Món Nợ Từ Trên
15. Tập Viện
Trước khi chịu đau khổ, Chúa Giêsu đã biến hình trên một ngọn núi cao.
“Núi” là hình ảnh thánh thiêng nơi Thiên Chúa tỏ mình con người.
Trong Cựu ước, chính trên ngọn núi Horeb mà Thiên Chúa đã gặp gỡ và kêu gọi Môisen (Xh 3:1-20). Trên núi Sinai, Thiên Chúa đã ký kết một giao ước mới ban cho dân Người qua mười điều răn (Xh 19:16-20:21). Và hôm nay, trên núi Tabor, Thiên Chúa một lần nữa tỏ cho các tông đồ thấy vẻ đẹp của một vì Thiên Chúa được tàng ẩn trong bản tính nhân loại của Chúa Giêsu. Như vậy, khi nói đến núi ta liên tưởng ngay đến điểm tột đỉnh của sự gặp gỡ và giao tiếp giữa con người với Thiên Chúa. Biến cố này đã xảy ra trước khi Chúa Giêsu cùng các tông đồ tiến về Giêrusalem.
Tôi yêu thích hình ảnh của núi cao, và thường ví nó với năm Tập Viện mà tất cả các tu sĩ đều có dịp được trải qua. Tập Viện chính là lời mời gọi thân thương của Chúa Giêsu tiến lên núi cao để nơi ấy ta được gặp gỡ và chiêm ngắm dung nhan của Thiên Chúa. Qua năm Tập Viện, tôi nhận ra ít nhất có ba điểm mà tôi thấy phảng phất trong trình thuật Chúa biến hình trên núi Tabor.
Thứ nhất là sự thinh lặng. Núi và sa mạc bao giờ cũng yên lặng hơn mọi nơi khác. “Lên núi” có nghĩa là đoạn tuyệt với những tiếng ồn trần gian, những âm vang của con người. Trên núi Tabor Chúa Giêsu đã tách biệt các tông đồ ra khỏi dân chúng và chỉ còn lại Thầy với trò thôi. Thường trong các kỳ nghỉ ngơi hay cắm trại, người ta cũng thích chọn ở trên một ngọn núi để được nghỉ ngơi trong thinh lặng và chiêm ngắm những vẻ đẹp thiên nhiên. Thế nên, chẳng lạ chi khi các cặp tình nhân thường lui tới những ngọn núi vắng vẻ để nơi đó chỉ có họ với nhau. Bước vào năm Tập Viện cũng là bước vào cõi thinh lặng. Nơi ấy chỉ có họ với Thiên Chúa.
Năm Nhà Tập của tôi cách đây đã sáu năm. Nhưng tôi vẫn còn nhớ như in những giây phút thinh lặng thiêng liêng ấy. Cả năm Tập Viện là một cuộc tĩnh tâm liên lỉ trong thinh lặng. Hầu như cả ngày chúng tôi chẳng nói chuyện với nhau, ngoại trừ những giờ chơi chung và khi cần thiết. Một người bạn sau khi nghe tôi chia sẻ về năm Tập Viện đã nói: “Nếu yên lặng như vậy, chắc mình chịu không nổi đâu. Thà chết còn hơn!” Vâng, đúng! Sống trong cõi lặng không phải dễ, vì như tôi đã nói trong phần trước, sự thinh lặng thường bắt ta phải đối diện với chính mình. Đó chính là mục đích của năm Tập Viện. Ba trăm sáu mươi lăm ngày kia giúp tôi được biết chính con người tôi. Những câu hỏi như: Tôi là ai? Tại sao tôi được sống và hiện hữu trên mặt đất này? Và biết bao khắc khoải khác luôn được vọng lên trong suốt năm đặc biệt có một không hai ấy. Chúng đã dẫn tôi đến gặp gỡ Thiên Chúa, và đây chính là điểm thứ hai mà tôi muốn nói đến trong sự liên hệ giữ hai hình ảnh núi và Tập Viện.
