, Mẹ trả lời thật giản dị: "Hãy dành mỗi ngày một giờ thăm viếng Chúa và đừng bao giờ làm điều gì mình biết là sai quấy, và như vậy là cha đi trúng đường đó." Cũng như các đại môn đệ của Chúa Giêsu, Mẹ Têrêsa tái xác quyết một chân lý rằng mục vụ chỉ có thể đâm hoa kết trái, nếu được tăng trưởng từ những giờ gặp gỡ trực tiếp và thân mật với Chúa. Ðiều này phù hợp với lời khai mở thư thứ nhất của Thánh Gioan vẫn luôn vang dội trong lịch sử cứu độ: "Ðiều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Ngôi Lời, Ðấng là sự sống" - Ngài là đối tượng của chúng ta.
Như vậy thanh vắng là nơi thanh tẩy và biến cải chúng ta, nơi xẩy ra những cuộc giao tranh cam go và cũng là nơi gặp gỡ trọng đại. Thanh vắng chính là nơi Chúa Giêsu tạo hình chúng ta theo hình ảnh Ngài và giống Ngài, cũng như giải thoát chúng ta khỏi những sức dồn ép của thế giới tha hóa chúng ta. Thanh vắng là nơi đem đến cho chúng ta ơn cứu độ. Như vậy thanh vắng chính là nơi chúng ta muốn dẫn đưa những ai đang đi tìm ánh sáng giữa tăm tối trần gian. Thánh Antôn đã trải qua hai mươi năm trong sa mạc đơn độc. Và khi ngài dời bỏ sa mạc, ngài vẫn đem theo mình cõi thanh vắng và chia sẻ với tất cả những ai đến với ngài. Những ai đã đến gặp ngài đều mô tả người vẫn quân bình, hiền từ và đôn hậu. Ngài đã trở thành người Kitô hữu giống Chúa Kitô, tỏa chiếu tình yêu Chúa, khiến chính con người ngài đã trở thành một tác vụ rồi.
Tác vụ thương cảm
Cha Henri Nouwen kể lại cuộc đời của Thánh Antôn sau một thời gian đắm chìm hoàn toàn trong sa mạc thanh vắng, mục vụ được chúc phúc của ngài trở thành thật phong phú và đa dạng. Các khách thập phương túa đến bàn hỏi ý kiến với ngài. Thanh vắng trước tiên đòi một nơi an tĩnh, biệt lập bên ngoài, và bây giờ trở thành một đức tính của tâm hồn, một cõi nội giới sắp sẵn giúp đỡ mọi người và không còn bị ngoại cảnh hoặc khách hành hương gây xao động. Nơi thanh vắng của ngài trở thành địa điểm nhiều người lui tới. Ý kiến của ngài đưa ra thật giản dị, trực tiếp và cụ thể. Nếu có ai hỏi ngài: "Thưa cha, người ta phải làm gì để đẹp lòng Chúa?" Vị chân tu này trả lời: "Bạn hãy chú tâm đến điều tôi sắp nói: bất cứ bạn là ai, bạn hãy luôn luôn đặt Chúa trước mắt; bất cứ bạn làm điều gì, bạn hãy làm cho phù hợp với chứng tá của Tin Mừng; bất cứ nơi đâu bạn sống, bạn đừng dễ dàng rời bỏ. Bạn hãy tuân giữ ba huấn lệnh này, bạn sẽ được cứu độ."
Rồi cha Abba Pambo hỏi ngài: "Vậy con phải làm gì?" Thánh nhân trả lời: "Ðừng tự tin nơi sự công chính của mình, đừng lo lắng về quá khứ, nhưng hãy kiểm soát được cái lưỡi và bao tử của bạn." Nhìn về chuyện tương lai, thánh nhân nói những lời có vẻ kỳ quái: "Sẽ đến thời kỳ người ta trở thành điên khùng và khi người ta thấy người khác không cuồng trí, họ sẽ tấn công bằng luận điệu: 'bạn điên khùng rồi, bạn không giống chúng tôi." Từng trải những giao tranh với ma quỷ và gặp gỡ Thiên Chúa tới mức nhuần nhuyễn rồi, thánh nhân đã học được cách thức chuẩn đoán được lòng người và tâm trạng thời đại, ngài cống hiến cho họ những hướng dẫn sáng suốt, những khích lệ và những ủi an. Thanh vắng đã giúp ngài trở thành một con người từ ái biết thương cảm mọi người.
