|
|
Số 37 Ngày 14-12-2006
Tác giả
Linh Giao
Giáo hoàng Biển Đức
Bửu Đồng
Lệ Hằng
Lời nói đầu
Kính thưa quý độc giả,
Thời gian vừa qua, SMGD đã gửi tới quý độc giả những món ăn tinh thần thể hiện tinh thần trách nhiệm và dấn thân của người giáo dân giữa thời đại hôm nay. Càng ngày chúng tôi càng hướng về những đề tài sống động, cụ thể, tích cực giúp người giáo dân nhập cuộc nhiều hơn vào trần thế theo gương Chúa Giêsu. Chúng tôi cố gắng trung thành với đường hướng của Tin Mừng và Công đồng Vaticanô II. Chính nhờ chủ trương này, SMGD được nhiều độc giả tin tưởng và quý mến.
Cũng trong thời gian qua, chúng tôi đã khai mở Mạng Lưới Chuyển Cầu để mời gọi mọi người cùng nối rộng vòng tay cầu nguyện cho gia đình, cho cộng đoàn, cho Giáo hội, cho quê hương. Mạng lưới càng mở rộng, ơn Chúa càng tuôn đổ xuống cho chúng ta. Ý thức được tầm vóc quan trọng và hữu ích của mạng lưới chuyển cầu, tuần trước SMGD đã mở ra tờ điện báo Mạng Lưới Chuyển Cầu chỉ chuyên biệt đề cập về việc cầu nguyện. Kính mong quý độc giả theo dõi và cùng tham gia với chúng tôi để mạng lưới chuyển cầu trở thành công cụ đem lại hiệu năng tối đa cho gia đình, cho cộng đoàn, cho Giáo hội và cho đất nước chúng ta.
Tuần này chúng tôi tiếp tục giới thiệu cuốn sách của Linh Giao viết về Khơi Nguồn Thần Lực, một cuốn sách trình bầy các cách thức giúp đã giúp tác giả khơi được nguồn thần lực của Chúa trên đời sống của tác giả. Nhờ đó tác giả đã được Chúa chữa lành bệnh ho lao, bệnh ung thư máu và đang vực tác giả đứng dậy làm chứng cho ơn thánh của Chúa qua các hoạt động tông đồ âm thần của tác giả. Bài viết dưới đây là chương sách thứ ba trong phần thứ ba của cuốn sách. Hy vọng trong thời gian không lâu tác giả sẽ hoàn thành cuốn sách chứng từ này. Xin mời độc giả theo dõi.
Khơi nguồn thần lực
Chương C
Ðể sống một đời sống thành công, một đời sống tràn đầy thần lực của Chúa Thánh Linh, tôi đã học cách thức canh tân hay đổi mới não trạng của mình và tiếp tới ở đây tôi phải học hỏi và thử nghiệm canh tân ngôn từ của tôi.
Tiến sĩ Paul Cho kể lại câu chuyện đối đáp giữa ông và bác sĩ giải phẫu thần kinh danh tiếng. Vị bác sĩ giải thích trung tâm ngôn ngữ của bộ óc con người điều khiển tất cả các giây thần kinh khác. Trung tâm ngôn từ có ảnh hưởng quan trọng trên mọi hệ thống thần kinh.
Tiến sĩ Cho trả lời ông đã hiểu biết chuyện này rồi. Và vị bác sĩ ngạc nhiên:
"Thực thế sao? Làm sao ngài đã hiểu biết chuyện đó. Ðây là chuyện khoa học mới công bố kia mà?""Tôi đã học từ Tiến sĩ Giacôbê."
"Tiến sĩ Giacôbê nào vậy?"
"Phải, ngài đã sống cách đây khoảng hai ngàn năm và rất nhiều người quen biết ngài. Ngài đã mô tả tầm quan trọng của cái lưỡi và ngôn từ rất minh bạch: 'Nếu ta tra hàm thiếc vào miệng ngựa để bắt chúng vâng lời, thì ta điều khiển được toàn thân chúng. Anh em cũng hãy nhìn xem tàu bè: dù nó có to lớn, và có bị cuồng phong đẩy mạnh thế nào đi nữa, thì cũng chỉ cần một bánh lái rất nhỏ để điều khiển theo ý của người lái. Cái lưỡi cũng vậy: nó là một bộ phận nhỏ bé của thân thể, mà lại huênh hoang làm được những chuyện to lớn. Cứ xem tia lửa nhỏ bé dường nào, mà làm bốc cháy đám rừng to lớn biết bao! Cái lưỡi cũng là một ngọn lửa, là cả một thế giới của sự ác. Cái lưỡi có một vị trí giữa các bộ phận của thân thể chúng ta, nó làm cho toàn thân bị ô nhiễm, đốt cháy bánh xe cuộc đời, vì chính nó bị lửa hoả ngục đốt cháy. Thật thế, mọi loài thú vật và chim chóc, loài bò sát và cá biển, thì loài người đều có thể chế ngự và đã chế ngự được. Nhưng cái lưỡi thì không ai chế ngự được: nó là một sự dữ không bao giờ ở yên, vì nó chứa đầy nọc độc giết người. Ta dùng lưỡi mà chúc tụng Chúa là Cha chúng ta, ta cũng dùng lưỡi mà nguyền rủa những con người đã được làm ra theo hình ảnh Thiên Chúa. Từ cùng một cái miệng, phát xuất lời chúc tụng và lời nguyền rủa' (Gc 3:3-10). Quả thực cái lưỡi là một bộ phận nhỏ bé trong thân thể, nhưng nó có thể kiềm chế được cả cơ thể."
