MẤY NỮ LANG TRÙNG DANH VỚI ĐỨC MẸ

Trang Nhà | Toà Báo | Nhà Sách | Radio | Tivi | Tin Tức | Nhà Dòng | Ơn Gọi | Hoc Viện | Hội Bảo Trợ | Hình Ảnh

Bài thứ nhất thuộc loại nghiên cứu Thánh Kinh của L.m. Anthony Trần văn Kiệm

Duc MeMấy năm gần đây, môt cuốn tiểu thuyết giả tưởng do Dan Brown viết đề là Da Vinci Code bán rất chạy, lại được.Hollywood dựng thành truyện phim vào năm 2006. Cốt truyện được bố cục chung quanh một số phụ nữ trong Thánh Kinh có tên là Ma-ri-a, đặc biệt là Ma-ri-a người làng Mác-đa-la thuộc Ga-li-lê tức Bắc bộ Do-thái. Theo Dan Brown, bức hoạ của Leonardo da Vinci diễn lại cảnh Đức Giê-su ăn bữa tiệc sau cùng với môn đồ thì bên hữu Chúa có một nhân vật trẻ xưa nay được mọi người công nhận là Gio-an, nhưng thực ra (?) theo ngụ ý của hoạ sĩ lại là một phư nữ: nàng Ma-ri-a Mác đa-la. Nguyên là gái làng chơi, về sau nàng này đã được Chúa Giê-su cưới làm vợ, sinh con vân vân…Mặc dù chỉ là một truyện hư cấu, nhưng không thiếu độc giả lầm tưởng Da Vinci Code là truyện tả thực. Tuy nhiên Giáo Hội đã không trực tiếp phản bác, mà chỉ tuyên bố rằng: quyền tự do ngôn luận không cấm người viết tiểu thuyết sáng tác theo ý mình,  nhưng độc giả chỉ cần học hỏi Thánh Kinh đến nơi đến chốn sẽ nhận ra rằng Dan Brown đã hoàn toàn xuyên tạc bộ Tân ước khi tự ý đặt tên cho người kĩ nữ vô danh (Lk 7: 37-38) là Maria, và đã đảo loạn cuộc sống (râu ông cắm cằm bà) của mấy nữ lang mang danh tính là Ma-ri-a, một tên rất thông thường trong xã hội Do-thái. Riêng trong bộ Tân Ước đời sống của mấy nhân vật sau đây cần được nghiên cứu kĩ lưỡng, hầu tránh mấy ngộ nhận nhan nhản trong cuốn Da Vinci Code.

1/ Bắt đầu là bà Maria người làng Bê-tha-ni.
      Tân Ước nói tới hai địa danh cùng mang tên là Bê-tha-ni. Bê-tha-ni thứ nhất là một xóm nhỏ ở tả ngạn sông Gio-đan, không xa vị trí dòng sông đổ vào Biển Chết. Tại đây Chúa Giê-su yêu cầu Gio-an làm phép rửa cho Người (Jn 1:28). Năm ấy là năm nào? Theo những tài liệu Lu-ca cho biết (Lk 3: 1-3)     các học giả tính được năm Đức Giê-su xuống núi giảng đạo là năm 27 hoặc 28.
      Thoạt tiên Gio-an khiêm cung từ khước, nhưng sau đó đã vâng nghe sau khi Đức Giê-su xác định rằng Đức Chúa Cha muốn như vậy. Trong lúc Đức Giê-su chịu phép rửa, như một nhân vật gánh trên vai khối tội lỗi của loài người, thì theo bản Tin mừng thứ ba (Lk 3:21-22) Ngôi nhất hiển linh bằng câu tuyên bố Đức Giê-su là Con yêu của mình. Đồng thời Ngôi Ba Thiên Chúa cũng lấy hình chim bồ câu ngự xuống trên Ngài.. Đây là lần thứ nhất, Tân Ước mạc khải cho nhân loại thấy Thiên Chúa lá một, như đạo Do-thái dạy về Gia-vê, nhưng có ba ngôi. Như vậy Bê-tha-ni trên sông Gio-đan tuy chỉ là một xóm nhỏ, nhưng rất đáng chú ý. Ngày nay khách hành hương kéo tới đây rất đông, đặc biệt là nhóm Tin Lành Báp-tít, để cầu nguỵện, có người xuống sông gìm mình vào nước mà chịu phép Thánh tẩy lần đầu. Người khác kín nước sông đem về làm kỉ niệm.
