ĐINH HỢI, TẢN MẠN VỀ HEO - LỢN

pig-1Theo âm lịch, năm nay mang danh Đinh Hợi, chú Lợn sẽ được cậu Chó (Bính Tuất) bàn giao công việc dân gian trong 12 tháng sắp tới. Nhân ngày đầu xuân khởi điểm năm mới, chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về chú lợn, một động vật rất gần gũi, được nuôi rộng rãi trong nhiều gia đình ở khắp các địa phương.

I. VÀI HÀNG TẢN MẠN
Con vật nuôi để cho thiên hạ làm thực phẩm, người miền Bắc kêu là “con lợn”, còn miền Nam gọi là “con heo”. Có khác nhau không? Có người giải thích đơn giản là: Lợn ăn ngô, heo ăn bắp.
Paulus Huỳnh Tịnh Của là một học giả người miền Nam, trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, ông đã giải nghĩa Lợn là con Heo. Theo ông: người miền Nam phần lớn là những di dân từ miền Trung tràn xuống, tiếng nói của họ nặng, khi phải bẩm trình với quan lớn, họ lại phát âm thành “quan lợn”. Trò chơi lợn, ăn quỵt, Giacọp. Quan cho là vô phép nên sai lính lấy hèo phạt, ai bẩm “quan lợn” là phải đòn 10 hèo. Nhiều người bị phạt hèo như vậy, nên khi thấy con lợn họ hình dung ngay ra những cây hèo vút vào mông họ, họ bèn mỉa mai gọi con lợn là “con hèo”. Rồi để khỏi lầm lẫn con lợn với cây gậy quái ác ấy, họ bớt đi dấu huyền, còn lại là con heo. Con lợn từ miền Bắc đi xuống miền Nam thành con heo là như thế.

Nói chuyện lợn bên Tầu, nhiều người nghĩ ngay đến Thiên Bồng Nguyên Soái trong Tây Du Ký, vì tội trêu chọc Hằng Nga tiên nữ mà bị đày xuống trần, rớt đúng vào một chuồng lợn, nên có thân hình xấu xí như con heo, trở thành Trư Bát Giới.

Lợn hay heo cũng chỉ là một loại gia súc được nuôi bằng thức ăn tạp, để cung cấp thịt cho người dùng. Tuy nhiên có nhiều loại lợn: lợn sề, lợn nái, lợn giống, lợn cấn, lợn sữa, lợn choai, lợn tháu, lợn ỷ v.v… Heo thì có heo nhà, heo ruộng, heo bông, heo lang, heo cỏ, heo bò, heo đen, heo nọc, heo hạch, heo nái, heo nưa, heo lứa, heo mọi… Đó là các loại heo cúi nuôi trong nhà, còn loại heo hoang dã như heo lăn chai, heo rừng hay lợn lòi… là loài hung dữ, nhanh nhẹn.

Nói về việc chăn nuôi heo, ngày nay đã trở thành công nghiệp hóa để rút ngắn thời gian nuôi mà vẫn đạt được trọng lượng thịt cao, ngoài việc con giống heo nội địa lai tạp với heo nước ngoài ra, nhiều địa phương đã nhập toàn giống thuần chủng ở các nước khác về nuôi như: heoYorshire, heo Landrace, heo Chester White, heo Duroc, heo Hampshire…

II. HÌNH ẢNH CON LỢN TRONG VĂN HÓA DÂN GIAN

Con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi, con chó khóc đứng khóc ngồi, mẹ ơi đi chợ mua con đồng riềng. Vì sao chó phaỉ có riềng, lợn có hành?
Triết lý VN theo triết lý Trung hoa, chủ trương âm dương hoà hợp. Quan niệm đó được thể hiện trong lãnh vực ăn uống. Thịt gì món gì phải ăn với rau thơm hay gia vị nào đều có quy định cả. Người Việt ăn nhiều thứ rau mà các nước khác không có: rau mùi, rau răm, lá sung lá xoài, củi tỏi, gừng riềng…Gà luộc cần có lá chanh, thịt lợn cần có củ hành, chó phải có củ riềng lá mơ.
Ba con vật này đứng chót trong thứ tự 12 con giáp. Gà lợn và chó là ba con vật nuôi rất thông dụng trong hầu hết các gia đình nông thôn Việt nam.