Trên núi Tabor, các tông đồ đã không thấy ai khác ngoài dung nhan đẹp đẽ của Thiên Chúa. Đẹp quá, hạnh phúc quá, nên Phêrô mới kêu lên: “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì thật là tốt! Nếu Thầy muốn, con sẽ dựng ba lều, một cho Ngài, một cho Môisen, và một cho Êlia” (Mt 17:4). Sự thinh lặng kia cũng chỉ là một trong nhiều phương thế hầu giúp tôi gặp gỡ và đối diện với Thiên Chúa. Biết Chúa, biết ta, chính là chìa khóa cho đời sống linh đạo của mỗi người Kitô hữu, cách riêng là tu sĩ. Thế nên thánh Augustinô mới luôn kêu gào lên cùng Chúa: “Domine, noverim Te, noverim me!” (Lạy Chúa, xin cho con biết Chúa. Xin cho con biết con”. Năm Tập Viện giúp cho người tu sĩ biết đặt căn bản và nền tảng trên Đức Giêsu Kitô. Như biến cố biến hình trên núi kia đã để lại cho các tông đồ niềm xác tín vững mạnh trong Đức Kitô trước khi tiến về Giêrusalem, thì năm Tập Viện cũng giúp cho các tu sĩ thiết lập một nền móng linh đạo vững chắc để họ tiến về tương lai, sống đời tận hiến. Chính vì thế, Tập Viện chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong đời tận hiến. Đời sống và mục vụ tương lai của một tu sĩ hệ tại ở việc xây dựng nền móng vững chắc khi còn đang ở Tập Viện.
Điểm thứ ba là hành trình “xuống núi”. Có lẽ đối với các tông đồ đây là hạnh phúc và niềm vui cuối cùng. Sẽ không còn chuyện gì xảy ray nữa. Nói cách khác, các ngài không muốn nghe về thập giá và đau khổ nữa. Qua lời đề nghị của Phêrô, các ngài chỉ muốn dừng lại và cắm trại trên núi hạnh phúc này. Nhưng không, Chúa Giêsu ngay sau đó đã mời gọi các Tông Đồ cùng mình “xuống núi”. Cũng vậy, đối với nhiều người, cách riêng chính tôi đây, năm Tập Viện là năm được Chúa và Giáo Hội ưu đãi nhất. Như các Tông Đồ, nhiều khi ta cũng chỉ muốn dừng lại tại đây mãi mãi để được hạnh phúc và an vui. Tôi không muốn nói về thập giá, đề cập đến khổ đau. Đối với tôi năm Tập Viện trôi qua quá mau. Đôi khi tôi muốn kéo níu thời gian, vặn đồng hồ lại để ngày đừng qua mau. Nhưng Chúa muốn tôi cùng ngài “xuống núi”. Tôi không thể lãnh nhận và an hưởng ân lộc Chúa cho riêng tôi, nhưng phải rộng lượng và can đảm ra đi để chia sẻ và loan báo. Tôi đã được kêu gọi từ lòng người để trở về với lòng người. Có đi thì phải có về, có lên thi phải có xuống, có nắng thì phải có mưa. Đời người sẽ mất đi niềm vui nếu chỉ có nắng hay chỉ có mưa. Cuộc phiêu lưu sẽ sớm tẻ nhạt nếu chỉ có lên đồi hay xuống núi. Cũng vậy, đời tận hiến sẽ mất nhiều ý nghĩa nếu đường đời không gập ghềnh khúc khuỷu.
Vì thế, Tập Viện phải được coi là điểm tột đỉnh và là bàn đạp cho cả hành trình tu sĩ mai sau. Nhiều người còn gọi năm này là năm thử thách, năm “sung rụng”. Cũng đúng nhưng cũng sai, tùy theo cách nhìn và quan niệm mỗi người. Điều tôi xác tín là: như biến cố biến hình trên núi đã tăng thêm nghị lực và hy vọng cho các Tông Đồ trên đường tiến về Giêrusalem thì năm Tập Viện giúp cho chính tôi có căn bản và thêm tinh thần để an tâm vững bước trên đường tương lai.(còn tiếp)
Linh Mục Đa Minh Nguyễn Phi Long, CSsR