Món Nợ Từ Trên
21. Tình Yêu
Tình yêu là gì mà sao con người đã phải sống chết vì nó?
Biết bao nhiêu sách vở, bao nhiêu ngôn từ, bao nhiêu nhà giảng thuyết lừng danh, bao nhiêu cảm xúc đầy tràn, nhưng người ta vẫn chưa tìm được một định nghĩa thỏa đáng về tình yêu. Thiết nghĩ, ta phải dựa vào cội nguồn là Thánh Kinh để đưa ra cái nhìn về tình yêu: Tình yêu là hình ảnh của Thiên Chúa được in sâu trong tim người.
Vì thế, tự bản chất, con người có khả yêu và được yêu.
Ta gọi đó là “bản chất”, một danh từ hơi có vẻ triết lý và trừu tượng, vì nó nói lên gốc rễ ta được dựng nên bằng gì. Nó ăn sâu vào trong con người và cốt tủy của ta. Giống như trái tim, không có tình yêu, con người dường như không có hơi thở. Vắng bóng tình yêu là mất đi một nguyên lý căn bản về sự sống con người. Tìm cách dập tắt tình yêu là vùi đi hình ảnh sống động của Thiên Chúa trong ta. Những người không có tình yêu là những con người đi ngược lại với nguyên lý sự sống. Họ không trân quý sự sống, cũng chẳng thấy ý nghĩa trong cuộc đời. Vì vậy, ta chẳng lạ chi khi có những người không muốn sống và còn đe dọa sự sống của tha nhân.
Tình yêu là ngưỡng cửa của sự sống mới. Nhờ tình yêu mà sự sống con người được tồn tại. Vì tình yêu mà bao người đã hy sinh đổ máu để chết cho người mình yêu. Có tình yêu, ta có sự sống. Tình yêu chính là món quà Thượng Đế trao ban.
Các linh mục tu sĩ nam nữ là con người, và vì thế, họ cũng có một con tim để yêu và được yêu. Họ không phải là những con người bất bình thường hay “bị bồ đá” để rồi kết thúc bằng một đời sống xem ra có vẻ ẩn dật hẩm hiu. Đúng hơn, họ là những người tràn đầy hy vọng và sức sống trong mình, và có khả năng cho con người khác. Có một linh mục trẻ tuổi đã chia sẻ với tôi rằng chỉ còn vỏn vẹn một hai tuần nữa là tới ngày cưới, nhưng ngài đã can đảm quyết tâm dấn thân cho Chúa. Ngài nói rằng đã bao lần ngài giả điếc làm ngơ với tiếng gọi luôn âm vang đeo đuổi trong cõi lòng mình, cho đến giây phút cuối. Chỉ trước ngày cưới ít ngày, khi không còn chịu nổi với tiếng gọi thầm kín âm ỉ bên trong, ngài đã phải nói thật với lòng mình và với người “vợ hụt” tương lai. Một quyết định đem niềm đau cho cả hai, nhưng với thời gian và với niềm cảm thông của người bạn gái, người đã đi trọn con đường.
Con tim biết rung động kia sẽ tiếp tục hoạt động trong ta bao lâu ta còn là con người. Bất kể một ai, dù là Giám mục hay Linh mục, dù là tu sĩ hay giáo dân, tất cả đều có một trái tim yêu thương.
Sách “Priests in the Third Millenium” do Đức Ông Timothy M. Dolan, Giám Đốc Đại Chủng Viện North American College, có thuật lại câu truyện như sau:
Một hôm Đức Hồng Y Carberry, Tổng Giám Mục Địa Phận St. Louis, đến Đại Chủng Viện và nói chuyện với các chủng sinh về đời sống linh mục. Sau khi trình bày mọi vấn đề, người mời các chủng sinh đặt câu hỏi. Có một chủng sinh lên tiếng hỏi rằng: “Thưa Đức Hồng Y, khi nào thì con người linh mục mới hết có những tư tưởng xấu và cám dỗ về đức trong sạch?” Cả nhóm cười ầm lên bởi câu hỏi xem ra có vẻ táo bạo đối với một Hồng Y. Nhưng Đức Hồng Y đã không lỡ bỏ cơ hội, ngài nói: “O, chắc phải 5 phút sau khi người ta tuyên bố vị linh mục ấy đã chết”. Câu trả lời làm mọi người ngạc nhiên. Người đã hiểu vấn đề.
