Sứ Mệnh Giáo Dân

 

smgd-pic

Số 34 Ngày 09.11.2006

Mục Lục

Tác giả

Thay dổi Ngôn từ

Hoàng Quý

Bất đồng hay bất hòa

Lm, Đỗ Vân Lực, OP

Dư âm Lịch Phụng Vụ và sổ tay 2007

Khơi nguồn thần lực

Chương C

THAY ÐỔI - NGÔN TỪ

Hoàng Quý

Ðể sống một đời sống thành công, một đời sống tràn đầy thần lực của Chúa Thánh Linh, tôi đã học cách thức canh tân hay đổi mới não trạng của mình và tiếp tới ở đây tôi phải học hỏi và thử nghiệm canh tân ngôn từ của tôi.

Tiến sĩ Paul Cho kể lại câu chuyện đối đáp giữa ông và bác sĩ giải phẫu thần kinh danh tiếng. Vị bác sĩ giải thích trung tâm ngôn ngữ của bộ óc con người điều khiển tất cả các giây thần kinh khác. Trung tâm ngôn từ có ảnh hưởng quan trọng trên mọi hệ thống thần kinh.

Tiến sĩ Cho trả lời ông là mình đã hiểu biết chuyện này rồi. Và vị bác sĩ ngạc nhiên:

"Thực thế sao? Làm sao ngài đã hiểu biết chuyện đó. Ðây là chuyện khoa học mới công bố kia mà?"

"Tôi đã học từ Tiến sĩ Giacôbê."

"Tiến sĩ Giacôbê nào vậy?"

"Phải, ngài đã sống cách đây khoảng hai ngàn năm và rất nhiều người quen biết ngài. Ngài đã mô tả tầm quan trọng của cái lưỡi và ngôn từ rất minh bạch: 'Nếu ta tra hàm thiếc vào miệng ngựa để bắt chúng vâng lời, thì ta điều khiển được toàn thân chúng. Anh em cũng hãy nhìn xem tàu bè: dù nó có to lớn, và có bị cuồng phong đẩy mạnh thế nào đi nữa, thì cũng chỉ cần một bánh lái rất nhỏ để điều khiển theo ý của người lái. Cái lưỡi cũng vậy: nó là một bộ phận nhỏ bé của thân thể, mà lại huênh hoang làm được những chuyện to lớn. Cứ xem tia lửa nhỏ bé dường nào, mà làm bốc cháy đám rừng to lớn biết bao! Cái lưỡi cũng là một ngọn lửa, là cả một thế giới của sự ác. Cái lưỡi có một vị trí giữa các bộ phận của thân thể chúng ta, nó làm cho toàn thân bị ô nhiễm, đốt cháy bánh xe cuộc đời, vì chính nó bị lửa hoả ngục đốt cháy. Thật thế, mọi loài thú vật và chim chóc, loài bò sát và cá biển, thì loài người đều có thể chế ngự và đã chế ngự được. Nhưng cái lưỡi thì không ai chế ngự được: nó là một sự dữ không bao giờ ở yên, vì nó chứa đầy nọc độc giết người. Ta dùng lưỡi mà chúc tụng Chúa là Cha chúng ta, ta cũng dùng lưỡi mà nguyền rủa những con người đã được làm ra theo hình ảnh Thiên Chúa. Từ cùng một cái miệng, phát xuất lời chúc tụng và lời nguyền rủa' (Gc 3:3-10). Quả thực cái lưỡi là một bộ phận nhỏ bé trong thân thể, nhưng nó có thể kiềm chế được cả cơ thể."

Thật vậy, khi mang bệnh ung thư trong người, tôi có nhiều dịp tiếp xúc với các đồng bệnh của tôi và tôi hiểu được tâm trạng của họ. Nhiều người khi hay tin mình lâm bệnh và phải vào hóa trị khổ cực, họ mất tinh thần và buông xuôi. Họ luôn bị ám ảnh là mình đang mang án tử hình và chỉ một thời gian nữa là vĩnh viễn ra đi. Và thực sự khi tinh thần họ đổ vỡ, căn bệnh càng tấn công dữ dội hơn và một thời gian sau họ ra đi không trở lại. Trái lại, những ai sống lạc quan hơn và đi tìm các cách thức điều trị, họ vẫn có thể sống còn (survivor) với căn bệnh trầm kha này một thời gian nữa. Gặp những bệnh nhân là các Kitô hữu, tôi vẫn khuyên họ hãy sống với niềm tin, ca ngợi Chúa và tín thác nơi Ngài chữa lành.

Vào ngày tôi được bác sĩ Bích Liên thông báo tôi bị bệnh ung thư máu và chỉ có thể sống được khoảng một năm nữa, tôi đã trấn an vợ tôi ngay là tôi chưa chết đâu, mặc dầu mọi người nhìn thấy thân hình tiều tụy và gầy gò của tôi đều lắc đầu thất vọng.
Ngay sau khi nghe hung tin đó, tôi đã ngước mắt nhìn lên Chúa và nhìn ra đây là ân huệ của Ngài và lập tức tôi cảm tạ Ngài. Và cứ thế ngày sống của tôi chỉ còn là ca tụng Ngài để Ngài chiến đấu với bệnh tật cho tôi. Khi miệng lưỡi tôi ca ngợi Chúa, chính là tôi tuyên xưng niềm tin vào Ngài và tin tưởng Ngài sẽ chữa lành tôi. Và cứ thế tôi mang vác bệnh tật thoải mái với gương mặt thanh thản an vui.

Khi bất cứ ai nói: "Tôi bất lực và chẳng thể làm được chuyện đó," thực sự câu nói đó tác động lên cả hệ thống thần kinh và người đó buông xuôi chẳng làm được chuyện gì và trở thành bất lực. Hoặc một ai cứ tiếp tục than van, "Tôi đã già cả và mệt mỏi mọi chuyện rồi", hệ thống thần kinh ngôn từ sẽ ảnh hưởng và kiềm chế lên toàn cơ thể và họ trở thành bị lão hóa thực sự. Càng tỏ ra bi quan, yếm thế và chán đời, cuộc sống càng trở thành nặng nề và ngắn ngủi hơn.

