Các Thánh Tháng 10

Thánh Phanxicô Assise (1186-1226)
            Sinh hạ tại Assise ở Ombrie (Ý) năm 1186. Cha người là ông Piero Bernardone, một thương gia hàng vải hay đi buôn bán ở Pháp, nên đặt tên cho con là Francois.  Bà mẹ rất nhân đức ảnh hưởng nhiều nơi con. Francois lại muốn làm hiệp sĩ thích võ nghệ. Năm 1201, người tham chiến chống thành Perouse và bị bắt làm tù binh một năm. Bị bệnh, người bắt đầu suy nghĩ, dần hồi ơn gọi sáng tỏ, người quyết định dâng mình phục vụ Thiên Chúa và “kết nghĩa với đức khó nghèo mà người gọi là “Bà nghèo khó”. Trong một cuộc tranh chấp với bố, người quyết định từ bỏ hết mọi quyền lợi, của cải, kể cả áo quần bố sắm cho và ra đi trần trụi. Hai năm sau, nghe đọc bài Phúc âm từ bỏ của cải (Mt 10, 9-10), người quyết định từ bỏ tất cả, mặc chiếc áo thô buộc giây da, lòng hân hoan, đi rao giảng lời Chúa. Hai đồ đệ đến xin theo, người lấy 3 đoạn Phúc âm (Mt 10,9-20,21;Lc 9, 23) làm mực thước và khi đã có 11 môn đệ, người dọn một khoản lệ ngắn và đi Lamã, xin đức Giáo Hoàng phê chuẩn. Đức Innocent III ban lời chấp nhận tháng 6 năm 1210, họ trở về Assise, xây chòi ở gần nhà thờ Portiocule và đi rao giảng sự thống hối trong cả nước Ý. Họ noi gương Phanxicô mà họ gọi là “cha và mẹ”, tay làm hàm nhai hoặc đi khất thực. Không có một luật buộc nào, muốn ở thì ở muốn đi thì đi, cộng đoàn được gọi là “Anh em hèn mọn.”
            Năm 1212, Phanxicô giúp một thiếu nữ quí phái tên là Clara thiết lập ngành nữ “Các bà nghèo,” sau này là các Bà Clarisses. Không bao giờ Phanxicô muốn lập một dòng tu, kính cổng cao tường, mà chỉ muốn đi theo Chúa như Phúc âm mô tả. Nhưng dầu dầu không, các thầy hèn mọn càng ngày càng đông phải có tổ chức, đọc sách nguyện, ăn ngũ giờ giấc như thầy dòng. Phanxicô phải chia sẽ một phần quyền bính “Các phụ tá” trông coi từng nhóm, những “Bà mẹ,” mỗi năm có đại hội tại Portioncule. Năm 1219, các thầy được chia thành “tỉnh” và đi rao giảng. Phanxicô đi qua đến Phi Châu gặp vị Sultan quân Sarrasins để giảng đạo.
            Một tổ chức trở nên cần thiết. Phanxicô được mời về và phải thảo bản qui luật thứ hai để xin đức Honorius III chấp thuận năm 1223. Người trao quyền lại cho thầy Elie, một con người khó hiểu, và đi vào núi sống ẩn dật. Ngày 14 tháng 9 năm 1224, người được in năm dấu thánh, rất đau đớn và mang cho đến chết. Trong cuộc đi thăm bà thánh Clara trong tu viện, thánh nhân được các chị em cất cho một cái chòi lá trong vườn và ở đó người đã viết bài ca mặt trời, một áng văn danh tiếng của văn chương Ý và viết một bản “chúc thư” về đường hướng của dòng.
            Phanxicô qua đời tại Portioncule chiều 3 tháng 10 năm 1226, được tôn phong hiển thánh 2 năm sau do Đức Grêgôriô IX, mộ người do thầy Elie cất nằm ở đại thánh đường Assise bây giờ. Một vị thánh được coi là “người Kitô hữu chơn thật số một của lịch sử,” “vị thánh dễ thương nhất.”
Lễ nhớ: 4 tháng 10.