Theo cổ tích Việt Nam, tiền thân của lợn là một vị tiên trên trời, vì ham ăn, lại lười biếng chẳng chịu làm việc gì, nên Ngọc Hoàng đày xuống dương gian làm kiếp gà, bắt phải bới rác kiếm ăn. Vị tiên ấy chê giống gà nhỏ bé, đến con mèo con chó cũng bắt nạt được. Trời thương tình, cho làm kiếp bò. “Bò tuy lớn, nhưng chỉ được ăn cỏ mà còn phải vất vả kéo xe, kéo cày…” nghĩ thế, nên vị tiên ấy lại năn nỉ:

- Xin Ngọc Hoàng cho con cái chức gì không phải làm lụng, mà được cơm bưng nước rót đến tận miệng…

- Vậy Ta cho người làm kiếp Lợn, người ta sẽ đem thức ăn đến tận mõm, chỉ việc ăn no ngủ kỹ, càng ăn lắm ngủ nhiều người ta càng thích, để thân xác béo mẫm ra cho người ta nhờ.

Thế là vị tiên đó hí hửng lạy tạ, xuống trần làm thân con lợn, không đề ý đến hậu quả. Tới lúc lợn béo nùng nục, bị người ta lôi ra làm thịt, mới té ngửa ra, đòi xin hoá kiếp. Một tiên ông đến mách bảo “xin người ta thêm hành vào xào nấu với thịt thì ngươi được hoá kiếp”. Từ đó “con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi” là đề mong được hoá thân kiếp khác vậy.

Sống chung với loài người ở khắp nơi, đặc biệt thịt lợn có mặt trên các mâm cỗ, bàn tiệc và là thức ăn ít nhiều đều có trong bữa ăn gia đình ở thành thị cũng như thôn quê, từ đó hình ảnh con lợn đã đi vào nếp sống dân dã trên nhiều lãnh vực qua các câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ tiếng Việt cũng thường nhắc đến động vật hữu ích này.

Ca dao Việt Nam từ rất xa xưa đã có những câu rất dí dỏm, rất tình tứ, đầy nhân bản về việc cưới gả. Trong đó con heo cũng đóng vai trò quan trọng. Chẳng hạn một chàng trai đã “phải lòng” một cô thiếu nữ, nhưng lại vờ vĩnh hứa giúp “đằng ấy” khi “đằng ấy” lấy chồng:
Giúp em một thúng xôi vò,
Một con lợn béo một vò rượu tăm.


Nghe vậy, nàng cũng bắt thóp được ý chàng, tuy tim nàng nhảy tưng tưng muốn nẩy ra khỏi lồng ngực, nhưng cũng trấn tĩnh, ngúng nguẩy ỏn ẻn, khẽ trả lời:
Anh về thưa với mẹ cha,
Bắt lợn đi cưới, bắt gà đi cheo.


Nói gà bắt gà đi cheo, chứ thật ra chàng trai phải nộp cheo cho làng bằng thủ lợn đấy. Bởi vì:
Sỏ lợn lớn hơn đầu mèo,
Làng ăn không hết làng treo cột đình.


Tục lệ ở Việt Nam xưa là như thế. Nạp cheo để chứng minh cho cả làng biết là chúng tôi thành vợ thành chồng đàng hoàng. Biên nhận nạp cheo là một thứ giấy giá thú. Nếu không có nó thì:
Có cưới mà chẳng có cheo,
Dẫu rằng có giết mười heo cũng hoài.


Cưới mà giết mười heo thì chỉ có con nhà phú hộ, còn nhà bình dân thì làm mâm cơm cúng ông bà cũng đủ:
Nhà họ giầu thì đầu heo nọng thịt,
Đôi mình nghèo thì cặp vịt với bông tai.


Tuy vậy, nhưng không phải chuyến thuyền tình nào cũng xuôi chèo mát mái cả. Những lời ong tiếng ve đôi khi cũng làm chia lan rẽ thúy:
Trách ai dụm miệng nói dèm,
Cho heo kia bỏ máng, chê hèm không ăn.


Heo bỏ máng hay máng chán heo. Đàng nào thì phần thiệt cũng về người con gái:
Còn duyên anh cưới ba heo,
Hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi.


Chẳng ai lại chịu cưới bằng con mèo, nhưng có thể làm đám cưới đơn giản với người tử tế, rồi vợ chồng chí thú làm ăn, còn hơn nghe theo bà mối, có đám cưới linh đình mà phải gánh chịu anh chồng chỉ lo ăn với phá, để rồi tự than vãn:
Ai đem chú ỉn sang sông,
Để cho chú ỉn ủi vồng khoai lang?


Vì thế thiếu nữ nào chẳng muốn mình có được người chồng tâm đầu ý hợp, phải trang vừa lứa, chứ mấy ai chịu cái cảnh:
Con gái lấy phải chồng già,
Cũng bằng con lợn cọp tha vào rừng.