Và vị bác sĩ kết luận: "Chúng ta không bao giờ được buông xuôi ham vọng và phải hướng lái cuộc sống. Khi chúng ta nới lỏng ý muốn không muốn sống nữa, chính là lúc chúng ta nói với chính mình rằng chúng ta chẳng còn lý do gì để sống. Khi đó tất cả hệ thống thần kinh của chúng ta bắt đầu đóng dần lại và thực sự chúng ta sẽ đi vào cõi chết sớm hơn."

Lời kết luận của vị bác sĩ đã kiên vững niềm tin của Paul Cho khi ông cho rằng những lời tuyên xưng tích cực qua miệng lưỡi chúng ta trở thành nền tảng cho những thành công trong cuộc sống chúng ta. Như vậy cuộc sống của tôi được hướng lái do những gì tôi nói ra. Nếu tôi cứ nói hoài tôi là con người nghèo khổ, thực tế sẽ đẩy đưa tôi tới chỗ khổ cực hơn vì tôi đã đầu hàng chúng. Và cuối cùng tôi hài lòng với nếp sống lầm than này và đành buông xuôi mọi sự cho dòng nước lũ cuộc đời cuốn trôi.

Trái lại, tôi nhớ lại thời gian trong trại tù cải tạo, lúc đầu tôi chán nản và than vãn, quả thực lúc đó sao tôi thấy cuộc sống nặng nề, mệt mỏi và tuyệt vọng đến thế. Sau mấy tháng chao đảo như thế, niềm tin đã đến với tôi, nhất là thời gian tôi bị biệt giam, lúc nào tôi cũng cảm tạ Chúa vì tất cả đều là ân huệ của Ngài. Từ đó tôi tìm lại được an bình và kiên trì chiến đấu với mọi thách đố. Như vậy phải chăng tâm hồn và thân xác tôi đã được tác động do niềm tin, để cuối cùng tôi đã chiến thắng bệnh ho lao, toàn thắng tù ngục và trở về đoàn tụ với gia đình?

Cách đây hai tháng, Nguyễn Anh Tuấn trao đổi với tôi về nghiệp chướng của dân tộc Việt Nam. Nhìn vào nền văn hóa của chúng ta, đa số các tác phẩm, các bài thơ, bài nhạc, đều nói lên những cảnh ai oán, than van, chán chường, buông xuôi. Những bài thơ, bài văn đầy nhuệ khí, đầy khí tiết hào hùng và quật khởi như của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thái Học... quả thực quá ít ỏi trong văn học của chúng ta. Một nền văn chương, văn học bao trùm bằng toàn bằng những lời than vãn, chán chường, bi quan như thế, làm sao toàn dân còn sức mạnh để quật khởi, để tiến lên ngang hàng với thế giới? Có lẽ chúng ta cứ bị vòng nghiệp chướng, oan nghiệt vây hãm như thế hết đời nọ đến đời kia khiến chúng ta không sao thoát ra khỏi, chính vì chúng ta thiếu quá nhiều những tâm hồn quả cảm, đầy tiết tháo như Nguyễn Trãi, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Công Trứ: "Muốn đại sự phải dìm cho lúng túng. Không công danh thời nát với cỏ cây"... Hay gần đây như hùng khí ca nhạc của Nguyễn Ðức Quang: "Không phải là lúc cứ ngồi đặt vấn đề nữa rồi, phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới..."

Làm thế nào tôi có thể cách mạng lối sống của mình để thụ đắc được thói quen luôn luôn nói những lời tích cực, chủ động, hát hoặc nghe những bài nhạc tràn đầy nhuệ khí, dồi dào sức sống tâm linh? Nếu không tập được thói quen này, cuối cùng tôi sẽ bị những tư tưởng chán chường, thua cuộc, mệt mỏi áp chế cuộc sống, khiến tôi càng lún ngập trong lầy lội giữa chợ đời.

Và như vậy muốn thay đổi bộ mặt cuộc đời, tôi phải thay đổi ngôn từ của tôi, tôi phải canh tân lời nói của mình. Ðây là một cuộc thay đổi nền tảng. Không thể nói đến canh tân, khi ngôn ngữ tôi sử dụng toàn là một loại ngôn ngữ cũ rích, nhàm chán và thua cuộc. Cũng thế, nếu tôi muốn con cái tôi khá hơn, tôi phải biết khích lệ chúng thay vì miệt thị, biết khuyên nhủ chúng nói những lời tích cực hơn là buông thả. Không còn phương cách nào dậy dỗ những đứa con ngỗ nghịch hoặc buông thả bằng trước tiên phải dậy chúng nói một loại "ngôn ngữ mới," ngôn ngữ của Kinh Thánh, của chiều kích thần khí.

Xuyên suốt Kinh Thánh, tôi có thể tìm được những ngôn từ tuyệt vời nhất. Chúa Thánh Linh sẽ nhắc nhở cho tôi những câu Kinh Thánh đem lại hùng khí, vực tôi đứng dậy, đôn đốc tôi đi tới thành công. Làm thế nào hàng ngày tôi phải nuôi dưỡng chính mình bằng Lời Hằng Sống, tôi phải để Kinh Thánh hướng lái suy nghĩ, ngôn từ, hành động và thái độ của tôi? Càng ngày tôi phải tích luỹ vào kho tàng của tôi những Lời Kinh Thánh đem lại sản xuất (productivity), tiến bộ, kiến tạo và chiến thắng. Nhờ vậy, bây giờ tôi hướng đến thành công nhiều hơn trong cuộc sống. Tôi học gương Chúa Giêsu mỗi lần bị quỷ cám dỗ là một lần Ngài dùng Lời Kinh Thánh đánh bại hắn.