Thật vậy, khi mang bệnh ung thư trong người, tôi có nhiều dịp tiếp xúc với các đồng bệnh của tôi và tôi hiểu được tâm trạng của họ. Nhiều người khi hay tin mình lâm bệnh và phải vào hóa trị khổ cực, họ mất tinh thần và buông xuôi. Họ luôn bị ám ảnh là mình đang mang án tử hình và chỉ một thời gian nữa là vĩnh viễn ra đi. Và thực sự khi tinh thần họ đổ vỡ, căn bệnh càng tấn công dữ dội hơn và một thời gian sau họ ra đi không trở lại. Trái lại, những ai sống lạc quan hơn và đi tìm các cách thức điều trị, họ vẫn có thể sống còn (survivor) với căn bệnh trầm kha này một thời gian nữa. Gặp những bệnh nhân là các Kitô hữu, tôi vẫn khuyên họ hãy sống với niềm tin, ca ngợi Chúa và tín thác nơi Ngài chữa lành.
Vào ngày tôi được bác sĩ Bích Liên thông báo tôi bị bệnh ung thư máu và chỉ có thể sống được khoảng một năm nữa, tôi đã trấn an vợ tôi ngay là tôi chưa chết đâu, mặc dầu mọi người nhìn thấy thân hình tiều tụy và gầy gò của tôi lúc đó đều lắc đầu thất vọng. Ngay sau khi nghe hung tin đó, tôi đã ngước mắt nhìn lên Chúa và nhìn ra đây là ân huệ của Ngài và lập tức tôi cảm tạ Ngài. Và cứ thế ngày sống của tôi chỉ còn là ca tụng Ngài để Ngài chiến đấu với bệnh tật cho tôi. Khi miệng lưỡi tôi ca ngợi Chúa, chính là tôi tuyên xưng niềm tin vào Ngài và tin tưởng Ngài sẽ chữa lành tôi. Và cứ thế tôi mang vác bệnh tật thoải mái với gương mặt thanh thản an vui.
Khi bất cứ ai nói: "Tôi bất lực và chẳng thể làm được chuyện đó," thực sự câu nói đó tác động lên cả hệ thống thần kinh và người đó buông xuôi chẳng làm được chuyện gì và trở thành bất lực. Hoặc một ai cứ tiếp tục than van, "Tôi đã già cả và mệt mỏi mọi chuyện rồi", hệ thống thần kinh ngôn từ sẽ ảnh hưởng và kiềm chế lên toàn cơ thể và họ trở thành bị lão hóa thực sự. Càng tỏ ra bi quan, yếm thế và chán đời, cuộc sống càng trở thành nặng nề và ngắn ngủi hơn.
Và vị bác sĩ kết luận: "Chúng ta không bao giờ được buông xuôi ham vọng và phải hướng lái cuộc sống. Khi chúng ta nới lỏng ý muốn không muốn sống nữa, chính là lúc chúng ta nói với chính mình rằng chúng ta chẳng còn lý do gì để sống. Khi đó tất cả hệ thống thần kinh của chúng ta bắt đầu đóng dần lại và thực sự chúng ta sẽ đi vào cõi chết sớm hơn."
Lời kết luận của vị bác sĩ đã kiên vững niềm tin của Paul Cho khi ông cho rằng những lời tuyên xưng tích cực qua miệng lưỡi chúng ta trở thành nền tảng cho những thành công trong cuộc sống chúng ta. Như vậy cuộc sống của tôi được hướng lái do những gì tôi nói ra. Nếu tôi cứ nói hoài tôi là con người nghèo khổ, thực tế sẽ đẩy đưa tôi tới chỗ khổ cực hơn vì tôi đã đầu hàng chúng. Và cuối cùng tôi hài lòng với nếp sống lầm than này và đành buông xuôi mọi sự cho dòng nước lũ cuộc đời cuốn trôi.
Trái lại, tôi nhớ lại thời gian trong trại tù cải tạo, lúc đầu tôi chán nản và than vãn, quả thực lúc đó sao tôi thấy cuộc sống nặng nề, mệt mỏi và tuyệt vọng đến thế. Sau mấy tháng chao đảo như thế, niềm tin đã đến với tôi, nhất là thời gian tôi bị biệt giam, lúc nào tôi cũng cảm tạ Chúa vì tất cả đều là ân huệ của Ngài. Từ đó tôi tìm lại được an bình và kiên trì chiến đấu với mọi thách đố. Như vậy phải chăng tâm hồn và thân xác tôi đã được tác động do niềm tin, để cuối cùng tôi đã chiến thắng bệnh ho lao, toàn thắng tù ngục và trở về đoàn tụ với gia đình?
Cách đây hai tháng, Nguyễn Anh Tuấn trao đổi với tôi về nghiệp chướng của dân tộc Việt Nam. Nhìn vào nền văn hóa của chúng ta, đa số các tác phẩm, các bài thơ, bài nhạc, đều nói lên những cảnh ai oán, than van, chán chường, buông xuôi. Những bài thơ, bài văn đầy nhuệ khí, đầy khí tiết hào hùng và quật khởi như của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thái Học... quả thực quá ít ỏi trong văn học của chúng ta. Một nền văn chương, văn học bao trùm bằng toàn bằng những lời than vãn, chán chường, bi quan như thế, làm sao toàn dân còn sức mạnh để quật khởi, để tiến lên ngang hàng với thế giới? Có lẽ chúng ta cứ bị vòng nghiệp chướng, oan nghiệt vây hãm như thế hết đời nọ đến đời kia khiến chúng ta không sao thoát ra khỏi, chính vì chúng ta thiếu quá nhiều những tâm hồn quả cảm, đầy tiết tháo như Nguyễn Trãi, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Công Trứ: "Muốn đại sự phải dìm cho lúng túng. Không công danh thời nát với cỏ cây"... Hay gần đây như hùng khí ca nhạc của Nguyễn Ðức Quang: "Không phải là lúc cứ ngồi đặt vấn đề nữa rồi, phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới..."
Làm thế nào tôi có thể cách mạng lối sống của mình để thụ đắc được thói quen luôn luôn nói những lời tích cực, chủ động, hát hoặc nghe những bài nhạc tràn đầy nhuệ khí, dồi dào sức sống tâm linh? Nếu không tập được thói quen này, cuối cùng tôi sẽ bị những tư tưởng chán chường, thua cuộc, mệt mỏi áp chế cuộc sống, khiến tôi càng lún ngập trong lầy lội giữa chợ đời.