Nói là nói vậy, chứ số phận người con gái thời phong kiến xưa, chưa hẳn đã tự chọn cho mình được người bạn đời như ý. Vì chưng:
Mẹ em tham thúng xôi dền,
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.

Em đả bảo mẹ rằng đừng…
Mẹ em tham thúng bánh chưng,
Tham con lợn nái, em lưng chịu đòn.


Người Việt hay dùng hình ảnh ví von: nói toạc móng heo, Mượn đầu heo nấu cháo. Cám treo heo nhịn đói. Gió Heo may đã về?

III. NGƯỜI TUỔI HỢI VÀ TÌNH YÊU

TÍNH CÁCH CHUNG CỦA CẢ HAI GIỚI
Người tuổi Hợi đa phần phẩm hạnh đoan chính, tâm hồn thuần khiết, thành khẩn, thẳng thắn, lòng dạ hiền lương, lương thiện. Vì thế mọi người đều vui thích khi ở bên bạn. Người sinh năm Hợi thường chân thật trong chuyện tình cảm, ít khi có ý nghĩ đen tối hãm hại người khác. Nếu bạn yêu một người tuổi Hợi, người ấy sẽ không bao giờ lừa dối hay đùa giỡn bạn, người ấy rất chân thành. Tuy nhiên đôi lúc người tuổi Hợi gần như tạo cho người khác cảm giác sai lầm răng họ ngốc nghếch, ngớ ngẩn, nên thường bị người ta lừa gạt và đùa bỡn, trêu cợt. Bởi vậy khi tuổi Hợi yêu hãy nhớ thận trọng, chớ dễ dàng sập bẫy người khác. Người tuổi Hợi rất lạc quan, yêu đời, tuyệt đối sẽ không làm điều gì dại dột vì tình.
Sự đắm tình và nét đáng yêu của người tuổi Hợi sẽ giúp bạn có được bước tiến dài trên đường tình duyên, bạn sẽ cảm thấy tình cảm suôn sẻ, ngọt ngào đến thế. Người đã lập gia đình, bạn đời của bạn dường như càng lúc càng thấu hiểu con người bạn, bạn sẽ cảm thấy nỗi vui sướng bội phần trong tình yêu. Hơn nưă người ấy sẽ không vì chút xíu chuyện vặt mà nổi ra cuộc đấu khẩu, điều này sẽ mang đến thật nhiều niềm vui, tình cảm khó mà rạn nứt hay phai nhạt được.
Người tuổi Hợi thuộc mẫu thiên về vật chất, họ rất biết cách hưởng thụ cuộc sống. Đôi khi lại là kẻ đam mê, đắm chìm trong thanh sắc. Nói chung người tuổi Hợi ít khi chủ động bắt quen với người khác, nếu họ hồ hỡi chuyện trò với ai, hẳn đã có cảm tình với người đó rồi.

TÍNH CÁCH NỮ GIỚI TUỔI HỢI
Tính tình ôn nhu, lương thiện, giàu tình cảm trong mắt người khác phái, bạn là một người tình đáng yêu hoặc một cô vợ bé bỏng dịu dàng, khiến phái mạnh rất muốn chở che, bao bọc bạn, bởi vậy bạn được rất nhiều chàng trai theo đuổi. Nhưng mặt khác bạn cũng có một cá tính khá ngang bướng, chẳng qua bạn không thể hiện ra mà thôi. Nhu nhược và mềm yếu chính là khuyết điểm của bạn.Tình yêu giúp bạn sau khi lập gia đình có thể trơ thành một bà mẹ tốt. Bạn không thích chủ động, bạn thích được người khác quan tâm, và là người ủng hộ hôn nhân kiểu cũ. Khi bạn đã kết hôn, chồng bạn rất quan tâm về gia đình, vì bạn rất yên tâm về gia đình, vì bạn rất đảm đang, coi sóc việc nhà đâu ra đấy, quả đúng là người vợ hiền đích thực.
            