     Bê-tha-ni thứ hai là một làng không xa Giê-ru-sa-lem nằm trên một ngọn đồi thấp, về hướng Đông Đền Thờ và cách xa Đền Thờ không quá 2 dậm, quãng đường tín đồ Do-thái giáo được phép di chuyển trong ngày Sa-bát. Vì hội đủ mấy điều kiện thuận lợi như vậy, cho nên Đức Giê-su thường nghỉ ngơi tại đây mỗi khi Người lên Giê-ru-sa-lem vào những dịp đại lễ Do-thái, như Thánh Mạc, Ngũ tuần và nhất là Vượt qua.
    Gia đình đóng vai chủ nhân đón tiếp Đức Giê-su về Bê-tha-ni gồm ba nhân vật: La-da-rô và hai người chị (hay là em gái?) là Ma-ri-a và Mác-tha. Phong tục Do Thái vào thời kì Đức Giê-su, - cũng như phong tục Việt Nam ngày xưa - coi rẻ phư nữ (thập nữ viết vô) cho nên người đàn ông La-da-rô nhất định phải là gia trưởng trong nhà. Hơn nữa Đức Giê-su gọi La-da-rô là ”bằng hữu của chúng ta” (Jn 11:11), mà vì không nói rõ cho nên theo lẽ thường La-da-rô không phải là một bằng hữu vong niên, mà biết đâu chàng còn có một địa vị đáng nể giữa xã hội thủ đô Giê-ru-sa-lem (Jn 11: 19; Jn 12:10), vì các thủ lãnh Do thái (mà Gio-an quen gọi là “mấy ông Do-thái”) đã cất bước đến tư gia để phúng điếu và chia buồn với hai người chị (?) khi được tin La-da-rô chết.. Tuy nhiên các bản phiên dịch Tân Ước ra Việt ngữ thường tôn hai người đàn bà trong nhà là chị của La-da-rô thì cứ tạm chấp nhận như vậy cũng được đi.. Nhưng tiếp liền lại còn câu hỏi: Giữa Ma-ri-a và Mác-tha ai là chị, ai là em gái?  
    Thoạt mới xem qua, người ta có cảm giác: Mác tha là chị. Nàng đảm đang mọi việc nội trợ (Lk 10: 39-41; Jn 12:2). Ở Jn 11: 5, và nhất là ở Jn 11:17 khi Gio-an thuật lại phái đoàn Giê-ru-sa-lem tới Bê-tha-ni chia buồn với hai người chị, thì tên Mác-tha được đứng trước tên Ma-ria.
    Nhưng đọc Gio-an và Lu-ca kĩ hơn thì độc giả lại nhìn nhận Ma-ri-a phải là chị. Thực thế, khi vừa nói tới gia đình thân hữu ở Bê-tha-ni, thì ngay ở đầu chương 11 Gio-an đã đặt tên Ma-ri-a đi trước tên Mác-tha. Sau đó ở cuối chương 11, (các câu 29- 31) Gio-an lại đề cao Ma-ri-a :ông kể lại rằng khi vừa được tin Thầy tới gần, Mác-tha lật đật ra đón từ xa và để Ma-ri-a ở lại nhà tiếp khách. Gặp mặt Chúa Giê-su rồi, Mác tha lại chạy vội về nhà rỉ tai báo tin cho Ma-ri-a để bà này cũng ra đón Thầy. Tại sao quý khách từ thủ đô đã không đi theo Mác-tha mà chỉ đứng lên đi theo khi Ma-ri-a khi nàng này chỗi dậy?  
    Đọc Lu-ca (10: 39-41) người ta lại càng thấy rõ ràng Ma-ri-a là chị. Vốn có bản tính hiếu động, “Mác-tha cung thỉnh Đức Giê-su lại nhà. Nàng có người chị (?) là Ma-ri-a. và nàng này đã ngồi dưới chân Đức Giê-su mà nghe Người thuyết giảng.. Lúc đó Mác-tha phục thị quá xốn xang, bèn tìm đến Người mà thưa rằng : “Tôn chủ ơi, ngài không quan tâm hay sao mà cứ để cho con một mình phục thị? Xin ngài bảo chị con (?) đỡ con một tay…”  Tỉ như Mác-tha là chị thì nàng đã chẳng phải Xin Đức Giê-su can thiệp, nhưng đã  mạnh dạn ra lệnh cho Ma-ri-a  xin phép Thầy rồi đứng lên mà góp sức với chị.