Và như vậy muốn thay đổi bộ mặt cuộc đời, tôi phải thay đổi ngôn từ của tôi, tôi phải canh tân lời nói của mình. Ðây là một cuộc thay đổi nền tảng. Không thể nói đến canh tân, khi ngôn ngữ tôi sử dụng toàn là một loại ngôn ngữ cũ rích, nhàm chán và thua cuộc. Cũng thế, nếu tôi muốn con cái tôi khá hơn, tôi phải biết khích lệ chúng thay vì miệt thị, biết khuyên nhủ chúng nói những lời tích cực hơn là buông thả. Không còn phương cách nào dậy dỗ những đứa con ngỗ nghịch hoặc buông thả bằng trước tiên phải dậy chúng nói một loại "ngôn ngữ mới," ngôn ngữ của Kinh Thánh, của chiều kích thần khí.
Xuyên suốt Kinh Thánh, tôi có thể tìm được những ngôn từ tuyệt vời nhất. Chúa Thánh Linh sẽ nhắc nhở cho tôi những câu Kinh Thánh đem lại hùng khí, vực tôi đứng dậy, đôn đốc tôi đi tới thành công. Làm thế nào hàng ngày tôi phải nuôi dưỡng chính mình bằng Lời Hằng Sống, tôi phải để Kinh Thánh hướng lái suy nghĩ, ngôn từ, hành động và thái độ của tôi? Càng ngày tôi phải tích luỹ vào kho tàng của tôi những Lời Kinh Thánh đem lại sản xuất (productivity), tiến bộ, kiến tạo và chiến thắng. Nhờ vậy, bây giờ tôi hướng đến thành công nhiều hơn trong cuộc sống. Tôi học gương Chúa Giêsu mỗi lần bị quỷ cám dỗ là một lần Ngài dùng Lời Kinh Thánh đánh bại hắn.
Tôi đâu ngờ Chúa Thánh Linh dẫn dắt tôi đi quá tuyệt vời, khi trong thời gian qua Ngài thúc đẩy tôi hoàn thành cuốn Lịch Phụng Vụ và Sổ Tay 2007 với 365 câu Kinh Thánh. Tôi đi theo từng chủ đề như thống hối - những lời hứa của Chúa - niềm tin - niềm hy vọng - tình yêu... Mỗi Lời Kinh Thánh tôi chọn lựa trong cuốn Lịch này là một Lời đánh động tôi. Và tôi có thể quả quyết ở đây, những ai trung thành mỗi ngày đọc một câu Kinh Thánh này, cuộc đời họ sẽ biến đổi. Tôi xin trưng dẫn dưới đây một số câu Kinh Thánh điển hình đề cập về:
* Thống hối (từ trang 74):
- "Nếu dân Ta, dân vốn kêu cầu Danh Ta, mà biết hạ mình xuống khẩn nguyện và tìm kiếm Nhan Ta, từ bỏ những con đường xấu xa mà trở lại, thì Ta, từ trời, Ta sẽ nghe và thứ tha tội lỗi nó và sẽ phục hưng xứ sở của nó." (2Sb 7:14)
- "Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi! Nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." (Kh 3:15-16)
- "Ta, mọi kẻ Ta yêu mến, thì Ta răn bảo dạy dỗ. Vậy hãy nhiệt thành và hối cải ăn năn! Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta." (Kh 3:19-20)
- "Hãy tìm Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên." (Is 55:6)
* Những Lời Hứa (từ trang 88):
- "Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người? Có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh, như tất cả Lề Luật mà hôm nay tôi đưa ra trước mặt anh em?" (Ðnl 4:7-8)
- "Chúa sẽ đặt anh em lên làm dân thánh hiến cho Người, như Người đã thề với anh em, nếu anh em giữ các mệnh lệnh của Chúa, Thiên Chúa của anh em, và nếu anh em đi theo đường lối của Người." (Ðnl 28:9)
- "Chớ gì sách Luật này đừng rời khỏi miệng ngươi; và ngươi sẽ suy gẫm sách Luật đó ngày đêm, để lo thi hành tất cả những gì viết trong đó; vì như thế ngươi sẽ được thịnh đạt trên đường đời, vì như thế ngươi sẽ thành công. Mạnh bạo lên, can đảm lên! Đó chẳng phải là lệnh Ta đã truyền cho ngươi sao? Đừng run khiếp, đừng sợ hãi, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, sẽ ở với ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi tới." (Gs 1:8-9)
- "Chúa phán với ông Mô-sê: 'Ngay cả điều ngươi vừa nói đó, Ta cũng sẽ làm, vì ngươi đã được nghĩa với Ta, và Ta biết đích danh ngươi.'" (Xh 33:17)
* Ðức Tin (từ trang 157):
- "Thầy bảo thật anh em, nếu anh em tin và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được điều Thầy vừa làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có bảo núi này: "Dời chỗ đi, nhào xuống biển!" thì sự việc sẽ xảy ra như thế. Tất cả những gì anh em lấy lòng tin mà xin khi cầu nguyện, thì anh em sẽ được." (Mt 21:21-22)
- "Đức Giê-su nói với ông ta: 'Sao lại nói: nếu Thầy có thể? Mọi sự đều có thể đối với người tin.'" (Mc 9:23)
- "Anh em hãy tin vào Thiên Chúa. Thầy bảo thật anh em: nếu có ai nói với núi này: Dời chỗ đi, nhào xuống biển! mà trong lòng chẳng nghi nan, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì sẽ được như ý. Vì thế, Thầy nói với anh em: tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý." (Mc 11:23-24)
- "Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó." (Ga 1:12-14)
- "Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý." (Ga 15:7).
