Thứ Tư, Ngày 4 Tháng 4 - 2007  

Món Nợ Từ Trên

Phần Hai

33. Ơn Gọi Trong Thiên Niên Kỷ Thứ 3

og“Điều kiện sống độc thân đã và đang giết chết ơn gọi”.
“Khủng hoảng ơn gọi sẽ được giải quyết nếu Giáo Hội phong chức linh mục cho phụ nữ”.
Hai nhận định sai lầm trên của hai nhà tư tưởng vào thập niên 1980 khiến tôi luôn suy nghĩ. Tuy lời phê phán có lạc hướng, nhưng ít ra nó cũng cho tôi biết hiện trạng ơn gọi ngày nay.
Từ thập niên 1960 tới nay, ơn gọi linh mục tu sĩ nam nữ đang trên đà đi xuống. Nhiều Chủng Viện đã phải đóng cửa vì không có chủng sinh. Nhiều Dòng tu đã phải giải tán vì không có ơn gọi. Bao nhà thờ đã phải bán đi vì thiếu vắng linh mục. Sự khủng hoảng này có lẽ còn tiếp tục suy giảm khi bước qua đệ tam thiên niên kỷ. Chắc hẳn những gì đang xảy ra tại Giáo Hội Hoa Kỳ về việc một thiểu số linh mục lạm dụng tính dục trẻ em, và những gì báo chí đang thổi phồng, sẽ gây tác hại không ít đến mầm mống ơn gọi trẻ tại Giáo Hội địa phương. Trước cơn khủng hoảng ấy, ơn gọi sẽ đi về đâu? Liệu Giáo Hội tương lai còn người để tiếp nối những công việc của các Tông đồ xưa chăng? Trước khi trả lời cho vấn nạn ấy, chúng ta hãy biện phân những nguyên nhân làm nên sự khủng hoảng thiếu hụt ơn gọi.
Ơn gọi hiện tại trong thiên niên kỷ mới sẽ phải đương đầu với ít là năm thách đố sau:
Thứ nhất là đời sống tâm linh. Sách “The First Five Years of Priesthood” của tác giả Dean R. Hoge đã đưa ra một cái nhìn rất chính xác về hiện trạng khủng hoảng ơn gọi ngày nay. Trong thống kê mà tác giả từng nghiên cứu, cộng với những cuộc phỏng vấn dành cho một số linh mục còn đang hoạt động cũng như những linh mục đã hồi tục, thì kết quả cho biết rằng đa số các linh mục đều cho rằng hạnh phúc đời linh mục đến từ sự liên hệ với giáo dân, với những người mình giúp, thay vì đến từ một đời sống tâm linh kết hiệp chặt chẽ với Chúa Kitô (tr.23). Chỉ có 21% cho rằng đời sống tâm linh mang lại hạnh phúc cho mình, trong khi đó 67% đặt trọng tâm vào sự liên hệ bên ngoài với giáo dân (tr.23). Đọc tới đây tôi không lấy làm ngạc nhiên khi thấy nhiều linh mục tu sĩ đã rơi vào khủng hoảng căn tính, và rồi hồi tục. Họ đã đặt sai mục đích và lý tưởng đời mình. Nói như thế không có nghĩa lên án những vị đã từ giã đời linh mục hay tu sĩ, nhưng đúng hơn để biện phân và nhận rõ đâu là yếu tố cốt lõi khiến lòng người cảm thấy lung lay khi phải đối diện với thực tế.
Bàn luận về lý do này cũng là để nhắc nhở và khuyến cáo chính con người mỏng giòn của tôi. Nếu không để ý, nếu không đặt nặng vào tầm quan trọng của đời sống tâm linh, thì e rằng chính tôi cũng có thể rơi vào tình trạng thảm thương như biết bao người khác. Vì thế, để tóm lại, lý do khiến nhiều ơn gọi trẻ trong các Chủng Viện và Dòng Tu bỏ cuộc ra đi chính là sự thiếu vắng của một đời sống nội tâm cần có. Không có sinh lực đến từ trên, hạt giống ơn gọi sẽ rất khó để sinh sôi nẩy nở giữa một vùng đất của thế hệ khô cằn này.
Lý do thứ hai là sự cô đơn trong đời sống độc thân. Nếu xét thấu đáo thì yếu tố này cũng chỉ phát xuất từ lý do thứ nhất đã kể trên. Không có niềm vui bên trong, chắc chắn ta sẽ cảm thấy một nỗi trống vắng kinh khủng trong lòng người. Giáo Hội đã phải lắng nghe và nhận rất nhiều lời chỉ trích về khía cạnh độc thân này của linh mục. Tiêu biểu là câu nói trên của một tác giả trong thập niên 1980: “Điều kiện sống độc thân đã và đang giết chết ơn gọi”. Cộng thêm với những gì đang xảy ra tại Giáo Hội Hoa Kỳ, việc sống độc thân lại trở nên một đám mây mù làm cho nhiều người phải nghi ngờ. Phải chăng giá trị Tin Mừng trong việc sống độc thân cho Nước Trời của các linh mục, tu sĩ, đã bị đánh mất? Chắc chắn là không. Nhiều người nói rằng liệu sau biến cố đau thương này người trẻ có dám can đảm dấn thân đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa không? Đó là một điều quan ngại chính đáng. Nó không chỉ ảnh hưởng đến những người trẻ đang nghe tiếng Chúa gọi và đang đứng trước ngưỡng cửa của sự quyết định, mà còn gây tai hại và bối rối cho ngay cả những người sắp hoặc đã chịu chức. Một hôm, sau khi chia sẻ với nhau về những gì đang xảy ra tại Giáo Hội Hoa Kỳ, một Thầy Sáu trong lớp chúng tôi đã chân thành chia sẻ như sau: “Tôi cảm thấy mình sợ hãi, vì không biết khi ra làm việc, họ sẽ nhìn tôi với con mắt nào”. Một vấn đề nan giải tuy ý thức, nhưng không có câu trả lời...