     Khảo sát về mức hiểu biết, độc giả lại dễ thấy Ma-ri-a đáng vai chị, vì nàng có một sự tin tưởng rất mãnh liệt rằng đã tới lúc Đức Giê-su sắp bỏ mình, thể xác Người sẽ bị chôn vào mồ rồi Người sẽ sống lại. Cả ba cuốn Tin mừng của Mát-thêu (Mt 26: 6-16), Mác-cô (Mk 14:3-9); và Gio-an (Jn  12:1-8) đều thuật lại rất long trọng buổi nàng trình diễn chuyện tương lai bằng cách đóng một màn kịch theo gương các tiên tri thuộc Cựu ước như Ahijah (Các vua quyển thượng 11: 29-32, 12:19), Dê-rê-mia (Jer 13: 1-11; 28: 1-17); Ê-di-kiên (Ez 24;15-24). Người ta thấy nàng xoã tóc như một phụ nữ đưa đám tang người thân theo lối Do-thái. Nàng tiến lại gần nơi Đức Giê-su đương nằm nghiêng  trên trường kỉ., theo tư thế khách ăn tiệc thời bấy giờ. Tới nơi, nàng đập vỡ một bình đựng loại dầu thơm rất quý (đánh giá bằng lương công nhân làm việc suốt năm) lên đầu Đức Giê-su. Gio-an còn thêm chi tiết : “nàng lại thoa dầu vào chân Thầy, và lấy tóc mà lau.” Tác động y hệt nhà hiếu xức thuốc thơm cho người thân thương đã mệnh một. Đức Giê-su hiểu ngay ý tứ nàng, cho nên ngài mới giải thích: Ma-ri-a đương làm một nghĩa cử (là chôn kẻ chết – Xem truyện ông Tô-biệt), rồi sau đó Người đã cực lực tán dương lòng tin của Ma-ri-a: “Sau này tin mừng giảng tới đâu thì nơi đó người ta sẽ nhắc lại việc nàng làm hôm nay mà tưởng niệm nàng.” (Mk 14:9).
    Tới đây có một câu vắn đáng chú ý trích dẫn từ Mác-cô: “Nàng đã làm một việc sức mình làn nổi”, Phải chăng Mác-cô muốn nói: Ma-ri-a đã vận động với các nhà cầm quyền để cứu mạng Thầy mình?  và thấy thất bại, nàng đã dồn hết tiền mua thuốc thơm xức xác Đức Giê-su?
   Dù sao cả nhà Bê-tha-ni không có ai theo phái đoàn các bà mang thuốc thơm ra mồ “sáng ngày thứ nhất trong tuần” để xức xác Đức Giê-su vì ba chị em vững lòng tin Người đã sống lại. Chính Đức Mẹ Ma-ri-a mẫu thân Đức Giê-su cũng không có mặt trong phái đoàn. Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô giải thích: “Đức Giê-su sống lại trước hết đi viếng Đức Mẹ” Câu này giáo dân Việt Nam vẫn thường đọc trong “Kinh Cầu Chịu Nạn” được viết vào đầu thế kỉ 18.
2- Bà Ma-ri-a người làng Mác-đa-la

      MariaMadalenaMác-đa-la là một đô thị kì cựu trong đất Ga-li-lê (tức là Bắc bộ Do-thái), nằm ở bờ phía Tây biển hồ Giê-nê-da-rét nhằm vị trí rộng nhất của bề ngang hồ. Ngay từ trước đời A-léc-xăng đại đế, đô thị đã có tên trong sử sách, và khi biển hồ còn mang tên cũ là Chinnereth thì tên cũ của Mác-đa-la lá Taricheae. Tới thế kỉ thứ nhất không xa Mác-đa-la về phía Bắc cũng nằm ven bờ hồ có hai đô thị mọc lên là Giê-nê-da-rét và xa hơn là Ca-pha-na-um, và lúc này biển hồ mang tên là hồ Ga-li-lê.