Thánh Brunô linh mục (1030-1101)
            Thuộc gia đình quí phái. Sinh tại Cologne (Đức), Bruno Hartenfaust sau khi được thụ phong linh mục, làm kinh sĩ và dạy học ở Reims về khoa học, văn chương và thánh kinh. Một trong những học sinh của người, Eude Chantillon sau này sẽ trở nên Giáo Hoàng Urbamô II. Người vào tìm hiểu một thời gian trong tu viện Molesmes, nhưng theo lời thánh Robert đấng sáng lập, Brunô chọn lối sống ẩn sĩ đúng với ý nguyện đi tìm Chúa của mình hơn. Năm 1084, cùng với sáu anh em, do thánh Hugues, giám mục Grenoble chỉ dẫn, người vào sâu trong rạng núi hoang vu Chartreuse, lập một tu viện mà mỗi đan sĩ sống riêng rẽ trong mỗi nhà cá nhân. Họ sống khổ hạnh cần cù, chỉ họp nhau trong “giờ kinh”. Tu viện gọi là Đại Chartreuse là tu viện đầu tiên của dòng.
            Bốn năm sau, Đức Urbanô II, cực học sinh của Người, mời Brunô giúp ý kiến để cải tổ nhiều điều trong giáo hội. Nhưng Brunô chỉ nghĩ đến cuộc sống ẩn sĩ. Năm 1092, Người lui về La Torre ở Calabre và qua đời 9 năm sau trong một tu viện chi nhánh.
            Thánh Brunô không phải là tác giả bản luật dòng Chartreuse, nhưng các đan sĩ đã tuân theo chí hướng ẩn tu mà Người đã hướng dẫn dòng.
            Lễ nhớ: 6 tháng 10.

Thánh Giêrađô Majella (1726-1755)
            Sinh hạ tại Muro Lucano, trong vương quốc Naples (Ý), mồ côi cha từ lúc nhỏ, nối nghề cha làm thợ may, rất có lòng đạo đức, muốn làm tu sĩ, nhưng vì sức khỏe không được nơi nào nhận. Giêrađô trong một tuần đại phúc do các cha dòng Chúa Cứu Thế thuyết giảng, được nhận “cách bất đặt dĩ” vào dòng như một tu huynh không làm linh mục. Nhưng con người được giới thiệu là “kẻ vô dụng” ấy đã trở nên một vinh dự cho dòng. Đời người là một chuỗi dài phép lạ, xuất thần, nói tiên tri, bắt bí ma quĩ, làm cho nhiều người trở lại… Ở hai chỗ một lúc…Nhưng nhất là người có lòng yêu mến Chúa cao độ và một đức khiêm nhường sâu thẳm. Bị một cô gái cáo gian, bị chính thánh Anphongsô, sáng lập dòng, ra án phạt không được chịu lễ, Giêrađô một mực giữ im lặng. Khi cô thiếu nữ bị lương tâm dày vò, thú tội cáo gian, minh oan cho người, Giêrađô được Anphongsô vặn hỏi: “Sao con không nói?”, đã trả lời: Vì trong luật dòng dạy không được chữa lỗi!
            Giêrađô qua đời lúc lên 29 tuổi, được tôn phong hiển thánh năm 1904, quan thầy trẻ em mới sinh.
            Lễ nhớ: 16 tháng 10.

Thánh nữ Hedwige (1174-1243)
            Ái nữ một bá tước Bavois (Đức). Kết bạn với công tước Silèsie là Henri đệ nhất năm 1186 và sinh hạ được 6 đứa con. Từ năm 1209, hai vợ chồng cùng quyết định giữ đức khiết tịnh suốt đời. Bà vẫn làm hết nhiệm vụ người mẹ và một công chúa, đồng thời tận tụy giúp đỡ người và các tù nhân. Sau khi chồng qua đời, thánh nhân vào tu trong dòng nữ Xitô ở Trebnitz (Ba Lan) do con bà là Gertrude làm tu viện trưởng, sống khiêm nhường và nhặt nhiệm, tuy không làm lời khấn. Người được xứ Silésie rất sùng kính và chọn làm quan thầy. Người được phong hiển thánh năm 1267.
            Lễ nhớ: 16 tháng 10.