Nơi đây chúng ta đạt tới cao điểm của mục vụ và đường tu đức có thể rung động được người khác. Ðó là lòng thương cảm. Lòng trắc ẩn, cảm thương người khác chính là hoa trái của thanh vắng và là nền tảng của mọi tác vụ. Việc thanh tẩy và biến cải mình trong nơi thanh vắng được thể hiện ra thành lòng thương cảm.
Sống thương cảm không phải là chuyện dễ dàng. Sống thương cảm cũng phải gian chuân, lắm khi đòi hỏi một thái độ nội tâm biết sắp sẵn đi với người khác đến bất cứ nơi đâu họ đau yếu, thương tổn, đơn độc và tan nát cõi lòng. Chúng ta không tự nhiên đến đáp ứng cho những đau khổ. Ðiều chúng ta mong muốn nhất là giải quyết mau chóng chuyện đau khổ bằng cách lẩn tránh hoặc chạy chữa cho mau lẹ. Là những tác nhân bận rộn, năng động hoặc thích nổi bật, chúng ta muốn tìm kiếm lương thực bằng việc góp phần thực tiễn. Ðiều này mang ý nghĩa trước tiên và trên hết là chúng ta làm một điều gì đó để chứng tỏ sự hiện diện của mình tạo được chuyện khác biệt. Và như vậy, vô tình hay hữu ý, chúng ta đã quên đi mất tặng phẩm lớn lao nhất của chúng ta, chính là đem hết khả năng của mình vào liên đới với những ai đang sống trong nghèo khổ, đang chết lịm giữa thương đau.
Chính trong thanh vắng, sự liên đới thương cảm này triển nở. Chính trong thanh vắng, chúng ta nhận ra không ai bị loại trừ ra khỏi chúng ta và tất cả các cội rễ của xung khắc, của chiến tranh, của bất công, của tàn ác, của ghen ghét, của đố kỵ, của hận thù đều thả neo tại đáy lòng chúng ta. Chính trong nơi thanh vắng, trái tim bằng đá của chúng ta được chuyển thành trái tim bằng thịt, trái tim nổi loạn của chúng ta thành trái tim biết sám hối, trái tim đóng kín của chúng ta thành trái tim rộng mở trước những khổ đau của người khác, với một thái độ thương cảm và liên đới.
Nếu chúng ta có hỏi các Giáo Phụ sa mạc lý do nào khiến thanh vắng khai sinh lòng thương cảm, hẳn các ngài sẽ trả lời cho chúng ta, "Bởi vì thanh vắng luyện tập chúng ta phải tự chết đi cho những người sống chung quanh mình." Thoạt nghe, câu trả lời này gây xáo động cho tâm trí những con người thời đại hôm nay. Nhưng khi chúng ta nhìn thấu đáo hơn, chúng ta sẽ nhận ra rằng mình muốn phục vụ người khác mình phải chết đi cho họ, có nghĩa là chúng ta phải từ bỏ thái độ đo lường nhân cách và giá trị của mình khi so sánh với người khác. Chết đi cho những người sống chung quanh có nghĩa chúng ta phải ngừng ngay thái độ đoán xét người khác, ngừng ngay việc đánh giá người chung quanh và nhờ vậy chúng ta tiến tới chỗ mình được tự do thương cảm người khác. Lòng thương cảm không bao giờ chung sống được với óc xét đoán người khác, bởi vì thái độ xét đoán quan tòa tạo ra những khoảng cách, những phân biệt làm cản trở chúng ta đến gần người khác.
Nhiều tác vụ của chúng ta bị thoái hóa, bị sa sút vì những thái độ xét đoán này. Một cách vô thức, thường chúng ta xếp loại mọi người từ rất tốt, đến tốt, trung bình, xấu và rất xấu. Những xét đoán này gây ảnh hưởng sâu đậm nơi những ý nghĩ, những lời nói và việc làm trong tác vụ của chúng ta. Trước khi nhận ra điều đó, chúng ta đã rơi vào bẫy yên trí, định kiến rồi. Với những ai chúng ta coi họ lười biếng, thờ ơ, thù nghịch, và nguy hiểm, thường chúng ta xử đối bằng cách thúc ép họ phải sống theo lối nhìn của chúng ta. Và như vậy, nhiều tác vụ của chúng ta bị hạn chế do những cái lưới bẫy phán đoán của chúng ta. Chính những định kiến này, thành kiến này sẽ cản ngăn chúng ta sẵn sàng đến với người khác và làm tàn héo lòng thương cảm của chúng ta.
