Thứ Sáu, Ngày 13 Tháng 4 - 2007  

Món Nợ Từ Trên

Phần Hai

42. Tôi Và Người Nghèo

nnNếu ơn trở lại là sự thách đố trong ơn gọi, thì người nghèo cũng là điều đáng lo trong đời tu.
Trong hầu hết Hiến Pháp của các Dòng tu thừa sai, việc rao giảng cho người nghèo khó luôn là điểm nổi bật và chiếm phần ưu tiên trong đời sống. Việc chọn người nghèo khó làm đối tượng cho đời tu có lẽ phần lớn phát xuất từ niềm xác tín rằng Chúa Kitô và người nghèo khổ tuy hai nhưng chỉ là một.
Trong Thánh Kinh, rất nhiều lần Chúa Giêsu đã so sánh chính mình với những con người nghèo khổ. Nói cách khác, họ là đối tượng chiếm phần ưu tiên trong sứ vụ cứu thế của Ngài. Khởi đầu sứ vụ công khai, chính Ngài đã tuyên bố: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, bởi Người đã xức dầu cho tôi, Người sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó” (Lk 4:18).
Chúa Giêsu đã tự đồng hóa mình với người nghèo.
Là một tu sĩ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế, tôi cũng được truyền lại tinh thần thánh tổ Anphongsô rằng: người nghèo khó chính là đối tượng của đời tôi. Mọi sinh lực và tài năng phải được thực hiện với mục đích là cho người nghèo. Hiến Pháp dạy rằng tôi không được giả điếc làm ngơ trước những tiếng than khóc của họ. Nói tóm lại, đọc qua các Hiến Pháp và Qui Luật, tôi thường thấy trách nhiệm của việc rao giảng một chiều: tôi cho họ. Đối với tôi, đó đã là một sự thách đố không nhỏ trong sứ vụ thừa sai. Nhưng còn thách đố hơn nữa là việc tôi để cho người nghèo rao giảng chính mình.  Ở đây, tôi muốn nói đến khía cạnh “tiềm năng rao giảng” của người nghèo khó đối với ơn gọi thừa sai.
Thường ta chỉ nghĩ đến việc làm thế nào mình mang Tin Mừng cho những con người bất hạnh trong đời, nhưng rất ít khi ta tự vấn làm thế nào để chính họ cũng mang Chúa Kitô đến với bản thân ta. Thành thật mà nói, nhiều khi ta cảm thấy sợ, vì lẽ khía cạnh ấy nhức nhối và thách đố hơn. Nó đòi hỏi nơi ta một sự thay đổi và canh tân triệt để trong đời. Nhưng cùng lúc, nó cũng là một cảm nghiệm tràn đầy ân sủng. Đây chính là món quà vô giá mà người nghèo có thể ban lại cho ta. Đúng! Họ không có gì theo phương diện vật chất. Nhưng họ lại có Đức Giêsu Kitô, Người luôn đồng hóa với họ, để đáp trả cho ta bằng những ân sủng và cảm nghiệm không đâu có được.
Tôi còn nhớ ngày theo mẹ đi lãnh đồ ngoại quốc từ Mỹ do ba gởi về. Lúc ấy tôi chỉ có 10 tuổi. Trên đường về nhà, mẹ tôi ghé lại một tiệm để bán vải. Vì sợ phải chờ lâu nên mẹ cho tôi một số tiền để mua đồ ăn gì tùy ý. Tôi đứng phía ngoài cửa tiệm đông đúc người tấp nập buôn bán. Trong số những người ấy, tôi thấy bóng dáng của một người ăn mày già nua đang thảm thương lê gót xin từng miếng cơm, manh áo. Nhưng tội nghiệp thay, ông đi tới ai thì đều bị người ta la mắng chửi rủa. Tuy là một đứa trẻ, nhưng sao tôi thấy tội nghiệp cho một phận người như thế. Rồi từ từ ông cũng đến bên tôi. Thấy tội nghiệp và đứng trước cảnh đau thương ấy, tôi đã lấy hết số tiền trong túi mẹ tôi mới cho để kính biếu người ăn mày xấu số. Ông tỏ vẻ ngạc nhiên. Và ngạc nhiên hơn nữa, khi ông đứng giữa mọi người mà lớn tiếng rằng: “Ông bà anh chị em thấy đó! Trong cả căn tiệm này không ai cho tôi một đồng xu, lại còn mắng nhiếc tôi. Duy chỉ có đứa nhỏ này đã thương tôi”. Rồi ông quay lại khẽ nói với tôi: “Cháu sẽ được ơn trên chúc phúc cho cháu mai sau”. Tôi cảm động khi nghĩ lại câu chúc lành của một người xem ra không có gì. Phải chăng lời chúc phúc ấy nay đã được thể hiện?