Tôi đâu ngờ Chúa Thánh Linh dẫn dắt tôi đi quá tuyệt vời, khi trong thời gian qua Ngài thúc đẩy tôi hoàn thành cuốn Lịch Phụng Vụ và Sổ Tay 2007 với 365 câu Kinh Thánh. Tôi đi theo từng chủ đề như thống hối - những lời hứa của Chúa - niềm tin - niềm hy vọng - tình yêu... Mỗi Lời Kinh Thánh tôi chọn lựa trong cuốn Lịch này là một Lời đánh động tôi. Và tôi có thể quả quyết ở đây, những ai trung thành mỗi ngày đọc một câu Kinh Thánh này, cuộc đời họ sẽ biến đổi. Tôi xin trưng dẫn dưới đây một số câu Kinh Thánh điển hình đề cập về:

* Thống hối (từ trang 74):

- "Nếu dân Ta, dân vốn kêu cầu Danh Ta, mà biết hạ mình xuống khẩn nguyện và tìm kiếm Nhan Ta, từ bỏ những con đường xấu xa mà trở lại, thì Ta, từ trời, Ta sẽ nghe và thứ tha tội lỗi nó và sẽ phục hưng xứ sở của nó." (2Sb 7:14)

- "Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi! Nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." (Kh 3:15-16)

- "Ta, mọi kẻ Ta yêu mến, thì Ta răn bảo dạy dỗ. Vậy hãy nhiệt thành và hối cải ăn năn! Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta." (Kh 3:19-20)

- "Hãy tìm Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên." (Is 55:6)

* Những Lời Hứa (từ trang 88):

- "Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người? Có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh, như tất cả Lề Luật mà hôm nay tôi đưa ra trước mặt anh em?" (Ðnl 4:7-8)

- "Chúa sẽ đặt anh em lên làm dân thánh hiến cho Người, như Người đã thề với anh em, nếu anh em giữ các mệnh lệnh của Chúa, Thiên Chúa của anh em, và nếu anh em đi theo đường lối của Người." (Ðnl 28:9)

- "Chớ gì sách Luật này đừng rời khỏi miệng ngươi; và ngươi sẽ suy gẫm sách Luật đó ngày đêm, để lo thi hành tất cả những gì viết trong đó; vì như thế ngươi sẽ được thịnh đạt trên đường đời, vì như thế ngươi sẽ thành công. Mạnh bạo lên, can đảm lên! Đó chẳng phải là lệnh Ta đã truyền cho ngươi sao? Đừng run khiếp, đừng sợ hãi, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, sẽ ở với ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi tới." (Gs 1:8-9)

- "Chúa phán với ông Mô-sê: 'Ngay cả điều ngươi vừa nói đó, Ta cũng sẽ làm, vì ngươi đã được nghĩa với Ta, và Ta biết đích danh ngươi.'" (Xh 33:17)

* Ðức Tin (từ trang 157):

- "Thầy bảo thật anh em, nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được điều Thầy vừa làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có bảo núi này: "Dời chỗ đi, nhào xuống biển!" thì sự việc sẽ xảy ra như thế. Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được." (Mt 21:21-22)

- "Đức Giê-su nói với ông ta: 'Sao lại nói: nếu Thầy có thể? Mọi sự đều có thể đối với người tin.'" (Mc 9:23)

- "Anh em hãy tin vào Thiên Chúa. Thầy bảo thật anh em: nếu có ai nói với núi này: Dời chỗ đi, nhào xuống biển! mà trong lòng chẳng nghi nan, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì sẽ được như ý. Vì thế, Thầy nói với anh em: tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý." (Mc 11:23-24)

- "Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó." (Ga 1:12-14)

- "Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý." (Ga 15:7).

Như trong trường hợp các câu Kinh Thánh về chủ đề đức tin vừa rồi, sở dĩ từ trước tới nay tôi xin Chúa hoài hết điều nọ đến điều kia, nhưng không được, hoặc chỉ được ít ỏi, vì tôi đứng trong thế giới ba chiều vật chất và chưa bay bổng vào được thế giới chiều thứ tư, tức thế giới của Thần Khí để tin vào Ngài và cầu xin Ngài. Tôi vẫn dùng những ngôn từ thông thường cầu xin Ngài hết ơn nọ đến ơn kia, tương tự như một thần dân kêu nài với vua chúa, như người làm công xin ơn ông chủ, trong lúc tôi có thể sống tín thác như con thơ xin với mẹ hiền, như người tình thỏ thẻ bên người yêu. Niềm tin của tôi phải giống như một cặp đu xiệc dám lao mình tung vào không gian để Chúa ở đầu bên kia nắm lấy tay tôi. Ðiều tôi xin với Chúa, tôi phải tin là tôi đang nắm trong tay, tôi hình dung thấy giấc mơ ấy đang hiển hiện thành thực tại trước mặt. Ngôn ngữ của niềm tin là dám tuyên xưng điều mình xin chắc chắn sẽ được. Ngôn ngữ của niềm tin là ngôn ngữ của người mẹ mang thai cảm nhận được thai nhi đang cựa quậy trong lòng mình và hình dung ra đứa con kháu khỉnh, dễ thương mình sắp bồng bế trên đôi tay.

Càng dấn thân vào Kinh Thánh, Chúa Thánh Linh càng cho tôi khám phá được những chân lý uyên áo, kỳ diệu. Trước ngày Lễ Ngũ Tuần, các môn đệ còn tỏ ra rất nhút nhát, dốt nát, thụ động, nhưng ngay sau khi các ông được Chúa Giêsu ban Thánh Thần tràn đầy (các ông được dìm ngập trong Thánh Thần, được đưa vào thế giới Thần Khí), lập tức các ông trở thành những con người mới đầy quả cảm, thông thái, dấn thân và sản sinh. Ngay sau bài giảng đầu tiên tại Giêrusalem, ông Phêrô đã lôi kéo được ba ngàn người tin theo Chúa Giêsu.