Như trong trường hợp các câu Kinh Thánh về chủ đề đức tin vừa rồi, sở dĩ từ trước tới nay tôi xin Chúa hoài hết điều nọ đến điều kia, nhưng không được, hoặc chỉ được ít ỏi, vì tôi đứng trong thế giới ba chiều vật chất và chưa bay bổng vào được thế giới chiều thứ tư, tức thế giới của Thần Khí để tin vào Ngài và cầu xin Ngài. Tôi vẫn dùng những ngôn từ thông thường cầu xin Ngài hết ơn nọ đến ơn kia, tương tự như một thần dân kêu nài với vua chúa, như người làm công xin ơn ông chủ, trong lúc tôi có thể sống tín thác như con thơ xin với mẹ hiền, như người tình thỏ thẻ bên người yêu. Niềm tin của tôi phải giống như một cặp đu xiệc dám lao mình tung vào không gian để Chúa ở đầu bên kia nắm lấy tay tôi. Ðiều tôi xin với Chúa, tôi phải tin là tôi đang nắm trong tay, tôi hình dung thấy giấc mơ ấy đang hiển hiện thành thực tại trước mặt. Ngôn ngữ của niềm tin là dám tuyên xưng điều mình xin chắc chắn sẽ được. Ngôn ngữ của niềm tin là ngôn ngữ của người mẹ mang thai cảm nhận được thai nhi đang cựa quậy trong lòng mình và hình dung ra đứa con kháu khỉnh, dễ thương mình sắp bồng bế trên đôi tay.
Càng dấn thân vào Kinh Thánh, Chúa Thánh Linh càng cho tôi khám phá được những chân lý uyên áo, kỳ diệu. Trước ngày Lễ Ngũ Tuần, các môn đệ còn tỏ ra rất nhút nhát, dốt nát, thụ động, nhưng ngay sau khi các ông được Chúa Giêsu ban Thánh Thần tràn đầy (các ông được dìm ngập trong Thánh Thần, được đưa vào thế giới Thần Khí), lập tức các ông trở thành những con người mới đầy quả cảm, thông thái, dấn thân và sản sinh. Ngay sau bài giảng đầu tiên tại Giêrusalem, ông Phêrô đã lôi kéo được ba ngàn người tin theo Chúa Giêsu.
Cách đó chưa bao lâu, khi bị mấy phụ nữ chỉ chỏ ông Phêrô là môn đệ của Chúa Giêsu, ông chối bay chối biến ba lần, thế mà bây giờ ông cùng với ông Gioan bị điệu ra trước Thượng Hội Ðồng và bị đe dọa không được rao giảng về Chúa Giêsu nữa, các ông ngang nhiên đối đáp: "Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra" (Cv 4:20). Ông Phaolô cũng thế, sau khi bị Chúa quất ngã ngựa và mù mắt, ông được ông Khanania đến đặt tay chữa lành và đem ông đi vào thế giới thần khí: "Anh Saolô, Chúa đã sai tôi đến đây, Người là Đức Giê-su, Đấng đã hiện ra với anh trên đường anh tới đây. Người sai tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy Thánh Thần" (Cv 9:17). Từ giây phút định mệnh này, ông Phaolô trở thành vị tông đồ nhiệt thành, năng nổ và quả cảm nhất của Chúa Kitô. Trước vô vàn khổ đau và thách thức của cuộc đời tông đồ, ngài mạnh dạn tuyên bố: "Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?" (Rm 8:35).
Biết đến bao giờ tôi mới có thể tuyên tín như ngài? Với niềm tin vững mạnh như các ngài thuộc thế giới thần khí tuyên tín như thế, tôi mới có thể bước thân theo các ngài "chuyển núi dời non" được. Muốn được như thế, tôi phải chuyển đổi ngôn từ của tôi theo các ngài. Ðó là bí quyết của niềm tin biến thành phép lạ. Ðó là nguyên lý khơi được nguồn thần lực của Thiên Chúa.
Tuyên ngôn của Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI và Thượng Phụ Chính Thống Giáo –Chuyển ngữ: Trần Mỹ Duyệt
Đây là nguyên văn bản Tuyên Ngôn được ký bởi Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI và Thượng Phụ Giáo Chủ Bathôlômêô I của Constantinople sau Thánh Lễ tại Nhà Thờ Chính Tòa Thượng Phụ Thánh Gêôriô ở Phanar, Istanbul, ngày 30 tháng 11 năm 2006.
Tuyên Ngôn chung của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI và Thượng Phụ Giáo Chủ Bathôlômêô I
“Hôm nay là ngày Thiên Chúa đã dựng nên, chúng ta hãy hân hoan và mừng rỡ trong ngày ấy” (Ps 117:24)
Cuộc gặp gỡ huynh đệ đã mang chúng tôi lại với nhau, Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI của Rôma và Thượng Phụ Giáo Chủ Bathôlômêô I, là một công việc của Thiên Chúa, và rõ ràng mang ý nghĩa hồng ân của ngài. Chúng tôi cảm tạ Tác Giả của muôn điều tốt đẹp này, đấng đã cho phép chúng tôi một lần nữa, trong lời kinh nguyện và trong đối thoại, bày tỏ niềm vui mừng mà chúng tôi cảm nhận như những người anh em và làm mới lại giao ước của chúng tôi là tiến tới sự hợp nhất trọn vẹn. Giao ước này đến từ ý Chúa và từ trách nhiệm là những Chủ Chăn trong Giáo Hội Chúa Kitô. Ước mong cuộc gặp gỡ của chúng tôi trở thành dấu chỉ và sự khích lệ để chúng tôi chia sẻ những cảm tình giống nhau và những cử chỉ huynh đệ, hợp tác và hiệp nhất trong đức ái và chân lý. Chúa Thánh Linh sẽ giúp chúng tôi để chuẩn bị một ngày trọng đại cho việc tái lập sự hiệp nhất trọn vẹn, khi nào và cách nào theo ý của Thiên Chúa. Và rồi chúng ta sẽ thực sự có thể vui mừng và hoan lạc.
