Các Thánh Tháng 3
Thánh Nữ Perpetua và Fêlicitê (+203)
Câu chuyện hai nữ thánh Perpetua và Felicitê với các bạn tử đạo năm 203 tại Carthage (Bắc Phi) là một câu truyện sống động trong tâm khảm mọi tín hữu, đến nỗi thánh Augustin đã nói lên: “Chúng ta thừa hưởng công lao của họ.”
Perpetua (Vibia Perpetua) là bà mẹ trẻ mới 22 tuổi thuộc một gia đình quí phái có một đứa con trai đang bú. Felicitê cũng có chồng những cấp nô lệ và đang mang thai chờ ngày sinh. Họ bị bắt sau khi có sắc chỉ cấm đạo với ba người đàn ông khác, bị giam trong một nhà tư ở đây tất cả được rửa tội và bị tống giam vào ngục. Ngày ra tòa, thân phụ của Perpetua tìm cách lung lạc đức tin con bằng cách kêu gọi đến tình thương cháu. Nhưng Perpetua không nao núng. Tất cả bị lên án làm mồi cho thú dữ. Felicitê sợ không được phúc tử đạo, nên cùng các bạn cầu xin cho được sinh sớm và sinh hạ một con gái. Trong khi lâm bồn, bà than van vì đau đớn. Người lính gác nói: “Chưa gì mà đã vậy thì khi ra với thú dữ sẽ làm sao?” Felicitê trả lời: “Bây giờ tôi đau, nhưng rồi có đấng khác trong tôi sẽ chịu thay tôi, vì tôi đã chịu đau khổ và Ngài.”
Chiều trước khi chịu chết, Perpetua và các bạn dự một bữa ăn chia sẽ bác ái. Hai nữ thánh phải một con bò rừng tung lên trời rồi kéo lê dưới đất. Perpetua bị thương, ngồi dậy sửa lại xiêm áo bị con bò xé rách, sữa lại mái tóc, rồi chạy đến giúp Felicitê đang nằm dưới đất. Dân chúng đòi sử ngay và họ đã bị trảm quyết từng người. Perpetua bị xử sau cùng. Xác thánh được chôn trong hầm mộ thánh đường. Các cuộc đào bới năm 1907 đã tìm thấy tấm gạch lát trên mộ các tử đạo.
Lễ nhớ: 7 tháng 3.Thánh Gioan Thiên Chúa (1495-1550)
Sinh hạ tại Bồ Đào Nha, Gioan Gaudad khởi đầu cuộc đời bằng một cuộc sống thật phiêu lưu. Khi còn nhỏ, bị một người lạ bắt cóc, rồi bị bỏ rơi, đi làm đủ thứ nghề: chăn chiên, lính chiến, lái buôn và được ơn trở lại lúc lên 42 tuổi. Sau khi nghe một bài giảng của thánh Gioan Thánh Giá, anh tỏ ra thống hối cách dị thường và được coi là một người điên, bị nhốt để điều trị theo cách thời ấy. Người liền quyết định hiến thân giúp người đau yếu bệnh tật. Sau khi ra khỏi bệnh viện, người lập tại Grenade năm 1537 một bệnh viện riêng đầu tiên của Người theo những phương cách rất táo bạo đối với thời ấy. Nhiều đồ đệ đến cộng tác, người cùng họ đặt nền móng lập nên một tu hội giúp người nghèo đau yếu. Đó là các tu sĩ nhà thương, gọi là các tu sĩ Thánh Gioan Thiên Chúa. Người được tôn phong Hiển Thánh năm 1690, và được Đức Lêô XIII (1886) đặt làm quan thầy bệnh nhân, các bệnh viện, và Đức Piô XI tôn làm quan thầy (1930) các y tá nam nữ.
Lễ nhớ: 8 tháng 3.Thánh Clement Marie Hofbauer (1751-1820)
Một nhân vật lỗi lạc vào thời Hội nghị Vienne (1814-1815). Clement Hofbauer sinh ở Moravie ngày 26-12-1751, cha người Đức, mẹ gốc Tiệp. Vừa làm nghề phụ lò bánh, vừa học để làm linh mục Dòng Chúa Cứu Thế và được thụ phong linh mục. Trở về Vienne định làm mục vụ ở dó, nhưng Vua Joseph II lại đóng cửa các dòng tu. Người qua Varsovie Balan, trông coi ngôi nhà thờ của người Đức ở Saint-Bannon, biến nơi đây thành một trung tâm đạo đức lớn lao. Người là vị tu sĩ đã đem Dòng Chúa Cứu Thế lan rộng qua các nước Âu Châu, ảnh hưởng lớn trên quần chúng. Năm 1808, quân Pháp của Nã Phá Luân chiếm Balan bắt người giam 4 tuần, vì ảnh hưởng của người quá lớn và trục xuất. Thánh nhân qua Vienne (Áo) chống lại thuyết Josephisme muốn cai quản Giáo Hội, gây ảnh hưởng lớn nơi các nhà học thức và, qua các tuần giảng đại phúc, nơi quần chúng.