Cách đó chưa bao lâu, khi bị mấy phụ nữ chỉ chỏ ông Phêrô là môn đệ của Chúa Giêsu, ông chối bay chối biến ba lần, thế mà bây giờ ông cùng với ông Gioan bị điệu ra trước Thượng Hội Ðồng và bị đe dọa không được rao giảng về Chúa Giêsu nữa, các ông ngang nhiên đối đáp: "Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra" (Cv 4:20). Ông Phaolô cũng thế, sau khi bị Chúa quất  ngã ngựa và mù mắt, ông được ông Khanania đến đặt tay chữa lành và đem ông đi vào thế giới thần khí: "Anh Saolô, Chúa đã sai tôi đến đây, Người là Đức Giê-su, Đấng đã hiện ra với anh trên đường anh tới đây. Người sai tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy Thánh Thần" (Cv 9:17). Từ giây phút định mệnh này, ông Phaolô trở thành vị tông đồ nhiệt thành, năng nổ và quả cảm nhất của Chúa Kitô. Trước vô vàn khổ đau và thách thức của cuộc đời tông đồ, ngài mạnh dạn tuyên bố: "Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?" (Rm 8:35).

Biết đến bao giờ tôi mới có thể tuyên tín như ngài? Với niềm tin vững mạnh như các ngài thuộc thế giới thần khí tuyên tín như thế, tôi mới có thể bước thân theo các ngài "chuyển núi dời non" được. Muốn được như thế, tôi phải chuyển đổi ngôn từ của tôi theo các ngài. Ðó là bí quyết của niềm tin biến thành phép lạ. Ðó là nguyên lý khơi được nguồn thần lực của Thiên Chúa.

Trở về Mục Lục

BẤT  ÐỒNG  - HAY  BẤT  HÒA (Mc 12:28b-34)

Lm. Ðỗ Lực, O.P. dzuize@gmail.com

Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu lần thứ nhất vừa kết thúc ngày 22 tháng 10 năm 2006 tại Thái lan.  Chủ đề của Ðại Hội là “Kể chuyện về Chúa Giêsu.”   Bắt đầu từ ngày 18 tháng 10, hằng trăm đại biểu đã hào hứng kể những câu truyện rất thú vị và thực tế trên bước đường làm chứng và sống Tin Mừng trên cánh đồng truyền giáo mênh mông khắp Á Châu.  Ðây là một cuộc gặp gỡ để lại nhiều ảnh hưởng sâu rộng.  Một cuộc gặp  gỡ giữa Tin Mừng và văn hóa, tôn giáo, xã hội.  Qua những trao đổi giữa các chứng nhân từ những miền văn hóa khác nhau, một sứ điệp đầy tình thương và hy vọng đã vang lên.  Phải chăng đó là một cuộc đối thoại  và gặp gỡ êm thắm, phản ánh cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và kinh sư trong Tin mừng Mátcô hôm nay ?

Cứ nhìn vào cuộc đối thoại rất ôn hòa và bổ ích giữa Chúa Giêsu và vị kinh sư sẽ thấy những yếu tố cần thiết cho cuộc đối thoại đạt kết quả. Có những điểm gặp gỡ rất lý thú.  Nhưng cũng có những điểm mới lạ rút ra từ truyền thống lâu đời, đến nỗi vị kinh sư phải thốt lên : “Thưa Thày, hay lắm, Thày nói rất đúng.”   Kinh sư phải nhìn nhận cái nhìn tuyệt vời của Chúa về giới răn quan trọng nhất.   Nếu không có thiện chí, chắc chắn ông không thể chấp nhận dễ dàng như vậy.  Thiện chí đó bắt nguồn từ sự khôn ngoan khiến ông gần Nước Thiên Chúa.   

Thái độ hai bên cũng rất đáng chú ý.  Hai bên đều thuộc lòng truyền thống và lề luật, nên đồng ý với nhau rất nhanh về giới răn quan trọng nhất.  Hai bên rất tôn trọng nhau.  Chúa Giêsu cũng công nhận và tôn trọng giá trị đích thực của người đối thoại. Hiếm có cuộc đối thoại nào êm thắm như đoạn Tin Mừng Mátcô hôm nay.  Tóm lại, bản văn Tin Mừng nguyên thủy, tức bản Mátcô, nhẹ nhàng hơn hai Tin Mừng Mathêu và Luca nhiều.  Tuy thế, thánh Mátcô cũng không giấu nổi sự thật về bộ mặt đối phương : “Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.”  

Cùng một nội dung câu truyện như thế, nhưng hai Tin Mừng Mathêu và Luca trình bày trong một khung cảnh căng thẳng hơn nhiều.  Cả hai đều cho thấy rõ mối xung khắc giữa Chúa và nhóm Pharisêu.  Người hỏi không có thiện chí.  Họ hỏi “để thử Người.”   Khác với Tin Mừng Mátcô, Tin Mừng Luca cho thấy các người thông luật trở nên cường điệu hơn vì “muốn chứng tỏ mình có lý.”   Họ đặt một câu hỏi hắc búa và thực tế : “Ai là người thân cận của chúng tôi ?”   Dĩ nhiên ở đây Chúa không thể dựa vào một điểm chung là Kinh Thánh để trả lời dễ dàng.  Nhưng Người vận dụng một hình thức nhẹ nhàng để dẫn đối phương đến một kết luận hợp tình hợp lý.  Một hoạt cảnh rất sống động về “Người Samaritanô nhân hậu” đã lôi cuốn đối phương tới việc đồng thuận rất tự nhiên.  Kết thúc Chúa không dằn mặt, nhưng đặt câu hỏi để đối phương tự tìm câu trả lời.  Cuối cùng, đối phương phải im lặng để lắng nghe từ bên trong ý nghĩa sâu sắc về tình yêu  đối với người thân cận.  Thật là một cách đối thoại tuyệt vời và vô cùng hiệu quả ! 

