Chúa Nhật 3 Mùa Chay-A-2008
“ Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa “. . . ( Yn 4:14 ) .
![]()
Ai trong chúng ta cũng quá biết : Nước cần cho sự sống. Dân Do thái trong sa mạc đã kêu than với Thiên Chúa vì không có nước, tức đã nghi ngờ sự tín trung của Ngài. Tuy vậy, Ngài vẫn nhường nhịn với dân bướng bỉnh này.
Thánh Phaolô khuyến khích chúng ta: Thiên Chúa đã yêu thương qua phép Rửa Tội. Chúng ta có thể tin cậy vào lòng thương yêu của Ngài.
Dưới ngòi bút linh động, Thánh Yoan mô tả : Một phụ nữ miền Samaria đàm thoại với Chúa Yêsu bên bờ giếng Giacóp. “ Khi ấy Đức Yêsu đến một thành xứ Samaria, tên là Sykar, gần thửa đất ông Giacóp đã cho con là Giuse. Ở đấy, có giếng của ông Giacóp. Người đi dường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng “ ( Yn 4:5-6 ).
Ngài ngồi đó để chờ đợi . . . Ngài không ngần ngại cho chị biết về sự cứu rỗi và ban cho chị NƯỚC HẰNG SỐNG, tức Chính Mình Ngài. Đó là tóm tắt câu chuyện ngày Chúa Nhật hôm nay để chúng ta cùng suy nghĩ và cầu nguyện.
Trên đường rao giảng Tin Mừng, Chúa Yêsu cảm thấy mỏi mệt và khát nước. Ngài dừng chân bên một giếng nước và xin người ta một ngụm nươc mát trong. Người phụ nữ Samaria đã không hiểu được thái độ của Ngài. Nhưng Ngài bèn lợi dụng cơ hội để nói về một thứ Nước Hằng Sống. Câu chuyện này có thể được viết ra cho những ai mà lòng nặng chĩu mặc cảm về tôn giáo, cho những ai bị xã hội khinh chê ruồng rẫy, và cho những ai chỉ lãnh hội được thất bại trên trường đời. Đối với họ, khi nghe về Chúa, khi đàm thoại với Chúa thì hình như có một bầu trời mới mở ra.
Chính bản thân tôi có lẽ cũng là một giếng nước mát tươi. Nhưng từ bao lâu rồi, giếng nước ấy đã trở nên khô khan. Tôi đã đầu hàng cuộc sống.. Tôi đã xa nhà thờ. Tôi đã quên lãng tất cả kinh sách. Tôi như một cái giếng cạn nước. Nhưng cái giếng nước mà tôi tìm đến --- những cuộc chơi trác táng, những danh vọng, và tiền tài tôi gom góp được . . . --- lại không làm cho tôi đã “khát “. Tôi vẫn cảm thấy tâm hồn trống rỗng. Những giếng nước tôi tới uống chỉ cho tôi những ngụm nước đục ngầu,dơ bẩn, tanh hôi. Tôi không biết tôi sống để làm gì nữa. Tôi khao khát một l y tưởng, một hướng đi cho đời tôi, như người bộ hành mệt lả khát một hớp nước lạnh.
Nếu tôi còn chút tin tưởng vào Chúa thì thế nào tôi cũng tìm ra được giếng Nước Hằng Sống Ngài đã hứa ban cho tôi. Uống được nước đó rồi, tôi sẽ lấy lại được niềm tin vào cuộc sống, vào đời tôi và vào Chúa. Ngài sẽ ban cho tôi nước uống mà không đòi hỏi gì. Ai muốn uống bao nhiêu thì uống. Chúa Yêsu chính là giếng nước tôi khát khao. “ Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời “
( Yn 4:1) .
Mỗi khi nghe lời Chúa, ta có thể tìm được giếng Nước Hồng Ân đó. Ngài chính là Nươc Hằng Sống không bao giờ khô cạn. Ngài luôn ở giữa chúng ta , để chúng ta luôn tìm được Ngài mỗi khi chúng ta “Khát Nước”. Ngài đã từng sánh mình với MUỐI, LỬA, CỬA VÀO, CON TIM, ÁNH SÁNG, BÁNH, RƯỢU, ĐƯỜNG ĐI, và ĐỜI SỐNG.
Dân Samaria đã được Chúa lưu lại hai ngày. Rất nhiều người đã TIN vào Chúa. Họ bảo người phụ nữ:” Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã NGHE và BIẾT rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian “
( Yn 4:42 ).Lm Peter Ngô Đình Thỏa, CSsR