Lời Chúa Giêsu nói với chúng ta quả thực khó theo nổi: "Con đừng xét đoán để chính con khỏi bị phán xét." Lời đó hàm chưa bí quyết của tác vụ cảm thương người khác. Nhiều câu chuyện trong sa mạc làm sáng tỏ điều đó. Abba Moses, một đệ tử của Thánh Antôn nói với người bạn: "Chết cho người chung quanh có nghĩa là phải chịu đựng những lỗi lẫm của họ và không quan tâm xem họ tốt hay xấu; không làm hại người khác cũng như không nghĩ xấu cho một ai; không khinh chê người tội lỗi; không tín cậy nơi một ai gây điều xấu cho người khác; không mừng vui với ai gây thiệt hại cho người láng giềng; đừng gây ác cảm thù nghịch với một ai và đừng để lòng ghen ghét chế ngự con tim." Tất cả những ý tưởng vừa rồi có thể tóm kết hóm hỉnh như sau: "Thật điên khùng cho một ai đang có thân nhân nằm chết trong nhà, lại bỏ người thân nằm đó, để đến khóc thương cho người láng giềng cũng đang nằm chết."
Thanh vắng sẽ giúp người ta ý thức ra được người chết đang nằm trong nhà mình và giúp mình không phán xét tội lỗi người khác. Với thái độ như thế, con người mới có thể tha thứ cho nhau được. Câu chuyện sau đây minh họa cho điều vừa nói: "Có một tu sĩ phạm một lỗi lầm nghiêm trọng. Hội đồng nhà dòng mời Abba Moses tới họp, nhưng cha cáo từ không tới. Rồi một linh mục khác sai một thầy dòng tới năn nỉ: 'Xin cha đến mau, vì mọi người đang chờ cha.' Cuối cùng cha đứng dậy đi. Cha đem theo một cái bình lũng lỗ đựng đầy nước. Nhiều người nhìn thấy thế hỏi cha, 'Cha làm gì thế?' Ngài trả lờiï: 'Tội lỗi của tôi cũng chảy xuống phía sau như vậy, nhưng tôi không nhìn thấy nước chảy và giờ này tôi lại đến xét xử người khác.' Nghe thế, mọi người giật mình không dám xét xử thầy dòng nữa, trái lại, mọi người còn tha thứ cho thầy."
Thanh vắng sẽ rập khuôn con người trở thành hiền hậu, biết săn sóc, và tha thứ cho người khác, vì khi đó họ nhận biết thâm sâu được tội lỗi tầy đình của mình, đồng thời họ cảm nhận được rõ rệt lòng xót thương vô biên của Chúa. Khi con người chúng ta đã tràn đầy sự hiện diện đầy xót thương của Chúa rồi, chúng ta chỉ còn biết thi hành tác vụ tâm linh vì toàn thân chúng ta đang trở thành chứng tá cho ánh sáng đến trong tăm tối. Sau đây là hai câu chuyện sa mạc diễn đạt tác vụ đầy thương cảm.
Abba Ammonas là đệ tử của thánh Antôn. Người ta kể lại thời gian trong sa mạc ngài đã tiến triển về lòng thiện hảo rộng rãi đến độ ngài không còn chú tâm tới những yếu đuối, những sa ngã của người khác. Sau này khi ngài làm giám mục, người ta đưa đến cho ngài một cô gái mang thai và trình ngài, "Xin Ðức Cha hãy nhìn con nhỏ vô phúc này đã sa ngã, xin Ðức Cha ra hình phạt nó." Nhưng ngài, sau khi đã vẽ hình thánh giá trên bụng của cô, ngài truyền cấp cho cô mấy tấm vải lụa và ôn tồn nói với mọi người, "Tôi sợ rằng ngàycô sinh con, cô có thể chết, như vậy cả hai mẹ con không có gì tẩm liệm cả." Nhưng những người tố cáo cô kêu trời, "Sao Ðức Cha lại làm vậy? Phải phạt cô ấy mới được chứ?' Lúc đó ngài bảo họ, "Này anh em hãy nhìn kỹ đi, cô ta sắp chết đến nơi rồi, tôi biết làm gì đây?" Rồi ngài cho cô ra về và từ đó không còn người già cả nào dám tố cáo một ai nữa.
