Món Nợ Từ Trên
26. Linh Mục: Người Của Mọi Người
Trong số 30 của Chỉ Nam Về Sứ Vụ và Đời Sống Linh Mục, tôi đọc được những lời như sau:
“Theo gương Đức Kitô, linh mục phải làm cho Đức Kitô trở nên hữu hình giữa đoàn chiên mà mình được ủy thác để chăm sóc; linh mục phải có một tương quan tích cực và có sức khích lệ với người giáo dân. Nhìn nhận nơi người giáo dân phẩm giá con cái Thiên Chúa, linh mục phát triển vai trò của chính mình trong Giáo Hội; linh mục phục vụ giáo dân qua tất cả sứ vụ mục vụ của mình...”
Câu nói còn kéo dài nhưng như trên cũng đủ cho tôi ý thức và nghiệm ra rằng: linh mục là người của mọi người.
Từ giây phút được Giám Mục đặt tay và mang trên mình ấn tích linh mục đời đời, con người ấy được trở nên gần gũi trong sự liên hệ với Thiên Chúa và loài người hơn. Cũng chính vì lý do ấy mà giáo dân đa số nhìn vào con người linh mục như thể một người “superman” (siêu nhân), biết và hiểu hết mọi sự. Thế nên, họ mong muốn và đòi hỏi nơi vị linh mục ấy rất nhiều. Sự đòi hỏi ấy cũng thật chính đáng vì Chúa Giêsu cũng đã trở nên người của mọi người.
Trong Thánh Kinh ta thấy rằng Chúa Giêsu không chỉ là một người cha, một thầy dạy, nhưng còn là người bạn của kẻ tội lỗi, người ủi an của ai cô đơn. Ngài đã sống và đụng chạm với tất cả mọi người trong từng gia cấp: lãnh đạo có, nô lệ có, thánh thiện có, tội lỗi có, biệt phái có, thu thuế có, người lớn có, trẻ con có, người hiền có, kẻ dữ có, gái lành có, và đĩ điếm cũng chẳng thiếu. Hơn nữa, cái chết của Ngài trên thập giá không chỉ dành cho một số người, mà cho toàn thể nhân loại. Ngài đã trở nên người của mọi người.
Linh mục, được kêu gọi và tuyển chọn bởi Thiên Chúa, cũng bắt chước và trở nên giống Chúa Kitô trong việc hiến thân cho tha nhân. Họ không thuộc về một ai, nhưng họ lại là của tất cả. Họ sống không phải cho một hai người, mà là cho tất cả. Họ không được phân bì ai, nhưng phải yêu thương tất cả. Họ được kêu gọi ra khỏi gia đình xác thịt để đến với gia đình nhân loại. Thế nên, từ nay họ không được phép sống cho riêng mình mà hoàn toàn cho nhân loại. Họ phải trở nên vị lãnh đạo cho đoàn chiên, người cha hiền cho con cái, người bạn đường cho tội nhân. Thánh Augustinô nói: “Đối với anh chị em, tôi là người tín hữu, nhưng cho anh chị em, tôi là vị Giám mục”. Đúng vậy! Vị chủ chăn, dù Giám Mục hay Linh mục, cũng là một trong nhiều chi thể trong cùng một thân thể huyền nhiệm Chúa Kitô. Nhưng họ được kêu gọi và nâng lên hàng tư tế chính là để cho anh chị em đồng loại mình. Điều ấy nói lên chiều kích phục vụ của một thiên chức. Họ trở nên tất cả cho tất cả.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý và lo ngại ở đây là đôi khi vì linh mục mang quá nhiều trọng trách và phải thay đổi liên tục phong cách của mình để hợp với nhu cầu mọi người, vị linh mục ấy cảm thấy mình bị đuối sức, nếu không nói là khủng hoảng cả căn tính. Trong các vở kịch Hy-lạp xưa, diễn viên phải thay đổi liên tục cái “mặt nạ” (mask) của mình hầu phù hợp với những màn kịch khác nhau. Cũng vậy, nhiều khi linh mục cũng phải thay đổi cái mà ta gọi là “persona” để đáp ứng cho nhiều hoàn cảnh và nhu cầu khác nhau. Nếu không cẩn thận, sự thay đổi không ngừng dưới bộ mặt “persona” đó có thể dẫn đưa tới sự khủng hoảng về căn tính chính mình. Cộng thêm với những đòi hỏi và ước mong đôi khi quá đáng của giáo dân, vị linh mục ấy cảm thấy mình bị “overwhelmed” (đè nặng) và “burnout” (thiêu rụi). Tác giả sách “The First Five Years of The Priesthood” (2002), cho biết rằng sau cuộc trắc nghiệm và nghiên cứu việc ra đi của nhiều linh mục ngày nay, họ khám phá được rằng lý do chính yếu của sự căng thẳng khủng hoảng đó chính là “overwork” (quá nhiều việc). Đây cũng chính là nhận xét của đa số các linh mục còn đang hạnh phúc dấn thân trong ơn gọi lý tưởng của mình. Trước Công Đồng Vaticanô II, mỗi linh mục chỉ lo cho 652 giáo dân. Con số ấy ngày nay đã tăng lên gấp đôi, nghĩa là một linh mục trung bình phải coi đến 1300 giáo dân.
Trở lại với điều giáo dân mong muốn nơi vị chủ chăn của mình, tôi xin trích những dòng chữ dưới đây được viết trên tường phòng khách của Đại Chủng Viện Seoul, Hàn Quốc, như sau:
“Mẫu linh mục lý tưởng mà người giáo dân mong muốn là:
Một linh mục biết quan tâm những người yếu đuối và những kẻ bị xã hội bỏ rơi.
Một linh mục không gắn chặt với của cải vật chất.
Một linh mục khiêm nhường.
Một linh mục hòa nhã trong lời nói và trong hành vi cử chỉ.
Một linh mục không độc đoán.
Một linh mục trung thành với bề trên và biết sống tình huynh đệ với anh em linh mục khác của mình.
Một linh mục cử hành phụng vụ với tất cả tấm lòng mình và dọn các bài giảng cách chu đáo.
Một linh mục không thiên vị và không phân biệt đối xử.
Một linh mục quan tâm đến việc đào tạo các linh mục mới.
Một linh mục không kiêu căng, cường quyền.
Một linh mục trung thành với chức linh mục của mình cho đến chết”.Đọc những dòng chữ trên tôi thấy ước mong và khát vọng của giáo dân rất chính đáng. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là những ước vọng, còn thực tế thế nào lại còn tùy thuộc vào cố gắng của mỗi linh mục và yếu đuối của con người không thể trách khỏi.
Một trong những cạm bẫy mà ta thường hay mắc phải đó là đòi hỏi không ngừng và nhiều khi quá đáng đến độ ta quên luôn cả trách nhiệm của mình là cầu nguyện và nâng đỡ các ngài. Như trong lời kinh nguyện, nhiều khi ta chỉ nhìn đời sống cầu nguyện bằng những tiếng van xin liên lỉ mà quên đi khía cạnh tâm sự, cảm tạ và ở lại trong Chúa. Cũng vậy, chỉ đòi hỏi và than trách các vị chủ chăn khi nhu cầu ta chưa được thỏa mãn, thiết tưởng ta chưa chu toàn hết bổn phận của mình. Một trong những cách cụ thể nhất ta làm được đó là cầu nguyện và nâng đỡ các ngài. Có vậy, các ngài mới luôn có sinh lực để tiếp tục làm người của mọi người.(còn tiếp)
Linh Mục Đa Minh Nguyễn Phi Long, CSsR