Tới đây, chúng ta mới dừng lại ở hình thức đối thoại.  Nhưng yếu tố quyết định cuộc đối thoại là nội dung cuộc trao đổi hôm nay.  Câu hỏi xoay quanh điều răn quan trọng nhất.  Ðiều răn quan trọng nhất trong Lề Luật cũng là điều quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta : tình yêu.  Tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân là hai điều răn rất khác nhau, vì Thiên Chúa khác hẳn con người.   Nhưng hai điều răn quan trọng như nhau.  Hai điều răn lấy từ hai nơi khác nhau trong Kinh Thánh : sách Ðệ Nhị Luật (6:4-5) và Lêvi (19:18).  Chỉ trong tình yêu, Chúa mới có thể liên kết hai sứ điệp khác nhau thành một Lời duy nhất.  Chúa Giêsu là gương mẫu tuyệt vời cho cả hai giới răn đó.

Nước Thiên Chúa là vương quốc tình yêu.  Không yêu thương nhau, không thể xây dựng Nước Thiên Chúa.  Nhưng muốn yêu nhau, phải hiểu nhau.  Những khác biệt và mâu thuẫn rất cần thiết cho cuộc sống.  Phải vận dụng cả con tim lẫn khối óc mới có thể vượt qua những thách đố đó. 
Ðối thoại là một phương tiện hữu hiệu nhất giúp con người vượt qua những khác biệt và mâu thuẫn. 
Nhưng làm sao đối thoại nếu chỉ dựa trên tình cảm hay quyền bính, chứ không tình yêu ?

Cuộc đối thoại phải dựa trên cơ sở đức ái.  Có thể bất đồng nhưng không bất hòa.  Lịch sử nhân loại đã tốn bao xương máu và thời gian cũng chưa dẹp được những bất hòa.  Bất đồng còn có thể đối thoại được.  Bất hòa rất khó lòng tìm ra sự thật, vì luôn kèm theo tình cảm chủ quan.  Nghe một phần, nhưng cứ tưởng đã nắm bắt toàn thể sự thật.  Tình cảm có thể giết chết tình yêu.  Chỉ tình yêu mới có thể tạo môi  trường và điều kiện thuận lợi cho cuộc đối thoại. Có lẽ vì nặng tình cảm, dân tộc chúng ta rất khó nhận ra biên giới giữa bất đồng và bất hòa. 

Tình cảm dễ làm cho con người đóng kín.  Trong khi đó, muốn đối thoại, cần phải cởi mở như Chúa Giêsu.  Người sẵn sàng lắng nghe những chất vấn, ẩn ức và khát vọng  của bất cứ ai, bất kể cả những người thấp kém, nghèo khổ và kẻ thù.  Khi đã giải đáp thỏa đáng, Người vẫn muốn tiếp tục đón nhận ý kiến người khác.  Chỉ có một tấm lòng “hiền lành và khiêm nhường” thật sự mới có một độ cởi mở lớn lao như thế.  Ðó là đặc tính nổi bật nhất của tình yêu. Bởi vậy, thánh Phaolô khuyên chúng ta : “Anh em cũng hãy mở rộng tấm lòng” để lắng nghe và đón nhận quan điểm khác biệt của tha nhân. 

Mặc dù tình yêu Thiên Chúa là giới răn, nhưng trước hết đó là một lời mời gọi, một lời hứa, một niềm hy vọng.  Thiên Chúa là một.  Con người phải hoạt động tích cực mới có thể hòa hợp và hiệp nhất với nhau.  Muốn con người hiệp nhất với nhau, trước hết phải nên một với Thiên Chúa.  Bởi thế, trong khi kinh sư chỉ hỏi một điều răn quan trọng nhất, Chúa Giêsu đã trả lời hai.  Nhưng cả hai đều liên đới sâu xa và mật thiết với nhau trong một câu trả lời duy nhất.  Hai mà một.  Một mà hai.  Có thể tìm thấy Thiên Chúa trong anh em.  Ngược lại, có thể tìm thấy anh em trong Thiên Chúa.  Chỉ có đức tin mới cho chúng ta một cái nhìn như thế.  Cái nhìn đức tin đó là điều kiện đầu tiên vô cùng cần thiết cho cuộc đối thoại.  Chính vì yếu đức tin, nên chúng ta ít tôn trọng con người, ý kiến và lập trường của tha nhân. Kết quả là, người ta có thể loại bỏ, phỉ báng, tiêu diệt đối phương để mình trở thành độc tôn.

Nhiều người trong chúng ta không biết đến ý nghĩa của chữ tha nhân.  Gặp một người khác với mình, họ liền dẹp bỏ.  Không bao giờ họ chấp nhận đối thoại.  Chẳng hạn, sau khi được đăng lên website ít giờ, bài viết “Ðâu Là Sức Mạnh Truyền Thông ?” đã bị vội vàng đưa lên rồi kéo xuống ngay.  Ðó không phải là trường hợp duy nhất.  Cách đây ít tháng, giữa cuộc khủng hoảng về bản dịch “Nghi Thức Thánh Lễ 2005,”đã thấy những diễn biến tương tự nơi một website khác.  Rõ ràng sự thật chỉ có một chiều.  Như vậy, làm sao đối thoại ?   Chúng tôi không buồn vì bài của mình bị dẹp bỏ, nhưng buồn vì thái độ của người mình không chấp nhận đối thoại. Dĩ nhiên, chủ website có toàn quyền chọn lựa.  Nhưng đó có phải là con đường tìm kiếm chân lý ? Chúng tôi không chủ trương mọi điều mình viết đều là chân lý.  Tự bản thân, chúng tôi luôn muốn học hỏi mọi người, kể cả con nít và những người thất học, nhất là những người thù ghét chúng tôi.  Thực sự, khi viết bài đó, chúng tôi không hề nhắm tới một trường hợp nào cụ thể. 

