Thánh Tôma Tông Đồ (Thế Kỷ I)
Thánh Tôma tông đồ được mô tả như một con người sáng suốt, thực tế quả cảm, theo Phúc âm của Gioan. Ông có biệt danh là Didymô nghĩa là song sanh. Tôma đoán chắc những việc lớn lao sẽ diễn ra ở Giêrusalem khi các môn đệ cùng Chúa về Giêrusalem dịp lễ Vượt Qua. Chúng ta hãy cùng đi để chết với Người. (Gio 11,6). Sau khi Chúa sống lại, trong lúc ông đi vắng về, nghe kể lại, ông vẫn một mực không tin. Nếu tôi không nhìn thấy lỗ đinh nơi tay Người, nếu tôi không để tay tôi vào cạnh sườn Người thì tôi không tin” (Gio 20,24-29). Tám ngày sau, Chúa lại hiện ra với đông đủ các môn đệ, Chúa xin ông sờ đụng các vết thương của Ngài. Tôma không biết làm gì hơn là phủ phục và tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa tôi!” Một dịp Chúa để cho Tôma và qua Tôma Chúa cho chúng ta một chân lý trên một bình diện cao thượng hơn là trên phương diện giác quan và khoa học. “Bởi vì ngươi đã thấy và tin, hỡi Tôma, phúc cho những ai không thấy mà tin.”
Tương truyền, Tôma đã giảng đạo cho người Mède và người BaTư, rồi qua cả Ấn Độ, nơi ngày nay có nhiều cộng đoàn Kitô Giáo theo lễ điển Malabar còn làm chứng tá cho tương truyền ấy.
Lễ nhớ: 3 tháng 7.
Nữ Thánh Elisabeth Bồ Đào Nha (1271-1336)
Elisabeth là ái nữ của Pierre III Aragon và Constance, khi rửa tội được mang tên thánh Elisabeth để kính nhớ bà cô là thánh nữ Elisabeth Hung Gia Lợi. Một đời với nhiệm vụ hòa giải giữa cha và ông nội. Lúc lên 12 tuổi đã kết bạn với vua Denis Bồ Đào Nha và lúc lên 18 tuổi sinh hạ đứa con đầu trong hai con.
Trong đời hoàng hậu., chỉ biết sống nhặt nhiệm, cầu nguyện và làm việc bác ái. Mỗi ngày đọc kinh nhật tụng. Chồng bà là một ông vua biết cai trị nhưng là một người chồng ăn chơi. Elisabeth phải nhẫn nhục chịu đựng sự bất tín. Nhưng hoàng tử Alphongsô không chịu nỗi lối sống sa đọa của cha, nên đã hai lần nổi loạn, dùng khí giới chống lại. Bà mẹ Elisabeth đã giàn xếp giữa hai cha con, đã cởi ngựa xông vào giữa trận chiến để cản ngăn. Vua Denis một hồi nghi rằng Elisabeth xúi con khởi loạn, đã bắt vợ đi đày, nhưng khi hiểu biết sự thật đã phong vợ quản trị một thành phố. Vua qua đời sau cơn đau đớn, được vợ săn sóc tận tình và giúp phần linh hồn. Elisabeth từ bỏ mọi chức vụ, mặc áo dòng ba Phanxicô và vào ẩn trong tu viện Clara gần đó. Khi con bà là Alphongsô đem quân đánh vua Castille để báo thù cho em gái, Elisabeth lại lên đường đi giàn xếp, ngã bệnh và qua đời ngày 4 tháng 7 năm 1336. Người được tôn phong hiển thánh năm 1626 do đức Urbanô XIII-Một vị thánh của Hòa bình.
Có 12 vị nữ thánh hoặc Chơn Phước mang tên Elisabeth
Lễ nhớ: 4 tháng 7.
Thánh nữ Maria Goretti (1890-1909)
Chị cả trong một gia đình đạo đức, đông con và nghèo ở miền Marais-Pontius (Ý), Maria phải giúp mẹ lo nội trợ trong khi mẹ góa bụa phải lo việc đồng áng. Một hôm, Maria chống cự lại những đòi hỏi của anh Alexandrô, một người hàng xóm 18 tuổi, nên bị anh đâm 18 lát dao! Cô không chết ngay, tha thứ cho kẻ sát nhân và cầu cho anh cũng được Chúa tha thứ.