TÍNH CÁCH NAM GIỚI TUỔI HỢI
Gần giống nữ giới tuổi này, cũng là một người ôn hòa, lương thiện, nhưng mà bạn có một ưu điểm trội hơn họ, đó là đầu óc tỉnh táo và kiên nghị. Quan điểm về tình yêu của bạn  thiếu hẳn sự chủ động, song đầy ắp mong ước. Bạn thường mong có được một mối tình nòng nàn, cháy bỗng, nhưng trên con đường kiếm tìm, bạn thường cảm thấy cô độc, lạnh lẽo. Tuy bạn có rất nhiều ưu điểm, xong không hẵn là không có khuyết điểm. Điểm thiếu sót của bạn chính ở chỗ bạn luôn có thái độ đòi hỏi sự  khẳng định, chắc chắc trong tình yêu, chính bởi vì bạn thường xuyên bị lừa gạt và đùa giỡn nên phải áp dụng biện pháp tự bảo vệ đó. Bạn quan niệm về gia đình khá cứng nhắc đòi hỏi vợ con phải có thái độ chung thuỷ không thờ hai chủ, tuyệt đối không được bắt cá hai tay, điều đáng tiếc là, những khi ấy bạn thường không biết biểu đạt, khuôn mặt lặn lùng, vô cảm, có thể khiến vợ con hiểu lầm bạn.
Nói chung người tuổi Hợi phù hợp với tuổi Mùi, tuổi Mão vì ba tuổi này khá ôn hoà, nhân hậu, thường đồng nhau, có thể gọi là đại cát , đại lợi. Còn nếu phối hợp với tuổi Dần thì hung cát đan xen, tuy nhiên về già sẽ được hạnh phúc. Người tuổi Hợi thường không hợp với tuổi Tỵ và tuổi Thân.    
           
IV. HÌNH ẢNH CON LỢN TRONG THÁNH KINH

Triết học Hylạp, Platon coi lợn là con vật lười biếng, chỉ những kẻ “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” trong kiếp trước, đã chọn để đầu thai vào, hầu tiếp tục được sống an nhàn. Một số người tuổi Hợi khoe rắng số họ nhàn lắm chẳng vất vả gì, ở đâu lúc nào cũng có người chăm sóc phục vụ. Không con vật nào sướng bằng con heo, ăn no lại nằm càng béo phì càng có giá vì  “con lợn có béo thì lòng mới ngon”.
Trong tiếng Hipri, người ta gọi nó là hazie, người Hylạp gọi là Hus, Người Pháp gọi là Porc,hay Cochon. Người VN bắt chước Tây chửi nhau là “đồ cô-sông” (đồ con heo). Thời đại phim ảnh ngày nay chế ra cụm từ là “phim con heo” để chỉ phim đồi truỵ xấu xa.
Người Do thái thì ghét bỏ, liệt lợn vào loài thú vật dơ không thanh sạch, nhờ đó mà nó không bị giết ăn thịt. Ăn thịt heo đối với người Do thái là một tội vì như thế là phản đạo. Bởi vậy người Do thái cấm nuôi heo.
Trong các dịp cúng thần, dân Israel bị Vua Hylạp là Antiôkhô ép buộc phải ăn thịt heo. Cụ Êlêasa, tuy đã 90 tuổi, nhưng phương phi đẹp lão. Cụ bị bắt phải há hàm để nhét thịt heo vào miệng, nhưng cụ thà chết vinh hơn sống nhục, đã khạc nhổ hết thịt heo ra khỏi miệng, rồi tự nguyện tiến ra nơi hành hình. Những người chủ tiệc kính thần, vì quen cụ đã lâu nên đã kéo cụ ra riêng một chỗ, khuyên cụ ăn một miếng thịt khác không phải là thịt lợn, rồi giả vờ như đang ăn thịt heo tuân lệnh nhà vua. Làm như vậy cụ sẽ thoát chết. Nhưng cụ trả lời họ: “Ở tuổi chúng ta, giả vờ là điều bất xứng, e rằng làm gương mù cho lớp trẻ, họ sẽ bảo là ông già Êlêasa đã 90 tuổi mà còn theo dân ngoại ăn thịt heo, và họ bị lầm lạc vì tôi đã giả vờ…”
Cụ đã bị hành hình, lúc sắp lìa đời, cụ vừa rên rỉ vừa thì thào nói: “Đức Chúa là Đấng thông biết mọi sự, hẳn Người biết là dù có thể thoát chết, nhưng tôi vẫn cam chịu những cực hình nơi thân xác, mà tâm hồn tôi vui vẻ vì tuân giữ luật Chúa”.
Cụ đã từ giã cuộc đời. Cái chết của cụ thật là tấm gương cao thượng chói sáng, không những cho các thiếu niên, mà còn cho phần lớn dân tộc.
(xem 2Mcb 6,18-31).
Trong sách Macacbê chương 7 kể Câu chuyện về bữa tiệc cúng thần, có tám mẹ con vì không chịu ăn thịt heo mà phải chịu các hình khổ quái ác đến chết.
Thánh vịnh ví dân Israel như vườn nho Chúa đã vun trồng, đang xum xuê hoa trái mà sao Chúa bỏ cho hoang tàn:
Làm sao Người nỡ triệt hạ tường giậu nó
Mặc cho khách qua đường bứt quả
Mặc cho heo rừng phá phách tan hoang
. (Tv 79, 13-14)
Sách Huấn ca đã phải than thở: Với người dại chớ có nhiều lời, đừng đồng hành với con lợn. (Hc 22,13).
Còn sách Cách ngôn, một cuốn sách điển hình nhất của văn chương khôn ngoan Israel, cũng cho rằng người dại khờ khó có thể hiểu được những lời khôn ngoan hướng dẫn, họ giống như: Đàn bà nhan sắc mà đần,
                                     Khác nào vòng xuyến đeo nhầm mõm heo
. (Cn 11,22)
Phúc âm Thánh Matthêu chép: “Châu ngọc chớ quăng trước bầy heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé anh em. (Mt 7,6).
Trong 3 Phúc âm Matthêu, Maccô và Luca đều trình thuật về đàn heo và người bị quỷ ám,  Chúa trừ quỷ cho anh ta. Quỷ đã xin Người cho chúng nhập vào đàn heo. Tất cả lao xuống biển chết đuối.
Câu chuyện đứa con hoang đàng: Một chàng thanh niên con nhà giầu, đòi bố chia gia tài. Rồi lấy tiền của đó đi kết bè kết đảng, tiêu pha phung phí, ăn chơi đàng điếm. Lúc hết tiền, bạn bè ăn nhậu đều xa lánh. Miền đó lại gặp nạn đói, anh ta phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng, ông chủ bắt anh ta ra đồng trông coi đàn lợn. Anh ta ước gì có thể lấy những muồng muồng heo ăn mà thốn cho đầy bụng mà cũng chẳng có ai bố thí cho. (Lc 15,15-16). Lúc ấy anh ta mới hối hận mò về…Anh ta được người cha nhân hậu tiếp đón niềm nở, sai mở tiệc ăn mừng. Không biết sau đó anh ta có chí thú làm ăn lương thiện trong nhà cha, hay lại theo lối xưa, ngu xuẩn quay lại với sự điên dại cũ, như Thánh Phêrô cảnh cáo: Heo tắm sạch lại tìm rạch đẵm bùn. (2Pr 2,22).