Vì quá nặng tình cảm, chúng ta thường có khuynh hướng quy ngã.  Chẳng hạn, trong bài “Từ Ðại Hội “Liên Hiệp Truyền Thông Công giáo Việt nam” ... tới bài viết của linh mục Ðỗ Lực,” tác giả Linh Giao đã viết : “.. cả hàng giáo phẩm nữa còn đang sống trong mù lòa.”  Nghe qua ai cũng thấy một tâm trạng quá bức xúc vì những kinh nghiệm đau thương quá khứ.  Giả sử chúng tôi viết : CHỈ có giáo dân mới mù lòa và cần xin Chúa cho sáng mắt, thì một trăm phần trăm chúng tôi có lỗi.  Thực tế, khi viết “rất nhiều giáo dân Việt nam còn đang trong tình trạng mù lòa,” chúng tôi không có ý đứng về phía giáo sỹ để kêu gọi hay chỉ trích  giáo dân.  Chúng tôi chỉ muốn nói lên thực trạng giáo dân ít quan tâm tới việc trau giồi kiến thức để mở con mắt tinh thần trước những giá trị đích thực của ơn gọi và sứ mệnh Kitô hữu của mình mà thôi.  Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, chúng tôi không thể đề cập mọi vấn đề. 

Tiếp theo, tác giả Linh Giao kêu gọi hàng giáo phẩm đi tiên phong và làm gương mẫu cho giáo dân.  Lý do tác giả đưa ra : “Hàng giáo phẩm không đi tiên phong, không làm gương mẫu cho giáo dân, làm sao tầng lớp giáo dân đơn thân độc mã đi được, trong khi hầu hết mọi phương tiện vận động đều nằm trong tay hàng giáo phẩm, từ chức vụ, quyền uy, thế giá, tài chánh, hành chánh. Tóm lại, hàng giáo phẩm hầu như nắm giữ độc quyền mọi chủ chốt, còn giáo dân chỉ là lớp thứ dân mà đa số các linh mục chỉ muốn họ thuộc thành phần "cầu nguyện, đóng tiền và vâng phục (mù quáng)." 
Tại sao giáo dân phải lệ thuộc quá nhiều như vậy ?  Lịch sử Giáo hội cho thấy rất nhiều phong trào do giáo dân khởi xướng.  Hầu hết các dòng tu do các linh mục, chứ không do giám mục hay giáo hoàng lập nên.  Thực tế, tất cả đều tùy thuộc Chúa Thánh Linh, chứ không phải con người.  “Chúa Thánh Thần muốn thổi đâu thì thổi.”  Kinh nghiệm cho thấy Chúa Thánh Thần thường thổi từ dưới lên.  Thổi từ trên xuống thường bị vướng nhiều thứ mũ gậy lỉnh kỉnh lắm !

So với hàng giáo phẩm, linh mục là hàng giáo sỹ không có quyền hành và phương tiện nhiều.  Tự bản chất quyền hành để phục vụ.  Nhưng làm sao linh mục có thể làm mọi việc?  Theo giáo luật, cha sở có toàn quyền trong giáo xứ.  Toàn quyền nhưng có toàn năng không?  Do đó, muốn phục vụ hữu hiệu, quyền hành phải được chia sẻ.  Nhưng không phải cứ chia sẻ là mọi việc đều êm thắm.  Quan trọng là con người có tin tưởng và tôn trọng lãnh vực hoạt động của nhau cũng như có dám đối thoại hay không?  Không quan tâm tới những yếu tố đó, việc mục vụ rất khó thành công.  Bao giờ người giáo dân mới được tôn trọng và mời gọi đối thoại với linh mục thực sự ?

Trong đoạn  “... Viết về Giáo hội, họ chỉ nhắm triệt hạ hàng giáo phẩm và nâng cao giáo dân tới mức tuyệt đối,” chúng tôi đã “quá tay” khi viết chữ “tuyệt đối” ở đây, khiến tác giả Linh Giao nhận xét : “linh mục Lực tỏ ra gay gắt lên án một số anh em giáo dân “quá khích.”  Chúng tôi thành thực xin lỗi  anh em. 
Thực tình, chúng tôi chỉ muốn dùng chữ “tuyệt đối” theo nghĩa “quá mức” mà thôi.  Nhìn vào thực tế đại đa số giáo dân trình độ quá thấp, nên không ý thức và thi hành nổi sứ mệnh Kitô hữu trước những đòi hỏi khẩn cấp của thời đại.  Họ sẵn sàng hy sinh thời giờ và tiền bạc để phục vụ giáo xứ, nhưng rất ngại ngùng bỏ thời giờ tham dự các lớp giáo lý và Thánh Kinh.

Trong hàng ngũ giáo dân, nhiều người có khả năng rất cao, nhất là những anh em đã từng sống một thời gian dài trong Nhà Chúa.  Ðây là một nguồn tài nguyên lớn lao đã bị bỏ quên và lãng phí.  Lỗi không hoàn toàn nằm ở phía những người đang nắm quyền trong Giáo hội.  Tuy nhiên, quyền hành và chức tước tới đâu cũng không thể coi thường anh em đó.  Anh em giáo dân cũng nên tìm một con đường đối thoại và hợp tác theo tinh thần bác ái của Chúa Kitô.  Cần có một cuộc cách mạng thực sự từ não trạng đến thái độ. 

Chúng tôi rất vui khi tác giả Linh Giao xác định dứt khoát : “Còn cá nhân chúng  tôi, chẳng khi nào chúng tôi đòi hỏi một sự bình đẳng tuyệt đối trong Giáo hội khi Giáo hội đi theo con đường phẩm trật.  Chúng tôi cũng chẳng nhắm triệt hạ hàng giáo phẩm, trừ khi có những vị sống chà đạp lên Giáo hội bằng cuộc sống vô luân, ham hố danh lợi, che đậy gian dối và làm ngơ cho tội ác hoành hành. Chúng tôi cũng chẳng mơ ước nâng cao giáo dân tới mức tuyệt đối, vì chúng tôi hiểu Giáo hội ban phát ơn thánh cho chúng tôi qua tay các linh mục. ”  Nếu đúng thế, tác giả không phải là đối tượng những lời nhận xét và phê bình của chúng tôi.  Tác giả cho thấy rõ thiện chí và ý thức rất cao về Giáo hội.  Từ căn bản này, chúng ta có thể gặp gỡ nhau để xây dựng nhiều lắm.  Ðây chính là lúc chúng ta cần tìm những điểm chung và tích cực để cùng nhau cộng tác.