Năm 1950, Maria được Đức Piô XII tôn phong Hiển Thánh và có Alexandro đã trở lại tham dự. Đây là vị Nữ thánh tử đạo đầu tiên có người sát hại mình tham dự. Năm 1985, khi chị Marie-Clémentine Annarite được phong Chơn Phước cũng có người sát hại chị cò mặt.
Nữ thánh Maria Goretti là người đầu tiên được tôn phong hiển thánh của thế kỷ XX.
Lễ nhớ: 6 tháng 7.
Chân Phước Kateri Tekakwitha (Người Da Đỏ 1656-1680)
Bông huệ của bộ lạc người Da Đỏ Mohawks. Nữ Chân Phước (Catarina) là một người chiêm nghiệm, trở lại đạo Mohawks. Nàng là ái nữ của bộ lạc này và mẹ thuộc bộ lạc công giáo algonquin. Cô Kateri sinh ra trong một làng người Da Đỏ tại Ossernenon, Auriesville, New York, là nơi hai vị thánh chịu chết vì đạo Chúa, đó là Thánh Issac Joques và Thánh Jean De Lalande vào năm 1646. Kateri bị mồ côi sau nạn dịch đậu mùa hoành hành làm cho cô bị lòa mắt và mặt cô trở nên rất xấu xa. Khi linh mục Jacques De Lamverville từ Pháp qua truyền giáo trong làng cô đang ở, Kateri xin được chịu phép Thánh Tẩy. Viêc cô theo đạo và không chịu lập gia đình, đã làm cho cô bị các bạn cùng bộ lạc chế diễu và đe dọa. Sợ cho tính mạng của chính mình không được an toàn, cô phải trốn ra khỏi làng, với sự giúp đỡ của những chiến sĩ công giáo, để đi tới tạm Monteral Canada.
Kateri rước Chúa lần đầu trong ngày lễ Giáng Sinh Năm 1677. Vào năm 1679 cô khấn giữ mình đồng trinh, dâng mình cho Chúa Kitô. Trong năm cuối đời cô, Kateri tỏ ra được ơn về chiêm nghiệm lạ thường, làm cho các linh mục truyền giáo của người Pháp cũng như đồng bào công giáo của cô rất kính phục. Cô qua đời ngày 17 tháng Tư tại Caughnawaga, Canada. Trên giường chết, mặt cô khỏi mọi vết thẹo và trở nên bình thường. Kateri hiện về cùng nhiều linh mục và các người Da Đỏ, sau khi chết và nhiều phép lạ tín hữu xin cô chuyển cầu được thực hiện. Đức Giáo Hoàng Piô XII phong chân phước ngày 22/6/1980.
Lễ nhớ 17 tháng 4
Thánh Nữ Maria-Madalena (Thế kỷ I)
Ngày trước, người ta lẫn lộn giữa Maria-Madalena và ba người phụ nữ được Phúc âm nói đến là:
-Người đàn bà tội lỗi vô danh đã đến đổ thuốc thơm trên chân Chúa và lấy tóc lau. (Lc 7,37-50)
-Maria ở Bethania, em của Matta và Lagiarô. Cô cũng đã xức thuốc thơm nơi chân Chúa và lấy tóc lau, (Gio.11,11:12,3).
-Maria ở Magdala (Magdala là một làng trên bờ hồ Tiberiade) người được Chúa Giêsu đuổi bảy quỉ (LC 8,2) và có mặt dưới cây thập giá khi Chúa chết. Cô dự vào việc an táng; trở ra mộ hai hôm sau để hoàn tất việc xức xác, nhìn thấy ngôi mộ trống. Maria là người đầu tiên được nhìn thấy Chúa sống lại và đi báo cho các tông đồ.
Thì, chỉ Maria Magdala này được ghi trong niên lịch phụng vụ sau cuộc cải tổ lịch phụng vụ Lamã mới. Cũng do sự lầm lẫn lâu giữa ba nhân vật mà Maria-Madalêna được coi là quan thầy những phụ nữ hoàn lương, những người bán cước hoa và những người buôn găng tay.
Cũng do sự lầm lẫn lâu ấy mà có những tương truyền khác nhau, như việc Maria Madalêna đã đến xứ Gaule, có từ thề kỷ XI, người ta kính thánh tích của Bà ở Vezelay, trên con đường hành hương đến Compostelle; cũng tại Provence, từ thế kỷ XIII có những cuộc hành hương lôi kéo nhiều người đến Sainte Marie de la mer, nơi mà người ta cho rằng Maria-Madalêna đã đổ bộ, với em là Lazarô với nhiều phụ nữ khác, có cả người tớ gái là Sarah, quan thầy của những người phiêu bạt Gitans. Cũng như tại Sainte-Baume nơi có một bộng đá Người ở và tại Saint-Maximin có phần mộ cuả Người.