Cách đây độ ba năm, tôi có dịp được phục vụ trong một trung tâm giúp đỡ người nghèo tại thành phố Houston, Texas. Mục đích của trung tâm này là phỏng vấn và giúp đỡ người nghèo khó trong mọi tầng lớp và dưới nhiều khía cạnh. Một hôm, tôi được Supervisor mời vào để cùng bà phỏng vấn và lắng nghe tâm tư của một người nghèo đến xin cứu giúp. Tôi tưởng ai nhưng là một bà mẹ trung niên người da trắng có bốn con. Trong nước mắt ngậm ngùi, bà kể rằng trong hai ba tháng nay bà không có đủ tiền để trả tất cả các bills trong nhà, như nước, điện, ga, v.v. Thành phố đã gởi giấy cảnh cáo và quyết định sẽ rút hết nước, cúp hết điện trong tháng nếu bà không trả theo đúng hẹn. Khi hỏi chồng bà đâu thì bà đau lòng nghẹn ngào chia sẻ rằng ông ta là người lái xe truck, rượu chè bê bối, nay đã bỏ mấy mẹ con mà đi nơi khác không ai biết. “Ông ấy là người vô trách nhiệm,” bà nói. Bốn người con thì vẫn còn non dại, đứa lớn nhất mới được 13 tuổi, còn đứa nhỏ nhất mới có 7. Bà chỉ xin trung tâm hãy giúp bà có đủ những nhu cầu cần thiết để nuôi con. Với mọi giấy tờ bằng chứng, bà đã được trung tâm giúp đỡ.
Câu chuyện trên nếu chỉ thoạt nghe qua, có lẽ nó không có sự gì liên hệ đến với tôi. Tôi tưởng mình sẽ giúp đỡ gì được cho người mẹ đau khổ đấy, không vật chất thì ít ra cũng về lãnh vực tinh thần. Nhưng không, chính người nghèo đó đã đem lại cho tôi một bài giảng hùng hồn nhất trong đời. Giây phút ấy tôi đã được thay đổi và tỉnh thức. Từ trước tới nay tôi tưởng mình cũng là một trong những người nghèo. Chính nếp nghĩ ấy đã làm tôi coi mọi sự mình đang có là sự thường. Tôi đã “take it for granted” những gì Chúa ban cho. À, thì ra từ trước tới nay tôi vẫn có tất cả và có một cách dư đầy! Thế mà tôi lại không trân quý nó. Còn người phụ nữ này, cũng sống trên một đất nước mà ai cũng tưởng sẽ không có người nghèo, lại không có một cái gì trong tay, kể cả những gì tôi gọi là “cần thiết và căn bản” nhất trong đời. Tôi đã được người nghèo khó rao giảng cho chính mình. Tôi gọi đây là “tiềm năng rao giảng” của người nghèo.
Thế ra, trong sứ vụ rao giảng cho những người nghèo khó tất bạt, không biết ai rao giảng cho ai! Phải chăng chỉ có tôi mới có thể ban phúc lộc cho họ? Một quan niệm sai lầm!
Vì thế, người nghèo khó đóng một vai trò rất quan trọng trong đời ơn gọi của tôi. Chúa Kitô trên đời không có cánh tay và đôi chân nào, ngoại trừ cánh tay và đôi chân của tôi để giúp đỡ người nghèo. Nhưng cùng một lúc, tôi cũng cần đến họ vì họ mang đến cho tôi sự gặp gỡ đích thực với Chúa Kitô nghèo khổ xưa.

(còn tiếp)

Linh Mục Đa Minh Nguyễn Phi Long, CSsR