1. Chúng tôi nhớ lại với lòng biết ơn những cuộc gặp gỡ của những vị tiền nhiệm đáng kính của chúng tôi, được chúc lành bởi Thiên Chúa, đấng đã chỉ cho thế giới nhu cầu thiết yếu của sự hiệp nhất và bước đi trên những con đường vững chắc để đạt tới nó bằng đối thoại, cầu nguyện, và cuộc sống thường ngày của Giáo Hội. Đức Phaolô VI và Thượng Phụ Giáo Chủ Athenagoras I đã cùng nhau tới Giêrusalem như những khách hành hương tại đúng nơi mà ở đó Chúa Giêsu Kitô đã chết và đã sống lại cho phần rỗi của thế giới, và các ngài cũng đã gặp gỡ nhau cũng tại đây ở Phanar và ở Rôma. Các ngài đã để lại cho chúng ta một tuyên cáo chung cho đến nay vẫn còn giữ nguyên những giá trị; nó nhấn mạnh rằng một cuộc đối thoại thật sự trong đức ái phải đón nhận và phát sinh ra những liên hệ giữa các cá nhân và các Giáo Hội, nó “phải được bén rễ trong sự trung thành tuyệt đối với Đức Giêsu Kitô và niềm trọng kính hỗ tương những truyền thống của nhau” (Tomos Agapis,” 195). Chúng ta cũng không quên những cuộc thăm viếng chung của Đức Giáo Hòang Gioan Phaolô II và Đức Dimitrios I. Chính trong cuộc viếng thăm nối kết lần đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã thiết lập và công bố Ủy Ban Hỗn Hợp cho việc đối thoại thần học giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và Giáo Hội Chính Thống. Điều này đã đem Giáo Hội của chúng ta lại với nhau trong một mục tiêu được đề ra nhằm tái thiết lập sự hiệp nhất trọn vẹn.
Bao lâu những quan hệ giữa Giáo Hội Rôma và Giáo Hội ở Constantinople còn được nhắc đến, chúng tôi không thể quên để nhắc lại hành động tôn giáo trang trọng tác dụng trí nhớ về những lần rút phép thông công xa xưa mà trải qua hằng thế kỷ vẫn đem lại một ảnh hưởng tiêu cực cho cả hai Giáo Hội chúng ta. Chúng tôi đã rút tỉa những kết quả tích cực từ việc làm này để đem vào tiến trình của sự hợp nhất toàn vẹn, qua đó Ủy Ban Hỗn Hợp được kêu gọi để làm một đóng góp quan trọng. Chúng tôi khuyến khích những tín hữu của chúng tôi tham dự vào tiến trình này bằng lời cầu nguyện và bằng những cử chỉ ý nghĩa.
2. Trong thời gian những cuộc họp bàn của Ủy Ban Hỗn Hợp về đối thoại thần học, mà gần đây được tổ chức tại Belgrade nhờ việc tiếp đón nhiệt tình của Giáo Hội Chính Thống Serbian, chúng tôi đã bày tỏ sự vui mừng lớn lao về việc tiếp nối đối thoại thần học. Cuộc đối thoại này đã bị gián đoạn một số năm vì những khó khăn khác nhau, nhưng nay thì Ủy Ban đã làm sống lại trong tinh thần huynh đệ và hợp tác. Trong việc nghiên cứu chủ đề “Hòa Giải và Thẩm Quyền trong Giáo Hội” cấp địa phương, cấp miền và toàn cầu, Ủy Ban đã nghiên cứu về những thành quả giáo luật và cấu trúc của căn bản bí tích của Giáo Hội. Điều này sẽ cho phép chúng tôi công bố những câu hỏi căn bản vẫn chưa được giải quyết. Chúng tôi đã cam kết tiếp tục cung cấp sự hỗ trợ, như trong quá khứ, để công việc được giao phó cho Ủy Ban, và chúng tôi sánh bước với các thành viên của ủy ban bằng lời cầu nguyện của chúng tôi.
3. Là những Chủ Chăn, trên hết chúng tôi đã suy nghĩ về sứ vụ công bố Tin Mừng trong thế giới hôm nay. Sứ vụ này, “Hãy đi, và thâu nhận môn đệ khắp thế gian” (Mt 28:19), ngày nay trở nên cần thiết và cấp bách hơn bao giờ, ngay cả tại những quốc gia với truyền thống Kitô Giáo. Ngoài ra, chúng ta không thể coi nhẹ sự gia tăng tục hóa, chủ thuyết cho rằng mọi hiểu biết về đạo đức đều tùy thuộc vào hoàn cảnh và cá nhân hoặc nền văn hóa (relativism), và ngay cả chủ thuyết chối bỏ sự hiện hữu của bất cứ căn bản đối với sự hiểu biết và chân lý (nihilism), đặc biệt tại các quốc gia Tây Phương. Tất cả những điều này kêu gọi sự đổi mới và sư công bố mãnh liệt của Tin Mừng, thích nghi đối với những nền văn hóa của thời đại chúng ta. Những truyền thống của chúng ta giới thiệu cho chúng ta một gia sản mà nó cần được tiếp tục chia sẻ, đề xướng, và diễn dịch một cách mới mẻ. Đó là tại sao chúng tôi phải làm vững mạnh sự hợp tác của chúng ta và chứng từ chung của chúng ta trước thế giới.
4. Chúng tôi đã thấy một cách lạc quan tiến trình đã hướng dẫn việc thành hình của Hiệp Nhất Âu Châu. Những quốc gia đã tham dự vào dự án vỹ đại này sẽ không quên quan tâm đến mọi lãnh vực đang ảnh hưởng những quyền lợi bất thương nhượng của con người, một cách đặc biệt quyền tự do tôn giáo, một chứng từ và bảo đảm của việc tôn trọng mọi quyền tự do khác. Trong từng bước tiến đến sự hiệp nhất, những người thiểu số cần được bảo vệ, với những truyền thống văn hóa và những đặc tính riêng rẽ của tôn giáo họ.