Thánh Isaac Jogues và các bạn tử đạo (1607-1646)
            Isaac Jogues sinh tại Orleans (Pháp) và vào dòng Tên năm 1624. Sau khi chịu chức linh mục năm 1636, người được gửi đi giảng đạo tại Canada. Người giảng đạo cho thổ dân Hurons. Bị sắc tộc Iroquois, vốn có mối thù truyền kiếp với sắc tộc Hurons, bắt năm 1612 và tra tấn khủng khiếp rồi cầm tù một năm. Người trốn thoát được và trở về Pháp. Năm 1645, người lại trở sang Canada với một thầy trợ sĩ tên là Jean Delalande. Hai vị thừa sai lại cố giảng đạo cho người Iroquois. Nhưng năm sau, bị bắt và giết chết.
            Với René Joupil, Jean de Brébenf, Gabriel Lalemand, Autoine Daniel, Charles Garnier và Noel Chabanel, các Ngài là các vị tử đạo đầu tiên của Canada.
            Công cuộc truyền giáo của các Ngài mở đường cho sắc tộc Iroquois trở lại và thiết lập Giáo Hội công giáo Canada nói tiếng Pháp.
            Các Đấng là quan thầy thứ hai của Canada.
            Lễ nhớ: 19 tháng 10.

Thánh Gioan Capristran (1386-1456)
            Sinh hạ tại Sicile (Ý). Một luật gia tên tuổi tại triều đình Naples, người bỏ thế gian vào Dòng Phanxicô năm 1415. Từ năm 1430, người trở nên vị cải tổ, lập Dòng Ba của Thánh Phanxicô. Người là một nhà hùng biện của Âu Châu thời ấy và cố vấn Đức Eugène IV, được gửi đi giảng đạo ở Trung Âu, dự phần vào cuộc xuất quân thánh giá do Đức Calixte III chủ xướng. Nhưng bị thất bại tại Belgrade năm 1456. Tuy nhiên, người có công trong việc chấm dứt cuộc đại ly khai Tây Phương và đem Giáo Hội Đông Phương xích lại gần Tây Phương. Người được gọi là “quan thầy Âu Châu hợp nhất”
            Lễ nhớ: 25 tháng 10.

Thánh Antoine-Marie Claret (1807-1870)
            Sinh hạ trong một gia đình nghèo ở Catalogne. Làm linh mục, người hoạt động mục vụ trong miền một thời gian bằng lời giảng và sách vở rồi người sang giảng đạo ở quần đảo Canaries (Mỷ Châu) trong 15 năm. Năm 1849, người trở về quê hương, thiết lập Dòng Thừa Sai gọi là Dòng Khiết tâm Maria hay Clarétains. Cùng năm ấy, Đức Piô IX đặt người làm Tổng Giám mục giáo phận Santiago ở Cuba. Người hoạt động cách riêng để giúp đỡ các người nô lệ, bị các chủ nhân làm khó dễ rất nhiều và bị hăm dọa ám sát. Trở về Tây Ban Nha, người được chọn làm cha linh hướng của nữ hoàng Isabelle. Trong cuộc cách mạng 1868, người theo bà và gia nhân trong cuộc lưu đày sang Pháp và chết ở đó năm 1870 tại tu viện Citô ở Ande. Một gương mẫu cầu nguyện.
            Lễ kính: 24 tháng 10.

Thánh Tông Đồ Simeon (thế Kỷ I)
            Ông có biệt danh là “người nhiệt tâm-Zelote” có lẽ vì trước đây người thuộc về nhóm quốc gia Do Thái muốn đánh đuổi quân Lamã để lập lại Israen. Người cũng được gọi là “người Cananeen.” Người được nêu danh trong bản 12 tông đồ, nhưng Phúc âm không nói gì về người. Tương truyền đáng tin cậy cho biết người chết tử đạo tại Ba Tư (Perse) với thánh Giuđa và cả hai được mừng chung. Không nên lẫn lộn với Simon Phêrô.
            Lễ nhớ: 28 tháng 10.
            Có 17 vị Thánh hoặc Chơn phước mang danh hiệu Simon.