Từ một quan sát thực tế, tác giả Linh Giao nêu thắc mắc “tại sao các tín hữu Tin Lành lại trổi vượt gấp nhiều lần các tín hữu Công giáo về Kinh Thánh và cầu nguyện?”  Rồi tác giả tự giải quyết vấn đề : “Câu hỏi rối rắm này cần cả hàng giáo sĩ lần giáo dân ngồi xuống cùng cầu nguyện với Chúa Thánh linh và mổ xẻ với nhau để tìm ra con đường sửa chữa và thăng tiến. Chẳng bên nào đơn phương giải quyết được!”  Thực ra, vấn đề không chỉ tùy thuộc mối tương quan giữa giáo sĩ và giáo dân.  Vấn đề nằm sâu trong lối sống đạo hình thức của người Công giáo và văn hóa Việt nam, một nền văn hóa quá thực dụng và tình cảm.  Chính vì muốn rời xa lối sống đạo hình thức đó, anh em Tin Lành mới tìm cách sống thực Lời Chúa.  Chắc chắn Lời Chúa đã đem lại cho họ “thần khí và sự sống,” một giá trị cao vượt hơn của lễ toàn thiêu.

Cần mau lẹ tìm một đường hướng hoạt động truyền thông hơn là quy tụ tất cả thành một mối.   Quy tụ như thế rất dễ bị hiểu lầm là tập trung quyền lực để giết chết sáng kiến và thiện chí cá nhân.  Tập trung để kiểm soát và tiết kiệm chỉ là con đẻ của một đầu óc một chiều.  Vấn đề không đơn giản như thế !   Thời đại internet, cá nhân nào cũng có thể làm website, làm sao có thể cấm đoán và kiểm soát ?  Càng cố gắng tập trung quyền lực, càng bị xa lánh và thất bại.  Kinh nghiệm cho thấy Giáo hội càng tập trung quyền lực và kiểm soát, càng gặp nhiều khó khăn và cám dỗ.  Chúng ta đang sống trong một Giáo hội tôn trọng tự do và có sứ mệnh giải thoát nhân loại.  Khi tuyên bố về tự do tôn giáo, “Giáo hội cảm nhận rõ mình chỉ  có thể được tin cậy vì trung thực tuyệt đối và khiêm tốn nhìn nhận về quá khứ và hiện tại.  Một Giáo hội thú nhận tội lỗi và những thiếu sót của mình trước Nhan Thiên Chúa và nhân loại thì hấp dẫn hơn một Giáo hội háo thắng.  Một lời nhìn nhận mọi người có tự do tôn giáo, cùng với việc hoàn thành sứ mệnh giải thoát, kêu gọi những người thành tâm tìm kiếm chân lý giải thoát và cứu độ phải có lương tâm ngay thẳng hơn bao giờ.”   Tự do tôn giáo hay tự do tư tưởng đều có một mẫu số chung và cùng một bản chất.

Lạy Chúa, con biết con còn thua Con Chúa trong cuộc đối thoại với tha nhân.  Xin cho con một tâm hồn cởi mở và ngay thẳng để  có thể đối thoại với mọi người.  Xin cho con gặp gỡ anh em con để cùng nhau xây dựng Nước Chúa trong cuộc đời vắn vỏi còn lại này.  Amen.

Trở về Mục Lục

DƯ ÂM L ỊCH PHỤNG VỤ - VÀ SỔ TAY 2007

(tiếp theo) 
Kính thưa quý độc giả,

Cuốn Lịch Phụng Vụ và Sổ Tay 2007 đã được phát hành gần một tháng nay. Cuốn lịch được phát hành theo kiểu chuyền tay, rỉ tai. Cảm tạ Chúa, chúng tôi đã phát hành được 2/3 số lượng in ấn (#1.400), số còn lại chúng tôi sẽ cầu nguyện để cuốn Lịch tới tay nhiều người tại khắp nơi. Riêng tại Việt Nam, Lm. Nguyễn Thái Hợp báo tin đã phát hành được 1.500 cuốn và in thêm 500 cuốn. Ðấy là một nỗ lực hợp tác tốt đẹp giữa một số giáo sĩ và anh em giáo dân. Hơn là một cuốn Lịch mang tính chất thời tính hàng năm, cuốn Lịch này đưa ra những đường hướng mục vụ cụ thể của Giáo hội ngày nay theo ý hướng của các vị giáo hoàng hiện đại, đặc biệt Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II.

Trong mấy ngày vừa qua, sau khi đã đăng bài Dư Âm Lịch 2007, chúng tôi nhận thêm được một số emails gửi về cho Tòa Soạn. Cám ơn quý độc giả đã và đang quan tâm tới công việc truyền bá và sống Lời Chúa một cách cụ thể. Chúng tôi hân hoan được bác nhịp cầu cảm thông với quý độc giả. Sau đây chúng tôi xin trích đăng một số emails mới nhận được.

* Phan Thị Hương, Ðức Quốc

Kinh thua Bac ,

Con vua doc xong bai bac gioi thieu ve tap sach khoi nguon than luc, con that cam dong ve nhung cam nghiem, nhung hong an ma Chua da trao tang cho bac. Uoc gi voi kinh nghiem qui bau cua bac, con cung duoc Chua lam cho sang mat trong moi giay phut cua cuoc doi voi doi mat duc tin yeu duoi cua minh, hau giup con buoc di binh an tren con duong Chua di .  