Tại Âu Châu, trong khi duy trì việc mở cửa cho các tôn giáo và cho những đóng góp văn hóa, chúng ta phải hợp nhất những nỗ lực của chúng ta để bảo vệ những nguồn gốc Kitô Giáo, những truyền thống và những giá trị nhằm bảo đảm việc tôn trọng đối với lịch sử, và như vậy để đóng góp cho tương lai văn hóa Âu Châu và cho phẩm chất những tương quan nhân loại ở mỗi cấp độ.
Trong văn bản này, làm sao chúng tôi đã có thể quên nhớ lại những bằng chứng rất xa xưa và gia sản Kitô Giáo vẻ vang của phần đất mà ở đó cuộc gặp gỡ chúng tôi đang diễn ra, bắt đầu với những gì mà sách Tông Đồ Công Vụ kể cho chúng tôi liên quan đến dung mạo của Thánh Phaolô, Tông Đồ của Dân Ngoại? Tại phần đất này, sứ điệp Tin Mừng và truyền thống văn hóa cổ xưa đã gặp nhau. Sự nối kết này, đã đóng góp rất nhiều cho gia sản Kitô Giáo mà chúng ta chia sẻ, lưu giữ hiện nay, và sẽ mang lại nhiều hoa trái trong tương lai cho việc phúc âm hóa và cho sự hợp nhất của chúng ta.
5. Mối quan tâm của chúng tôi vươn tới những phần đất của thế giới hôm nay ở đó những Kitô hữu sống và với những khó khăn họ đang đối diện, một cách đặc biệt nghèo khó, chiến tranh và khủng bố, nhưng một cách giống nhau giữa những cách thức khác nhau trong việc lợi dụng những người nghèo khó, di dân, phụ nữ và trẻ em. Chúng tôi được kêu gọi để làm việc với nhau hầu đề cao sự tôn trọng đối với những quyền lợi của mỗi cá nhân, được tạo thành theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, và để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa. Những truyền thống giáo lý và đạo đức của chúng tôi có thể cống hiến một nền tảng vững chắc cho việc tiến tới hiệp nhất trong giáo huấn và hành động. Trên tất cả, chúng tôi muốn xác quyết rằng việc giết những người vô tội nhân danh Thiên Chúa là một tội phạm chống lại ngài và chống lại phẩm giá con người. Chúng ta tất cả phải cam kết với nhau để canh tân phục vụ nhân loại và bảo vệ mạng sống con người, từng mỗi nhân mạng.Chúng tôi mang trong lòng một cách sâu xa nguyên nhân hòa bình của Trung Đông, nơi đó Chúa chúng ta đã sống, đã đau khổ, đã chết và đã sống lại, và là nơi một số đông anh chị em Kitô Giáo chúng ta đã sống trả qua hàng thế kỷ. Chúng tôi tha thiết hy vọng rằng nền hòa bình sẽ được tái thiết lập ở phần đất này, rằng sự sống chung tôn trọng nhau sẽ được bền chặt giữa những dân tộc sống ở đó, giữa các Giáo Hội và giữa những tôn giáo khác nhau được tìm thấy tại nơi này. Để kết thúc, chúng tôi khuyến khích việc thành lập những mối tương quan chặt chẽ hơn giữa các Kitô hữu, và một cuộc đối thoại giữa các tôn giáo thẳng thắn và tôn trọng, với một tầm nhìn để chống lại bất cứ hình thức bạo động và kỳ thị nào.
6. Hiện nay, trong việc đương đầu với những đe dọa lớn lao đối với môi trường thiên nhiên, chúng tôi muốn bày tỏ sự quan tâm của chúng tôi về những hậu quả tiêu cực đối với nhân loại và đối với toàn bộ công trình sáng tạo mà nó có thể gây ra hậu quả từ sự phát triển kinh tế và kỹ thuật mà không hiểu biết về những giới hạn của nó. Như những nhà lãnh đạo tôn giáo, chúng tôi nhìn nhận nó như một trong những trách nhiệm của chúng tôi để khích lệ và nâng đỡ mọi nỗ lực nhằm bảo vệ công trình sáng tạo của Thiên Chúa, và để truyền lại cho những thế hệ tương lai một thế giới mà trong đó họ có thể sinh sống được.
7. Sau cùng, tâm trí của chúng tôi hướng về toàn thể anh chị em, những tín hữu của hai Giáo Hội trên khắp thế giới. Các giám mục, linh mục, phó tế, nam nữ tu sỹ, những tín hữu nam nữ đã dấn thân trong việc phục vụ giáo hội, và tất cả những ai đã được thanh tẩy. Trong Đức Kitô chúng tôi chào thăm các Kitô hữu khác, xác tín với họ bằng lời cầu nguyện của chúng tôi và sự cởi mở của chúng tôi đối với công cuộc đối thoại và hợp tác. Bằng những lời của Thánh Tông Đồ Dân Ngoại, chúng tôi chào thăm tất cả mọi anh chị em: “Ân sủng và bình an của Thiên Chúa Cha chúng ta và Chúa Giêsu Kitô ở cùng anh chị em” (2 Cor. 1:2).
Tại Phanar, ngày 30 tháng 11 năm 2006
Bênêđíctô XVI Bathôlômêô INguyễn Bửu Đồng
Một Ki-Tô hữu đến thăm một vị Thiền Sư và nói: “Xin Thầy cho phép tôi đọc Thầy nghe ‘Bài Giảng Trên Núi’.” Thiền Sư đáp: “Tôi rất thích nghe.” Người Ki-Tô hữu đọc một câu rồi ngước mắt lên nhìn . Thiền Sư mỉm cười nói: “Đấng đã phán những lời đó chắc chắn phải là một vị Giác Ngộ.”