Thánh Anphongsô Maria de Liguori, Vị Sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, còn đi xa hơn nói rằng phải sau khi con người tu sĩ linh mục ấy đã chết được 3 ngày!
Hơn ai hết, các thánh đã biết rất rõ về bản chất của con người tu sĩ, linh mục. Bao lâu còn thở, bấy lâu con tim vẫn còn đập. Trên hành trình dâng hiến trọn vẹn trái tim mình cho Thiên Chúa và tha nhân, người tu sĩ linh mục sẽ phải đương đầu với bao nhiêu cạm bẫy và sa ngã. Chỉ có thể khuất phục được nó bằng lời cầu nguyện và sự từ bỏ chính mình.
Khi còn là sinh viên, một số người trẻ, nam cũng như nữ, cũng thường hỏi tôi rằng: “Thầy có biết yêu không? Thầy có cảm thấy mình bị rung động khi đứng trước một thiếu nữ xinh đẹp không?” Tôi thường bật cười một mình bởi lẽ câu hỏi xem ra có vẻ như tôi là người từ hành tinh khác xuất hiện vậy. Có lẽ đối với một số người, những linh mục, tu sĩ, một khi đã đi tu, họ trở nên những “thiên thần” sống trong thế giới bên kia. Mọi sự trong họ đều được biến đổi. Sự “thần tượng hóa” về con người linh mục, tu sĩ, này đã khiến nhiều người lầm tưởng rằng họ không còn “là” những người bình thường như bao người. Họ không sinh hoạt như người thường. Họ không ăn uống như người thường. Họ không ngủ nghỉ như người thường.
Cách đây không lâu, khi còn là sinh viên Thần Học, tôi và một vài thầy khác có dịp được giúp các em Thiếu Nhi trong một trại sa mạc huấn luyện. Lần nọ, tôi và một thầy khác, sau khi bước ra khỏi nhà vệ sinh, thấy có một em Thiếu nhi đứng ngoài cứ nhìn chúng tôi một cách đăm chiêu. Tôi hỏi em có chuyện gì. Em nói một câu đơn sơ làm tôi mỗi lần nhắc lại phải bật cười: “Chúa ơi, mấy thầy mà cũng đi vệ sinh hả?”
Không, họ vẫn là con người bình thường với mọi sinh hoạt bình thường của một con người. Như bất kỳ ai, tôi cũng có một trái tim và khả năng yêu và được yêu. Tôi cũng cảm thấy mình rung động xao xuyến khi đứng trước một thiếu nữ đẹp là tác phẩm tuyệt vời của Thiên Chúa Tối Cao. Nếu không có cảm xúc tự nhiên ấy, thì tôi đâu phải là một con người, và là con người được dựng nên theo “hình ảnh” của Thiên Chúa! Có những người trong đời tôi cảm thấy dễ mến hơn, yêu thương hơn; và cũng có những người, với bản tính tự nhiên, tôi cảm thấy khó chịu và khó ưa. Trong đời, tôi cũng đã gặp những người mà tôi thật thương thật mến đến độ tự nhủ với lòng mình rằng nếu ở ngoài thì chắc tôi sẽ lập gia đình với những con người có đức tính dễ thương, dễ mến dường ấy. Có điều, đó không phải là hướng đi và ơn gọi của tôi. Như bao linh mục, tu sĩ nam nữ khác, tôi đã tự nguyện hy sinh từ bỏ những cái tự nó là đẹp để dấn thân cho một giá trí và lý tưởng cao đẹp hơn. Khía cạnh làm chứng tá cho Chúa Kitô hệ tại ở việc “tự nguyện” hy sinh này. Không ai bắt ép tôi, và tôi cũng không bị áp lực nào tự bên ngoài. Tất cả chỉ là tự do dâng hiến.(còn tiếp)
Linh Mục Đa Minh Nguyễn Phi Long, CSsR