Lý do thứ ba làm nên sự khủng hoảng ơn gọi ngày nay là điều kiện dấn thân suốt đời. Thiên chức Linh Mục và lời khấn Dòng không phải là một chuyện đùa giỡn nay có mai không, nhưng là một sự dấn thân phục vụ từng giây phút trong suốt cuộc đời. Sự dấn thân này đòi hỏi người trẻ phải có ý thức bổn phận trách nhiệm liên lỉ. Nhìn quanh thế giới ngày nay, ta thấy rất rõ về sự suy giảm trong việc ý thức trách nhiệm bản thân. Rất nhiều người trẻ muốn sống trong tình yêu, nhưng chẳng mấy ai dám mang lấy trách nhiệm của tình yêu. Đây chính là lý do mà nhiều người trẻ đã chung sống với nhau ngoài hôn nhân. Họ không muốn mang trên mình một trách nhiệm xem ra nặng nề và lâu dài, vì nó sẽ hạn chế sự tự do và khuynh hướng hưởng thụ của mình. Cũng vậy, khi một người trẻ đứng trước ngưỡng cửa ơn gọi, họ cũng băn khoăn lo lắng liệu mình có thể chu toàn và trung thành sống đời dấn thân suốt đời không? Nếu không cẩn thận, ý tưởng này sẽ làm “nản lòng chiến sĩ”.
Bước vào ơn gọi rồi, người trẻ lại phải tiếp tục đối diện với những thách đố và khủng hoảng khác. Ở đây, tôi muốn nói lên lý do thứ tư: sự khủng hoảng căn tính. Đời tu không phải là những chuỗi ngày dài nắng ấm, nhưng luôn trộn lẫn với những lúc bão tố mưa giông. Sống trong một thế giới hỗn loạn và phức tạp, cách riêng thời điểm thiên niên kỷ thứ ba này, người tu sĩ hay linh mục rất dễ cảm thấy như mình đang bị những thế lực khác đè bẹp. Nào là những chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa hưởng thụ, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa trần tục hóa, v.v. Giữa những thế lực ấy, người trẻ không biết mình đang đi về đâu, cặp ở bến thuyền nào. Cộng thêm với những lời ra tiếng vào, lời chê tiếng ghét, họ dần dà sẽ cảm thấy mình cô đơn lạc lõng giữa một dòng sông mà trong đó chỉ có thuyền mình chèo ngược hướng. Câu hỏi “Tôi là ai?” bắt đầu chất vấn người trẻ. Từ sự khủng hoảng không biết mình là ai sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra. Đây là ưu tư hàng đầu của các nhà đào tạo trong Chủng Viện cũng như các Dòng tu.
Cuối cùng, sự suy giảm trong ơn gọi một phần cũng vì quá nhiều công việc đòi hỏi trong đời linh mục. Hầu hết trong các thống kê, đa số linh mục đều nói rằng công việc mục vụ của họ quá nhiều và quá căng thẳng. Một linh mục trẻ bước vào đời có thể cảm thấy mình còn đầy sinh lực để cáng đáng mọi công việc được trao phó, nhưng với thời gian, họ bắt đầu cảm thấy mình yếu sức và hao mòn sinh lực. Bao nhiêu vốn liếng tích trữ nơi chủng viện đã bắt đầu vơi cạn. Dần dà họ bắt đầu làm việc không khác gì một cái máy. Nghĩ đến điều ấy, người trẻ đang nghe tiếng Chúa mời gọi cũng phần nào e ngại cho chính mình. Phúc cho những ai vẫn can đảm tiến bước.
Tuy đứng trước những thảm trạng gây nên sự khủng hoảng cho ơn gọi Giáo Hội, ta vẫn cảm thấy một phần nào được an ủi khi nghe lời hứa của Chúa nói qua miệng ngôn sứ Giêrêmia: “Ta sẽ ban cho các ngươi những mục tử tốt lành” (Jer 3:15). Thiên Chúa không bao giờ để cho dân người phải bơ vơ vất vưởng không chủ chăn. Trải qua muôn ngàn thế hệ, Người có cách để nuôi dưỡng đàn chiên và Giáo Hội của mình. Là những người Việt Nam, chúng ta cũng vui mừng và hãnh diện, vì dù ơn gọi có suy giảm nhiều trên miền đất Hoa Kỳ, thì ơn gọi trong số người trẻ Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng. Hiện nay, hầu hết trong các Chủng Viện và Dòng Tu đều có mầm giống ơn gọi Việt Nam. Nhiều Chủng Viện và Dòng Tu cho biết ơn gọi Việt Nam đã chiếm phần đa số. Nói như thế không phải để “mèo khen mèo dài đuôi”, nhưng đúng hơn, là để ta cùng nhau tạ ơn Thiên Chúa và tiếp tục cầu nguyện cho nhiều mầm giống ơn gọi khác, hầu bù đắp lại những nơi thiếu vắng không người chủ chăn.
“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít! Vậy các ngươi hãy xin Chủ mùa sai thợ gặt đồng lúa của Người” (Lk 10:2).

(còn tiếp)

Linh Mục Đa Minh Nguyễn Phi Long, CSsR