Câu chuyện thứ hai kể lại có ba người già cả, trong đó một người mang tiếng rất là xấu, đến xin gặp Abba Achilles. Người thứ nhất hỏi ngài, "Thưa cha, xin cha đan cho con một cái lưới đánh cá." Ngài ôn tồn đáp lại, "Tôi không đan cho ông được." Rồi người thứ hai xin ngài, "Xin cha ban cho chúng con một nghĩa cử bác ái để chúng con mang kỷ niệm tốt về cha." Và ngài trả lời ông, "Tôi không có thời giờ." Sau cùng, người thứ ba, người mang thành tích xấu thưa ngài, "Xin cha đan cho con cái lưới đánh cá, để con có thể lượm được những gì rớt xuống từ tay cha." Abba Achilles trả lời ông, "Riêng ông, tôi sẽ đan lưới cho ông.' Sau đó hai ông già kia đến hỏi ngài, "Tại sao cha không làm những gì hai chúng con xin cha, nhưng cha lại hứa làm cho ông già hư hốt kia?" Abba Achilles trả lời họ, "Tôi trả lời cho hai ông là tôi không làm cho hai ông và hai ông cũng chẳng buồn phiền gì, vì các ông nghĩ rằng tôi không có thời giờ. Nhưng nếu như tôi cũng xử đối với người kia như thế, hẳn ông sẽ nói, 'Ông cha này đã nghe biết tội lỗi của mình rồi, và đó là lý do ông từ chối mình. Như vậy mối giây liên hệ giữa hai chúng tôi sẽ đứt đoạn. Nhưng bây giờ khi tôi đã hân hoan nhận lời ông, ông sẽ có thể vượt thắng được những buồn khổ."
Ở đây chúng ta nhận thấy tác vụ tông đồ này rất thuần khiết, rất thương cảm phát sinh từ sa mạc thanh vắng. Thánh Antôn và các đệ tử của ngài đã vượt thoát khỏi những áp lực, những dồn nén của thế gian, nhờ đó các ngài không khinh chê người khác, trái lại còn lo cứu vãn họ nữa.
Linh mục Thomas Merton mô tả các thầy dòng này như những người dám lội xuống nước cứu những người khác, để họ không bị ngộp thở trong con tầu xã hội ngày nay đang chìm dần như con tầu Titanic: Các ngài biết mình bất lực có thể giúp đỡ cho người khác bao lâu các ngài còn lõm bõm trong con tầu đang chìm dần. Nhưng một khi các ngài đã tìm được điểm dựa trên thế đứng vững chắc, tình thế thay đổi khác liền. Khi ấy không những các ngài đầy thần lực, nhưng còn cảm thấy một thôi thúc phải đẩy toàn thế giới đến chỗ an toàn theo sau các ngài.
Như vậy, nhờ sống trong thanh vắng, chúng ta không dời xa người khác. Trái lại, nhờ mục vụ thương cảm, chúng ta tiến đến gần họ hơn.
KẾT LUẬN
Trong một thế giới đang biến chúng ta thành các vật tế thần, các nạn nhân bằng sức dồn ép của chúng, chúng ta được mời gọi đi vào thanh vắng mới có thể chiến đấu thắng được tính nóng giận và lòng tham lam của chúng ta, đồng thời chúng ta hãy tái sinh thành con người mới, nhờ đến gặp gỡ yêu thương Chúa Giêsu Kitô. Chính trong nơi thanh vắng, chúng ta trở thành những con người diệu cảm, ý thức thâm sâu mình phải liên đới với những đổ vỡ của con người và sẵn sàng với tay tới những ai đang nguy khốn, đang kiệt quệ.