      Tác giả ba cuốn Tin mừng là Mát-thêu (Mt 27:55-56; 28:1-9), Mác-cô (Mk 15:40 – 41; 16; 1-8), Gio-an (Jn 19:25; 20:1-18) chỉ ghi tên bà Ma-ri-a người làng Mác-đa-la vào những ngày sau cùng trong đời Đức Giê-su, đặc biệt là khi Chúa hấp hối trên thập giá và khi phái đoàn các bà ra thăm mồ vào “sáng tinh sương ngày thứ nhất trong tuần”.  Duy có Lu-ca là sử gia kể lại rất sớm với nhiều chi tiết về người phụ nữ này. Khi tường thuật cuộc Đức Giê-su tắt thở ở chương 23, Luca có nhắc tới  nhóm phụ nữ theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê cho tới giây phút Người được chôn cất vào mồ, nhưng mãi tới chương 24:10, ông mới ghi rõ trong số có bà Ma-ri-a Mác-đa-la. Nhưng trước đó, nghĩa là ngay từ chương 8, trong hai câu 2-3 ông đã đề rất cao địa vị Ma-ri-a Mác-đa-la: “Theo bên Người…có một số phụ nữ là những kẻ đã được Người chữa khỏi ác quỷ và bệnh tật: Ma-ri-a biệt danh là người Mác-đa-la đã được chữa khỏi bảy ác quỷ, Gio-an-na phu nhân ông Chu-sa làm chức quản gia cho vua Hê-rót, Su-dan-na, và nhiều mệnh phụ khác: mấy bà này lấy tài sản mình mà viện trợ Đức Giê-su và đoàn tông đồ”.
    Trước hết chúng ta thử bàn luận về “bảy ác quỷ” từng quấy nhiễu Ma-ri-a Mác-đa-la.
    Theo ngôn ngữ Do-thái “ác quy” nhiều khi đồng nghĩa với tật bệnh. Ngay ở câu 2 nói trên Lu-ca viết liền tay “ác quỷ và bệnh tật”. Như vậy phải hiểu là bà Ma-ri-a Mác-đa-la bị nhiều chứng bệnh hành hạ lâu năm mà d0ã được Đức Giê-su chữa khỏi. Một số người hiểu lầm là bà đã bị ma quỉ khống chế nhiều năm, đã sống một đời truỵ lạc. Rồi đi xa thêm một bước, họ cho rằng bà chính là người kĩ nữ vô danh được Lu-ca nhắc tới (Lk 7:36-50). Thế là trải qua nhiều thế kỉ các nhà danh hoạ thường vẽ bà Ma-ri-a ở tư thế sám hối!
     Nhân vì đoạn vân dài Lu-ca viết về cô gái thanh lâu, có tả nhiều hành động cô này rất giống với các cử chỉ của Ma-ri-a người Bê-tha-ni, nhưng một đàng là ăn năn sám hối, một đàng là xức thuốc thơm để tôn vinh Đức Giê-su sẽ vì thương nhân loại mà sẵn sàng bỏ mạng.
     Tác giả Dan Brown không ngại phản bội lịch sử mà đã đúc cả ba người phụ nữ thành một nhân vật!
Độc giả biết phân biệt sẽ mỉm cười mà tha thứ cho con người ngu xuẩn, và cuốn sách y viết sẽ không làm hại ai nữa. Trái lại nhờ sách viết bậy, mà gần đây đã nổi dậy một phong trào học hỏi Thánh Kinh.
    Tới đây, xin trở lại Ma-ri-a Mác-đa-la. Nàng phải là một mệnh phụ có nhiều tài sản và không ngại đem tiền riêng ra giúp Đức Giê-su. Hồi đó, các đạo sư Do-thái (có tên là Rabbi) phải khổ công học tiếng La-tinh, Hi-lạp, và cổ ngữ Hi-bá lai., không kể tiếng A-ra-ma-ích (phát xuất từ tiếng Hi-bá-lai) là tiếng quốc âm Do thài thời bấy giờ. Sau-lô sau này là Tông đồ Phao-lô đã nắm vững cả các ngôn ngữ nói trên, thì chúng ta cũng có thể tưởng tượng được Ni-cô-đêm (nhà giáo đã có lần cùng Đức Giê-su hội ngộ), Ga-ma-liên sư phó của Sau-lô, và chính Đức Giê-su được mọi giới cảm phục, đã có một nền học thức vững chãi như thế nào. Các vị kể trên có đông môn đồ thụ giáo, mà không được thu học phí. Do đó các vị cần người hàng tâm hàng sản nâng đỡ bằng lí tài.