 Đến thời Hy lạp La mã thống trị Israel, thì chuyện nuôi heo trở nên phổ biến.. Chúa Giêsu đã phá bỏ sự phân biệt vật dơ và thánh. Đối với Người cái gì dơ là từ bên trong mà ra. Vì thế không có loài vật nào là dơ cả. Trong (CVTĐ 10,9-16), Phêrô thấy thị kiến và Lời Chúa phán với ông: Những gì Thiên Chúa đã tuyên bố là thanh sạch, thì ngươi chớ gọi là ô uế.

V. NĂM HỢI HỨA HẸN ẤM NO, HẠNH PHÚC

Con lợn còn là con vật tạo nhiều cảm hứng cho hội họa và dòng tranh dân gian mỗi dịp Xuân sang Tết về tranh con lợn được các nghệ nhân lưu ý nhất. Làng Đông Hồ nổi tiếng về vẽ tranh dân gian con lợn. Có ít nhất 3 loại tranh con lợn làng Hồ: Tranh đàn lợn (biểu tượng dân gian sinh sôi nảy nở). Tranh lợn độc (nhất khoản anh hùng). Và Tranh lợn ăn lá đáy (tự nhiên hòa hợp).

Riêng tại một số quốc gia ở Phương Tây, lợn được xếp vào loại con vật có cảm tình vẫn thường nuôi trong nhà như chó cảnh. Lợn cũng được coi là tiêu biểu cho sự may mắn, giàu sang.
Năm Tuất đã qua, năm Hợi lại đến với mọi người qua hình ảnh tượng trưng cho sự an nhàn của chú lợn nên dân ta có câu: “Tuổi Hợi nằm đợi mà ăn” vì người tuổi Hợi ít ai vất vả cho lắm. Con heo được người đời nuôi dưỡng, sống nhàn hạ, sung sướng, có lẽ để trả ơn con heo đã đem lại niềm vui, sự hạnh phúc thảnh thơi trong đời sống thường nhật của con người. Nên năm Hợi hy vọng sẽ no đủ, đầm ấm, hạnh phúc đến với mọi nhà.
Dù có dịch cúm gia cầm gà tái phát, tuy heo bò có nguy cơ lỡ mồm long móng, nhưng năm mới Đinh Hợi hứa hẹn sự sung túc cho mọi người cho đất nước.                                

Lm Giuse Nguyễn Hữu An