Sau những năm tháng miệt mài với mục vụ thương xót đồng loại, phần cuối câu chuyện của Thánh Antôn kể lại ngài trở về nơi thanh vắng để hoàn toàn chìm ngập trong tận hiệp với Chúa. Một trong các câu chuyện sa mạc kể cho chúng ta nghe về một ông già đến xin Chúa cho ông được nhìn thấy các Giáo Phụ. Chúa nghe lời cầu nguyện của ông và ông già nhìn thấy tất cả các Giáo Phụ, trừ ra Abba Antôn. Ông liền hỏi người hướng dẫn, "Cha Antôn đâu?" Người hướng dẫn trả lời ông, "Có lẽ cha Antôn có mặt nơi Chúa đang ở." Chúng ta phải nhận ra điều quan trọng này là Thánh Antôn đã ký thác cuộc đời ngài hoàn toàn miệt mài trong Chúa. Ðích điểm của cuộc sống chúng ta không phải là con người, nhưng chính là Thiên Chúa. Chỉ ở trong Ngài, chúng ta mới tìm thấy sự an nghỉ. Do đó chúng ta phải thường xuyên trở lại nơi thanh vắng, không phải một mình cá nhân chúng ta, nhưng còn cả với những ai chúng ta ôm ấp trong tác vụ. Việc trở lại này phải liên tục cho đến khi chính Thiên Chúa, Ðấng đã sai chúng ta vào thế gian, sẽ gọi chúng ta về bên Ngài trong nơi hiệp thông vĩnh cửu.
Quyền năng của việc tham gia:
Trợ tá cầu nguyện
Linh Giao viết theo John Maxwell
* Ơn gọi cầu nguyện của một giáo dân
Bill là một giáo dân trạc tuổi lục tuần. Ðầu tóc ông bạc phơ, gương mặt thanh tú và sáng sủa. Ông làm việc cho hãng thầu và buôn bán thuyền buồm tại Washington và California. Một ngày kia ông đến xin gặp giáo sĩ John Maxwell.
Mở đầu câu chuyện ông đi thẳng vào đề tài ông muốn trình bầy. Ông thưa với giáo sĩ trụ trì ngôi đại thánh đường Skyline tại San Diego: "Tôi tin Chúa đã gọi tôi là một giáo dân đứng ra tổ chức, khích lệ và cầu nguyện cho các chủ chăn. Lý do hôm nay tôi tới đây chính là cầu nguyện cho ngài."
John tự nhủ, "Ông muốn cầu nguyện cho tôi sao? Suốt bao nhiêu năm làm chủ chăn, chưa bao giờ có một người giáo dân nào đến gặp mình chỉ với mục đích cầu nguyện cho mình. Lịch trình (agenda) của tôi bắt đầu thay đổi đây. Tôi cảm nhận được Thánh Thần Chúa đè bẹp tôi, 'John ơi, lịch trình của Ta quan trọng hơn của con. Ðời sống của con không giống như con đường một chiều khi con thi hành mục vụ với người khác. Còn có những người muốn quản trị con. Ta sai người giáo dân này đến cầu nguyện cho con đó."
Thế là ông Bill và John cầu nguyện chung với nhau một giờ trong ngày hôm đó. John đã bật khóc khi nhận biết được Chúa muốn sai một ai đó đến cầu nguyện cho ông. Bill đã thỏa đáp nhu cầu cầu nguyện cá nhân mà vị giáo sĩ đã không biết mình có được. Và người giáo dân này đã khuấy động niềm ao ước thâm sâu tăng cường cầu nguyện để bao bọc cho vị giáo sĩ, cho cộng đoàn, cho gia đình và cho mục vụ của giáo sĩ.
Sau đó Bill kể lại cho giáo sĩ rằng ông ta đã cầu nguyện suốt mười tám tháng xin Chúa đem đến cho ông vị chủ chiên để ông cầu nguyện. Sau buổi hạnh ngộ đầu tiên này, ông trở về nhà khoe với vợ, "Hôm nay anh đã tìm được vị chủ chăn. Anh chưa từng nghe ông giảng thuyết bao giờ, nhưng anh đã nghe ông ta cầu nguyện." Từ ngày đó, mỗi Chúa Nhật, hai vợ chồng đến ngồi trên hàng ghế phía đầu để thi hành tác vụ cầu nguyện cho vị chủ chăn này.