      Riêng Đức Giê-su từ khi ra giảng đạo bao giờ thầy trò cũng có nhau. Các đạo sư bình thường không làm như vậy. Họ gặp trò ban sáng ở trường, sau đó nghỉ trưa khá lâu, tới chiếu mát lại mở lớp cho tới hoàng hôn thì đóng cửa. Thánh Phao-lô có lần đã sử dụng trường sở một rabbi vào buổi trưa để dạy giáo lí. Vì đi đâu thì Chúa và các tông dờ cũng kéo nhau cả hơn chục người, ấy là chưa kể có lúc một số người xin nhập bọn. Cho nên Thày trò khi bôn ba trên đường trường, không cần nhập đoàn với thương khách tức là caravan. Điều này dễ chứng minh vì nhiều khi đi từ Ga-li-lê xuôi Nam để lên Giê-ru-sa-lem, Chúa đã không vượt sông Gio-Đan quẹo sang Đông để rồi ngang tầm Giê-ru-sa-lem lại quặt sang tây vượt sông Gio-đan lần nữa mà lên đô thành. Như lần Chúa Nghỉ nhọc ở bờ giếng Gia-cóp (Jn 4: 1-42) Người đã băng qua Sa-ma-ri mà không sợ người địa phương làm hại, mặc dù dân Sa-ma-ri vẫn có ác cảm với dân Ga-li-lê và dân Giu-dê.
      Suốt ba năm giảng đạo thỉnh thoảng Thày trò được nghỉ ngơi ở nhà Phê-rô trong thị xã Ca-pha na-um, hoặc ở nhà Bê-tha-ni gần Giê-ru-sa-lem, nhưng thực ra Đức Giê-su đã phải sống cảnh màn trời chiếu đát, còn thus con cáo con chồn còn có hang, con chim còn có tổ. Khi xuất hành người Do-thái hồi ấy hay đeo sau lưng một cái gùi, dựng thức ăn nước uống  thuộc loại tinh khiết (kosher), lại thêm ít rơm để lót làm đệm khi ngủ đêm. Nhưng Thầy trò đã sinh sống làm sao khi lang thang ở Phê-ni-xi chung quanh hai đô thị Ty-rô và Si-đon suốt năm sáu tháng?
       Góp tài liệu cả bốn cuốn Phúc âm lại mgười ta có thể luận rằng, vào năm truyền giáo thứ hai, Đức Giê-su muốn xa dân chúng để có cơ hội  huấn luyện môn đồ, thì giữa hai lần nuôi dân chúng cả ngàn người ở những vị trí nằm bên đông Biển hồ Ga-li-lê Người đã đem môn dồ xuất ngoại. Cuộc xuất ngoại lâu đến nửa năm, bời vì lần thứ nhất dân chúng ngồi trên cỏ xanh tức là vào tiết xuân (Mk 6:34-44). Lần thứ hai xa Biển hồ hơn về phía Đông, thì rõ ràng trời đã sang thu đông vì sau đó Thày trò dự bị đi Giu-đê để bước sang cuộc truyền giáo năm thứ ba.
       Tới đây chúng ta dễ hiểu ý nghĩa mấy dòng vắn tắt của Mát-thêu (27:55) của Mác cô (15:40-41). nhất là của Lu-ca (Lk 8: 1-3). Thày trò đi tới đâu cũng có mấy bà từ thiện đi theo sau để sẵn sàng phục thị, mà đầu đoàn phụ nữ là Ma-ri-a Mác-đa-la! Thử hỏi: bộ áo dài Đức Giê-su để lại cho bốn tên lính La-mã bắt thăm có phải là tặng vật của Ma-ri-a Mác-đa-la hay chăng? Áo người Do-thái hồi đó mặc sát vào mình được may như một cái ống dài vừa tầm bề cao của một người có vóc trung bình, đầu trên khoét một lỗ để chui đầu, hai bên hông khoét hai lỗ để xỏ tay. Duy có những bộ cầu kì (như bộ cánh Gia-cóp may cho con yêu là Giu-se – Xem Sáng thế 37: 3-4 -  mới may thêm hai cánh tay. Riêng bộ áo Đức Giê-su mặc từ khi ăn bữa Vượt qua cho tới lúc Người bị lột trần để chịu đóng đinh lại là một chiếc áo không những có hai cánh tay, mà hai cánh tay lại dệt liền với thân áo! Căn cứ vào bộ áo quý như vậy , độc giả khá đoán được thấy Thầy trỏ không những ăn no mặc ấm mà còn được ăn ngon mặc đẹp (Mk 2: 18). Ôi! Làm sao tả cho xiết lòng thương mến của phái đoàn phụ nữ từ thiện này đã phục vụ Đức Giê-su! Đoàn này do Ma-ri-a Mác-đa-la cầm đầu, dưới trường cò cả những bậc mệnh phụ xuất sắc như bà Gio-an-na phu nhân ông Chu-da bộ trưởng tài chính của nhà vua Hê-rót.