Ngoai ra con muon hoi, con hien dang song o Munich, Duc quoc, con rat ao uoc duoc co lich phung vu va so tay 2007 cho nhom giao ly vien cung nhu ca doan cua con, xin bac cho biet gia ban tai Au chau cho cac cong doan va cach thuc tra tien de dang nhat cho nguoi o Au chau .
Cau xin Chua luon tiep tuc dong hanh voi Bac trong nhung giay phut thu thach cua binh tat, trong kinh Bac.

Cám ơn Hương rất nhiều đã khích lệ anh em chúng tôi trong công tác truyền thông này.
Nếu Hương thấy tờ điện báo SMGD giúp ích, Hương có thể gửi một số emails của người thân hoặc bạn bè để chúng tôi chuyển SMGD tới tay họ. Chúng tôi cũng mong Hương và anh chị em bên Ðức gửi bài vở hoặc những chia sẻ cảm nghiệm cho SMGD.

Chúng tôi cũng vừa gửi express sang Ðức một gói 4 cuốn Lịch và tiền cước phí cũng là 10 dola. Như vậy chúng tôi bán sang Ðức cũng y như sang Úc với giá 10 dola cho một cuốn (bao luôn cước phí). Vậy Hương có thể cho chúng tôi biết số lượng và chúng tôi sẽ gửi express từng 4 cuốn một. Mong ước Hương tiếp tay với chúng tôi trong công tác tông đồ này. Xin Chúa và Mẹ chúc lành cho Hương và gia quyến. Mến.

* Linh mục Tran Tat Dac, South Carolina

Anh Quy:
Xin anh gui cho em 100 cuon theo dia chi sau:
Our Lady of the Rosary Church
3710 Augusta Road
Greenville, SC  29604
Xin Chua chuc lanh cho viec muc vu cua anh duoc tot dep.
Than men,

Linh mục Ðắc quý mến,

Cám ơn linh mục đã đọc cuốn Lịch Phụng vụ và Sổ Tay 2007 và linh mục đã cảm nhận được nội dung cuốn Lịch. Anh em rất cảm kích trước sự tiếp tay nồng nhiệt của linh mục. Hôm nay Quý cũng đi 4 thùng cho các linh mục ở xa. Xin Chúa và Mẹ chúc phúc cho công việc tông đồ của linh mục.

Kính,

* Ông Hà Tiến Nhất, San Jose

Kính anh Hoàng Quý,

   Tôi đã nhận cuốn lịch anh gởi và đã chuyển cho các anh chị LTCG. Cuốn lịch rất hữu dụng và hữu ích. Nếu có thể anh làm ơn gởi lên cho tôi khoảng 10 cuốn để tôi phổ biến trong anh em quen thuộc. Xin cho biết giá mỗi cuốn. Tôi sẽ thu gom và gởi xuống anh sau.
   Cám ơn anh và cầu chúc anh mọi ơn lành của Chúa và Mẹ.

* Ban Long Thang Tran, Úc Châu

Truoc het toi thay trong bai quang cao lich :
Lịch Phụng vụ & Sổ tay 2007 với chủ đề "Bước Ði Với Chúa Mỗi Ngày" vừa phát hành vào ngày 15-10-07. Ðây là một cuốn lịch đáp ứng nhu cầu mục vụ hiện nay. Cuốn lịch được Giám mục Ða Minh Mai Thanh Lương và Linh mục giáo sư thần học Phaolô Nguyễn Thái Hợp viết bài giới thiệu.
Khong biet co danh sai khong ???... phat hanh vao ngay 15-10-07 thi chac qua nam moi mua .
Chung toi o Uc thi neu muon mua thi gia la bao nhieu va gui chi phi ve dia chi nao ?....
Chan thanh cam on.

Cám ơn bạn Long đã nhắc chúng tôi về một điểm sai trong bản quảng bá Lịch, ngày phát hành vừa qua là ngày 15-10-06, chứ không phải 15-10-07. Cám ơn bạn.
Chúng tôi vừa gửi express đi Úc một gói gồm 4 cuốn Lịch, tiền cước phí là 10 dola. Ðể phổ biến rộng rãi, xin bạn tiếp tay với chúng tôi bằng cách order từng 4 cuốn một vì gửi một cuốn cũng giá 10 dola. Mỗi cuốn giá 10 dola (bao luôn cước phí). Chi phiếu xin đề Di's Printing và gửi về P.O Box 6253 Santa Ana, CA 92706 USA. Bạn có thể gửi order số lượng Lịch qua net cho tôi (hoangquy40@yahoo.com) để tôi gửi đi. Cám ơn bạn.

* Madelena Bich, San Diego

Cô Ngọc Thuý ơi,
Cháu được Lm. Sơn tặng cuốn Lịch PV&ST 2007 và đề cao Cuốn Lịch cần phải được phổ biến rộng rãi. Chúa xin cô gửi cho cháu trước 10 cuốn để cháu tặng bạn bè trong ca đoàn và trong mấy đoàn thể của cháu. Chúa sẽ xin cô gửi tiếp cho cháu thêm 20 cuốn nữa. Cám ơn cô.

* Ái Phạm, San Diego

Bác quý mến,
Cháu được nghe một số bạn đề cập về cuốn Lịch khá hay. Bác gửi cho cháu trước 10 cuốn đi và Chúa Nhật này, mời bác xuống San Diego nói chuyện với tụi cháu về cuốn Lịch và về cầu nguyện. Cám ơn bác. Xin Chúa chúc lành cho bác.

Bac Quy kinh men,
Con cam on Bac rat nhieu da chia se voi chung con nhung bai viet gia tri
va cam on Bac da gui cac so lich “Buoc Di Voi Chua Moi Ngay”.
Con se co gang pho bien toi nhung nguoi than quen cang som cang tot.

Trở về Mục Lục

Mc 12:32.

x. Mc 12:34.

Mc 12:34.

Mt 22:35; Lc 10:25.

Lc 10:29.

2 Cr 6:13.

Commentary on the Catechism of the Catholic Church, ed. Michael J. Walsh, More than Law and Precept : Commandments 1 to 3), Bernhard Haring CSsR, The Liturgical Press : 1994, tr. 362.