Người Ki-Tô hữu cảm thấy khoái trá. Ông tiếp tục đọc. Thiền Sư xin ông ngừng lại rồi nói: “Những lời nói đó phải phát xuất từ Đấng Cứu Thế của nhân loại.” Người Ki-Tô hữu cảm thấy thích thú. Ông tiếp tục đọc cho đến hết. Lúc bấy giờ Thiền Sư tuyên bố: “Người đã rao giảng như thế phải là Thiên Chúa.” Nỗi vui mừng của người Ki-Tô hữu thật vô bờ bến. Ông ra về, cương quyết sẽ trở lại một ngày khác để thuyết phục Thiền Sư trở thành Ki-Tô hữu.
Trên đường trở về nhà, ông gặp Chúa Giê-su đứng bên vệ đường. Ông đã thưa với Chúa một cách khoái trá: “Lạy Chúa, con đã làm cho người đó xưng ra Chúa là Thiên Chúa!” Chúa Giê-su mỉm cười và nói: “Con đã làm gì hay đâu, ngoại trừ việc con thổi phồng cái tôi Ki-Tô hữu của con mà thôi!”
Anthony de Mello
(Thiền Sư và KiTô hữu, trong “Như Tiếng Chim Ca,”
bản dịch của Đỗ Tân Hưng và Trần Duy Nhiên, 2001, tr. 107)
Trong câu chuyện trên, người Kitô hữu đi làm công tác tông đồ, loan báo Tin Mừng. Anh đi viếng một vị thiền sư. Anh chọn một bài giảng thật hay của Yê-su, Bài Giảng Trên Núi, để đọc cho thiền sư nghe. Mỗi lần đọc xong một câu, một đoạn, anh lại ngước nhìn lên, chờ đợi phản ứng. Những cái mỉm cười, gật đầu hay những lời khen tặng của thiền sư là động lực khiến anh hăng say tiếp tục. Anh nghĩ mình đã thành công trong việc “làm sáng danh Chúa.”Điều lý thú và cũng rất ngạc nhiên là vị thiền sư này lại hiểu đạo Chúa hơn anh và hiểu anh hơn chính cả anh nữa. Anh như cậu nhỏ học trò và vị thiền sư như ông thầy già khôn ngoan, kinh nghiệm, biết cậu học trò muốn gì. Anh mượn lời Chúa để thỏa mãn cái tôi của mình, cái tôi Kitô hữu. Và vị thiền sư hiểu ý, đã giúp anh toại nguyện.
Rất ít người muốn hy sinh, dấn thân cho công việc của Thiên Chúa nếu những công việc này không tạo cho họ sự khoái cảm cá nhân. Khi cho đi , chúng ta vẫn còn muốn nhận lại một cái gì, một chút gì dù là vật chất hay tinh thần. Khi hiến dâng cho Thiên Chúa, chúng ta vẫn còn so đo, tính toán, không cho với tấm lòng chân thật của người đàn bà góa, trọn vẹn hy sinh. Nếu những đóng góp, dâng cúng cho giáo hội không mang lại chút lợi lộc trần thế như bảng vàng khắc tên, bằng khen thưởng, chứng nhận ghi ơn để trưng bày, hay được trừ thuế cuối năm, có lẽ những số tiền quyên góp được sẽ giảm đi rất nhiều. Đây có thể là một dấu hiệu suy thoái của giáo hội, một thất bại của đời sống Kitô hữu, nếu phải dùng danh lợi của thế gian làm mồi nhử cho công tác loan báo Tin Mừng.
Chúa Yê-su đã dạy: “Khi làm việc lành phúc đức, chớ nên phô trương. Khi thực hiện điều bác ái, chớ nên khua chiêng đánh trống. Khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm” (Mt 6:1-3).
Nếu chỉ nghe lời Chúa qua người rao giảng mà một người có thể được cảm hóa thì Thiên Chúa đã không sai Con Một của mình xuống thế gian “sống để làm gương.”
Gương mẫu của một đời sống tốt lành, nhân đức mới thực sự đem Tin Mừng đến mọi người, mới khiến người khác nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong chúng ta. Mẹ Têrêsa thành Calcutta chỉ bằng những lời nói đơn sơ mà cảm hóa được nhiều người vì bản thân, đời sống của mẹ chính là Tin Mừng.
Tôi nhớ có đọc một câu chuyện về thánh Phan-xi-cô thành Assissi và các thầy dòng của ngài đi truyền rao lời Chúa ở một làng quê, cách tu viện hơn hai giờ đi bộ. Các thầy dậy thật sớm, đến nơi khi trời vừa rạng đông, và bắt tay ngay vào các sinh hoạt của dân làng, hòa nhập với cuộc sống hằng ngày của họ. Người thì giúp các cụ già dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc vườn rau, gánh nước, nấu ăn, người thì giúp nông dân săn sóc gia cầm, xây lúa, giã gạo, người thì chơi đùa, tập hát, dạy dỗ trẻ em..., mỗi người một việc. Gần đến hoàng hôn, Phan-xi-cô cho tập họp các thầy lại để chuẩn bị ra về. Một thầy ngạc nhiên hỏi: Chúng ta đến đây chẳng phải để rao giảng lời Chúa sao? Khi nào chúng ta sẽ làm điều đó? Thánh Phan-xi-cô quay sang người tu sĩ anh em mình và nói: Nếu tất cả những gì chúng ta làm hôm nay không giúp dân làng nhận ra Chúa thì dẫu có lấy Kinh Thánh ra đọc rồi giảng cho họ nghe cũng không làm gì khác hơn được. Rồi họ lên đường trở về tu viện.
Như ĐGH Phao-lô VI đã nói, con người thời đại ngày nay không cần những bậc thầy giảng dạy mà cần những chứng nhân. Nếu họ có tin những ông thầy chẳng qua là vì những người này cũng chính là chứng nhân của Tin Mừng.
Tôi thấy trong tôi âm thầm cưu mang hình ảnh của người Kitô hữu trong câu chuyện của linh mục Anthony de Mello.