* Thần lực của việc trợ tá cầu nguyện
John Maxwell kể lại sau cuộc hạnh ngộ đó, ông và Bill cam kết trở thành trợ tá cầu nguyện cho nhau. Cuộc sống của ông cũng như ông Bill thay đổi nhiều từ đó. Ông Bill trở thành người trợ tá cầu nguyện cho riêng ông và trở thành một người đáng tín cẩn của ông. Ông Bill tiếp tục giúp ông trong công việc tổ chức mục vụ trợ tá cầu nguyện tại Skyline. Nhóm người này cầu nguyện cho ông hàng ngày trong suốt 14 năm trời. Hàng tuần nhóm nhỏ này họp nhau cầu nguyện trong ngôi phòng xinh xắn. Nhóm nhỏ này bắt đầu với ba mươi mốt giáo dân và có lúc lên tới con số 120 người.
Trong suốt mười bốn năm trời, cộng đoàn của ông tăng gấp ba, từ số giáo dân khoảng 1.000 người, nay leo lên tới 3.500 người. Lợi tức hàng năm từ $750.000 nay lên tới $5.000.000. Số người giáo dân tham gia sinh hoạt cộng đoàn từ 112 người, nay lên tới 1.800 người.
Ðiều đáng kể thực sự chính là mọi người cảm nhận được thần lực vũ bão của lời cầu nguyện. Hàng ngàn người đã tuyên nhân Chúa Giêsu là Vị Cứu Chúa của mình trong những năm qua. Các trợ tá cầu nguyện này đang trở thành những người đi đồng hành với Chúa và hoạt động tích cực tạo ra những phép lạ kỳ diệu hàng ngày trong cộng đoàn và những vùng chung quanh. Hai ông bà Bill trở thành những huấn luyện viên khởi động mục vụ cầu nguyện trong các thánh đường khác. Trong những năm qua, Chúa đã dẫn dắt vị giáo sĩ này bước vào con đường mục vụ tuyệt vời và thần diệu. Vị giáo sĩ này đã liên kết với các giáo sĩ khác trong vùng thành lập các khóa huấn luyện đào tạo các các bộ nồng cốt và đẩy mạnh các cộng đoàn tiến triển. Họ đã thành lập tổ chức INJOY chuyên cần giúp đỡ các nhà lãnh đạo tôn giáo đạt được hiệu năng mục vụ tối đa nơi thánh đường, trong gia đình cũng như tại các cơ sở kinh doanh.
Giờ đây vị giáo sĩ này đi tới niềm xác tín vững vàng: với không cầu nguyện và thần lực của Chúa Thánh Linh, ông chắc chắn rằng tất cả những hiệu quả kể trên sẽ không thể nào đạt được. Tất cả vinh quang và danh dự phải thuộc trọn về Chúa. Ông công nhận những thành quả ông gạt hái được chính nhờ sức mạnh của cầu nguyện do các trợ tá cầu nguyện liên tục bao bọc ông.
* Lịch sử về các trợ tá cầu nguyện
Các tín hữu giáo dân trở thành các trợ tá cầu nguyện cho các người phục vụ Chúa không phải là một quan niệm mới mẻ gì. Lần rở lại Cựu Ước với sách Xuất Hành, khi ông Môsê giang tay cầu nguyện trên đỉnh đồi, tướng Joshua đã đánh bại được địch quân Amalekites. Và trong Tân Ước , đặc biệt trong những năm đầu của Giáo hội tiên khởi được kể lại trong sách Công Vụ Tông Ðồ, khoảng 12 người đã quy tụ nhau trong ngôi nhà trên lầu cầu nguyện suốt từ ngày Chúa Lên trời cho tới ngày Lễ Hiện Xuống. (Cv 1:14).
Và khi Chúa Thánh Linh đã hiện xuống tràn ngập các tông đồ rồi, người ngư phủ quê mùa như Phêrô đã rao giảng và làm chứng cho Chúa Kitô, lập tức 3.000 người tin theo Ngài. Từ đó cho tới nay, dọc suốt các thế kỷ, nhiều tín hữu đã trở thành các trợ tá cầu nguyện cho các vị chức trách hoặc giảng thuyết. Trường hợp Thánh Monica suốt 18 năm cầu nguyện cho người con là Thánh Augustinô trở thành vị đại thánh trong Giáo Hội.