       Một trang nữ lang như thế mà anh chàng Dan Brown đem đồng hoá với cô gái thanh lâu rồi cho làm người phối ngẫu của Đức Giê-su, một nhân vật theo lịch sử đã không có anh em nào cùng cha cùng mẹ, khiền cho Người trước khi tắt thở đã phải nhờ biểu huynh là Gio-an phụng dưỡng Đức Mẹ Ma-ri-a về già thay cho mình. Anh Brown hỡi, anh thử dựng một câu truyện hư cấu tương tự mà cho giáo chủ Mo-ha-mét cưới một phụ nữ xóm Khâm thiên coi!
       Để chấm dứt bài tiểu luận về Ma-ri-a Mác-đa-la, người ta nên chú ý tới điểm này: Khi Đức Giê-su nằm trên thập già, chung quanh có một mình ông Gio-an là môn đố cũng là con bà Sa-lô-mệ người chị của Đức Mẹ. Ngoài ra lại có bốn người phụ nữ trung thành Người thứ nhất là Đức Ma-ri-a mẫu thân Chúa - cố nhiên phải có bà ở đó để Chúa trao cho người đàn bà là E-và thứ hai này nhiệm vụ xây dựng lại Giáo hội đã đổ nát. Bà kế tiếp là Sa-lo-mê phu nhân ông Dê-bê-đê, và là mẫu thân của Gia-cô-bê đệ nhất và Gio-an. Bà thứ ba cũng mang tên Ma-ri-a như Đức Mẹ, lại là em gái Đức Mẹ, đã lấy ông Cleopas, hoặc Cleophas hoặc Clopas (tiếng Hi-lạp) hoặc An-phê (tiếng La mã) làm chồng và sinh ra  nhóm bốn thanh niên người Na-da-rét được Mác-cô ghi ở Mk 6: 3. Ba bà trên là họ hàng thân thích.     
 Riêng có Ma-ri-a Mác –đa-la người phụ nữ thứ tư thì không phải là họ hàng máu mủ; nhưng bà đã can đảm theo Thầy tới tận pháp trường chỉ vì bà muốn sống cho đúng với đạo nghĩa mà thôi.
 Nói rằng đối với Thầy, bà chỉ muốn giữ cho tròn chữ nghĩa mà thôi, bởi vì không kể Đức Mẫu thân, toàn số các môn đồ cả nam cả nữ đều đã mất hẳn lòng tin vào Đức Giê-su (Lk 24: 20-21): Mặc dù đã được báo cho biết trước Người sẽ sống lại; nhưng ai cũng bảo mình rằng: Thôi Thầy đã chết, thế là hết!. Bằng chứng là sáng sớm hôm chủ nhật Ma-ri-a Mác đa-la đã lãnh đạo một phái đoàn mang dầu thơm đến mồ để xức xác Thầy cho tươm tất hơn, bởi vì cuộc khâm liệm chiều ngày thứ sáu chưa đủ hoàn chỉnh. Đến nơi cả đoàn bị thiên sứ quở trách vì họ “đi tìm người sống trong đám kẻ chết”
Thế mà Đức Giê-su không chấp đám người yếu lòng tin. Người đã sai Ma-ri-a Mác-đa-la đi giảng về sự phục hoạt cho chính thủ lãnh Giáo hội lúc ấy là Phê-rô cũng đã mất đức tin. Đọc câu chuyện Chúa Giê-su phục hoạt trong những hoàn cảnh như vậy, ai mà còn hồ nghi sự kiện Đức Giê-su đã phục hoạt ? hoặc còn hồ nghi các tíin đồ trung kiên của Chúa Giê-su cũng sẽ có ngày phục hoạt theo Thầy?

L.m. Anthony Trần văn Kiệm


Trang Nhà | Toà Báo | Nhà Sách | Radio | Tivi | Tin Tức | Nhà Dòng | Ơn Gọi | Hoc Viện | Hội Bảo Trợ | Hình Ảnh