Tại Đông phương, tương truyền rằng Maria-Madalêna chết và được chôn ở Ephêsô. Năm 899, Hoàng Đế Lêô VI đã chuyển thánh tích của Người hay là được coi như vậy, về một tu viện ở Constantinople. Từ Đông phương, việc tôn sùng đến Tây phương vào thế kỷ X.
Vậy chúng ta chỉ biết về những gì Phúc âm nói đến về vị thánh nữ đặc biệt ấy và ngày nay hình như chỉ có Madalêna-Magdala mới có tên trong lịch phụng vụ mới.
Lễ nhớ: 22 tháng 7.
Thánh Anna, thân mẫu của Đức Mẹ
Những gì chúng ta biết về bà thánh Anna đều do cuốn Tiền Phúc âm Giacôbê, viết vào thế kỷ thừ II. Tuy nhiên câu chuyện mang nhiều nét vui tươi, độc đáo, đầy ý nghĩa tượng trưng sự thánh thiện.
Nếu Anna phải chịu nhiều khinh miệt và đau khổ vì son sẻ, thì để nói lên rằng muốn cộng tác vào công cuộc cứu chuộc, phải thông phần đau khổ của Chúa. Và như vậy, Anna mới được Chúa ban cho một người con vô tiền khoáng hậu. Một ngày kia, khi Anna đang cầu nguyện thì một thiên thần hiện ra loan báo bà sẽ sinh hạ một người con. Anna đã hứa hiến dâng cho Thiên Chúa. Người con đó là Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Anna đã kết bạn với Gioankim lúc lên 20 tuổi và sinh hạ Maria lúc đã 40. Và hai ông bà đã qua đời trước ngày Chúa Giêsu ra đời.
Việc tôn sùng Bà thánh Anna có từ lâu ở Đông phương và truyền qua Tây phương do đạo binh thánh-giá. Người ta được biết Bà thánh Anna được đặc biệt tôn kính ở xứ Bretagne như vị thánh quan thầy. Tại đây, có môt ngôi thánh đường kính thánh nữ ở Auray, được xây cất tại nơi Thánh nữ đã hiện ra với một pho tượng được tôn kính ở trong nguyện đường cổ xưa hơn nữa. Thánh đường Bà thánh Anna Auray trở nên một trung tâm hành hương lớn.
Bà thành Anna cũng được đặc tôn kính như quan thầy của xừ Québec (Gia-na-đại), vương cung thánh đường Sainte Anne de Beaupré là một trung tâm hành hương của Bắc Mỹ.
Lễ kính: 26 tháng 7.
Nữ thánh Matta (thế kỷ I)
Phúa âm cho biết Matta cư ngụ tại Bêtania cùng em là Maria và Lagiarô. Bà đón tiếp Chúa nhiều lần. Một hôm bà than phiền vì phải làm hết mọi thứ trong khi Maria chỉ ngồi dưới chân Chúa. Chúa Giêsu trả lời: “Matta, Matta, con lo lắng về nhiều điều. Nhưng chỉ có một điều cần thiết. Maria đã chọn phần nhất hảo và không bị ai chiếm lấy.”
Phúc âm cũng thuật lại việc Lagiarô chết, chôn 4 ngày đã được Chúa cho sống lại. Vào dịp ấy, Matta đã nói lên niềm tin của Bà: “con tin rằng Ngài là đấng Kitô. Con Thiên Chúa đến trong thế gian.” Bà chủ nhà Bêtania đã trở nên quan thầy của các chủ khách sạn.
Một huyền thoại cho rằng Bà đã cập bến ở Provence với hai em là Maria và Lagiarô, với các bà thánh thiện. Bà đã đến Tarascon, giết chết một con rồng đang phá hại dân gọi là con Tarasque. Bà được coi là quan thầy của thành phố. Thật ra, huyền thoại dựa trên câu chuyện của một Matta khác, một nữ tu Ba Tư, tử đạo năm 347 mà hài cốt chôn ở Tarascon.
Lễ nhớ: 29 tháng 7.
Có 10 vị Thánh hoặc Chơn Phước mang tên Matta.