Sau đây tác giả Maxell nêu ra một các trường hợp điển hình:
1/ Giáo sĩ Charles Finney: vào năm 1830 tại New York, chỉ trong một năm đã có 1.000 người trong số 10.000 người dân tìm đến Chúa Kitô. Charles viết về người trợ tá cầu nguyện của ông như sau: "Ông Abel Clary liên tục cầu nguyện cho tôi trong giai đoạn tôi thi hành mục vụ tại đây cho tới khi tôi thuyên chuyển đi nơi khác. Không bao giờ ông xuất hiện trước công chúng, nhưng ông đã dấn thân hoàn toàn cho cầu nguyện."
2/ Giáo sĩ D.L. Moody: năm 1872 tại London, chỉ trong 10 ngày giảng thuyết đã có 400 người tin theo Chúa Giêsu. Ông quy thành quả này cho cô gái nằm liệt giường tên là Marianne Adlard, sau khi đọc tờ truyền đơn nói về mục vụ của Moody tại Chicago, cô đã cầu nguyện xin Chúa sai vị giáo sĩ này đến với cộng đoàn của cô.
3/ Giáo sĩ Mordecai Ham: năm 1934 tại Charlotte, North Carolina, nhiều người nghe vị giáo sĩ này thuyết giảng đã rung động sâu xa, trong đó có cậu con trai của đại điền chủ Billy Graham. Trợ tá cho mục vụ này là một số thương gia cùng với người cha của Billy Graham dành trọn một ngày cầu nguyện tại nông trại này xin Chúa tác động thành phố này, tiểu bang này và cả thế giới nữa.
4/ Nhà giảng thuyết Billy Graham: năm 1949 tại Los Angeles mở một chiến dịch giảng thuyết rộng lớn đưa đến kết quả thật vĩ đại khi nhiều người tìm đến với Chúa Giêsu. Từ đây khai mở thời đại rao giảng Tin Mừng theo quy mô đại chúng (mass evangelism). Nhà giảng thuyết thời danh này nhìn nhận từ trước tới lúc đó ông đã tổ chức nhiều cuộc thuyết giảng, nhưng chỉ đem tới những kết quả tầm thường. Về sau ông nhận ra sự khác biệt sâu xa giữa đại chiến dịch giảng thuyết tại Los Angeles và các lần giảng thuyết trước đó hệ tại số người trợ tá đông đảo đã cầu nguyện cho ông.
Những chứng từ vừa rồi xác quyết cho thần lực mãnh liệt của các trợ tá cầu nguyện. Không quan trọng người đứng đầu tác vụ là giáo sĩ, giáo dân hay các bạn trẻ, điều chính yếu là đàng sau hậu trường của các tác vụ này có các trợ tác cầu nguyện như một đội quân của Chúa không, kết qủa sẽ ngoài sức tưởng tượng?
* Cầu nguyện thay đổi thế giới
Người ta sẽ không thể diễn tả được thế giới sẽ chuyển đổi ra sao trước kết quả của các Kitô hữu âm thầm cầu nguyện trong suốt lịch sử Kitô giáo? Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu là một nữ tu nhỏ bé chỉ biết cầu nguyện trong bốn bức tường tu viện, thế mà Giáo Hội đã đặt ngang hàng với các bước chân truyền giáo khắp nơi của Thánh Phanxicô Xaviê. Sức mạnh của cầu nguyện thật thần lực và vũ bão! John Wesley công nhận sức mạnh mãnh liệt của cầu nguyện như sau: "Hãy cho tôi 100 nhà giảng thuyết không biết sợ hãi gì hết ngoại trừ tội lỗi và không thèm muốn một điều gì khác ngoài Chúa, và tôi không cần biết họ là giáo sĩ hay giáo dân, với thành phần đó chúng ta sẽ làm rung chuyển các cửa hỏa ngục và thiết lập được thiên đàng trên trái đất. Thiên Chúa không làm gì hết ngoại trừ việc Ngài đáp ứng lời cầu nguyện."
Bàn tay Chúa cử động khi các giáo dân và giáo sĩ cùng chung nhau cầu nguyện. Nhờ cầu nguyện, Thiên Chúa làm chuyện không có thể trở thành có thể. Nhờ cầu nguyện, Chúa tăng gấ