Danh Chúa hay tiếng ta?Lệ Hằng
Trong đời sống, mỗi người chúng ta có vô vàn cơ hội để ghi ơn và cám ơn. Nhưng qua thời gian năm tháng, với tuổi đời chồng chất và kinh nghiệm trải qua, dường như chúng ta chỉ còn nhớ, chú ý đến những điều thiện lành trọng đại lãnh nhận từ Thượng Đế hay tha nhân mà quên đi những sự việc tầm thường, nhỏ nhặt nhưng thật sự giúp cho cuộc đời mỗi cá nhân có ý nghĩa, vui tươi.
Trẻ em, trái lại, hồn nhiên cám ơn, ghi ơn bất cứ vật gì hay người nào giúp cho các em vui sống, dù trong chốc lát, từ Ông Trời, cha mẹ, anh chị em, đến con chó, con mèo chim bay, ngôi nhà, ngọn đèn, đội thể thao…Trong tinh thần của ngày lễ Tạ Ơn, Thanksgiving, năm nay, tờ báo St. Paul Pioneer Press ở Minnesota đã hỏi các em bé 6 tuổi, đang học lớp 1, biết ơn/cám ơn điều gì nhất. Những câu trả lời của các em đã hé lộ ý nghĩ chưa vẩn đục về cuộc đời, làm người đọc ngạc nhiên, vui cười và xúc động.
Chúng ta hãy quay về với tuổi thơ, sống hồn nhiên trong giây lát qua tâm tình chia sẻ của các em.
• Em cám ơn ngôi nhà em ở. Không có nhà thì trời mưa ướt hết
• Em cám ơn những mống cầu nhiều màu sắc sau cơn mưa, dù em không thích mưa
• Em cám ơn mặt trời, vì nó luôn luôn chiếu sáng thế giới.
• Em cám ơn những cây bút tô màu. Em dùng chúng để vẽ những bức tranh về người thật đẹp, làm cho họ vui thích.
• Em cám ơn cây đèn ở đầu giường, nhờ nó mà mỗi đêm em có thể đọc sách. Không có ánh đèn thì ban đêm sẽ buồn chán lắm.
• Em cám ơn bầu trời, nhờ đó mà chim, mây và các vì sao bay lượn, nổi trôi.
• Em cám ơn con chó Snowy và gia đình. Snowy làm cho gia đình em vui vẻ, hạnh phúc.
• Em cám ơn các con ngựa. Không có ngựa thì em không thể học cỡi ngựa cũng như không chăm sóc chúng được.
• Em cám ơn các con thú vì chúng hiền lành. Em thích nhất là những con dơi.
• Em cám ơn các con nai, chúng cho em thịt ăn.
• Em cám ơn mẹ em vì mẹ hiền lành, dễ thương. Mẹ giúp em làm bài, viết thiệp, làm thơ đọc cho em nghe mỗi ngày.
• Em cám ơn ba mẹ. Ba dạy em học, viết và làm toán. Mẹ nấu thức ăn ngon và sơn móng tay cho em.
• Em cám ơn ba mẹ vì em có ba anh chị và hai đứa em gái.
• Em cám ơn em bé của em. Nó khiến em cười khi cố phì phèo làm trời mưa. Nó cũng chia sẻ với em kẹo bánh và đồ chơi.
• Em cám ơn anh của em vì anh là người bạn thân nhất của em. Nhiều người không có anh để chơi đùa. Còn anh của em thì vui chơi với em.
• Em cám ơn anh em đã hết bịnh. Anh về nhà, không nằm nhà thương nữa. Bây giờ em có bạn để chơi đùa rồi.
• Em cám ơn ông bà đã cho em chạy chơi tự do ngoài sân cỏ, cho em cỡi ngựa. Những gì em muốn ông bà đều cho hết.
• Em cám ơn dì Tâm. Dì bịnh ung thư vú. Em thương dì vì dì thương em. Có khi em gọi dì là “mẹ” nữa.
• Em cám ơn Hùng, người bạn thân, vì chúng em là bạn từ lúc còn bé thơ.
• Em cám ơn ông Abe Lincoln vì ông cho chúng em những đồng xu pennies.
• Em cám ơn các chiến sĩ vì họ bảo vệ quê hương.
• Em cám ơn mục sư Martin Luther King vì ông đã nói, “Tôi muốn có sự thay đổi.”
• Em cám ơn nước Hoa Kỳ cho em có nhiều ngày lễ nghỉ.
• Em cám ơn những người làm nghề loan tin. Nhờ họ mà em biết những chuyện xảy ra trên thế giới.
• Em cám ơn cô giáo X. Cô là cô giáo tốt. Em luôn tin cô. Cô giúp cho em nhận ra em là người tốt và cảm thấy bình an.
• Em cám ơn đội banh tuyết Minnesota Wild. Mỗi khi cầu thủ ghi bàn thắng, khán giả la mừng, nhảy lên. Điều này làm cho em vui thích.
• Em cám ơn vì… em còn sống. Em có thể làm được nhiều việc. Em thích ăn, thích xem thú vật. Em muốn sống đến 48 tuổi lận!
• Em cám ơn… năm nay vì đây là lần đầu tiên em ăn mừng lễ Giáng Sinh với bà cố. Bà cố đã già 89 tuổi rồi.
• Em cám ơn vì… em được sanh ra và… còn sống để thương yêu ba mẹ và gia đình.
• Em cám ơn máy chụp hình. Em dùng nó để chụp ảnh những nơi em đi qua và khi xem lại em rất thích.
• Em cám ơn ông già Noel vì ông cho quà những đứa trẻ dễ thương.
• Em cám ơn Thiên Chúa vì Thiên Chúa là thần linh của trái đất. Chúa là Chúa. Em yêu Chúa.
• Em cám ơn Trời vì ông là một công dân tốt.
• Em cám ơn Chúa Jesus vì Người đã chết trên thập giá.____________________________________________________________