Dòng Chúa Cứu Thế coi người là vị sáng lập thứ hai, sau thánh Anphongsô. Người qua đời ngày 15-3-1820.
Lễ nhớ: 15 tháng 3.Thánh Patriciô Ý Nhĩ Lan (+492)
Chúng ta có một tài liệu lịch sử chân chính mang tên là bản thú nhận của thánh Patriciô, để lại chân dung sống động của đấng thánh.
Người sinh hạ tại Anh Quốc bây giờ, cha là Calpurnius, vị thâu thuế của đế quốc, người sống với cha mẹ tại xứ de Galles. Đây là sào huyệt của nhiều tên đầu trộm đuôi cướp. Khi lên 16 tuổi Patriciô và một trăm thanh niên khác bị bắt cóc, đưa về Ý Nhĩ Lan và bán làm nô lệ. Họ cạo đầu cho mặc bộ áo da cừu của người nô lệ. Thời gian chăn cừu là thời gian quyết định. Patriciô sống trên sườn núi, bắt đầu cầu nguyện. Sáu năm qua, Người sống cầu nguyện và hai lần như có tiếng bảo hãy trốn về quê cũ và con thuyền vượt biển đã dọn sẵn. Thật vậy, cuộc hải hành đưa về quê, nhưng ít lâu sau, Người qua xứ Gaule học hành chuẩn bị làm linh mục. Được phong Giám mục, người trở về Ý Nhĩ Lan, kế vị thánh Palladius vừa qua đời.
Patriciô phải trải qua hai cuộc đại hội giáo sĩ mới được chấp nhận. Người ghi lại một cơn thử thách lớn do một người bạn thân gây nên. Người viết: “Lòng tôi đau đớn vì một người bạn thân nhất…một người mà tôi hiến cả tâm hồn…thế mà họ đã làm cho tôi đầy xấu hổ trước mặt mọi người.”
Người lãnh nhận tất cả. “Tôi Patriciô một người tội lỗi, một người ngu dốt nhất…một hòn đá dưới đống bùn…nhưng Chúa đã lượm nên và đặt trên vách tường!” Con người ấy, Chúa dùng để làm cho Ý Nhĩ Lan trở lại toàn tòng. “Lạy Chúa, xin đừng để con xa cách quốc dân này mà con đi đến tận cùng trái đất để đem về cho Chúa.”
Ngày nay, cả toàn dân Ý Nhĩ Lan qua các thời đại, nhớ công ơn Người. Ngày 17 tháng 3 được coi là ngày quốc lễ. Ý Nhĩ Lan qua các vị thừa sai, các dòng tu đã đem tin mừng cho nhiều nước khác.
Lễ nhớ: 17 tháng 3.
Có 5 vị Thánh và Chơn phước mang tên Patriciô.Thánh Cả Giuse (thế kỷ I)
Chúng ta không biết nhiều về thánh Giuse. Những gì ta biết điều do những dữ kiện vắn vỏi Phúc âm Matheô và Luca kể lại. Matheo cho biết về gia phả của Giuse, cũng như gia phả của Luca dẫn đến lịch sử gia đình của Đức Mẹ. Nhưng cả hai thánh sử không cho biết nhiều về Giuse ngoại trừ người thuộc miêu duệ Đavit và nghèo.
Gia đình Giuse trước đây ở Bêlem xứ Giuđêa (Lc 2,4) nhưng người đến lập nghiệp tại Nagiaret trong nghề “xây cất”. Danh từ Matheô dùng (13,55) có nghĩa rộng hơn danh từ phiên dịch thường dùng: thợ mộc. Có lẽ người kết bạn với Đức Mẹ lúc 20 tuổi và Đức Mẹ khoảng 15 tuổi. Matheô cho biết việc Đức Mẹ cho Giuse rõ về việc thai sinh nhiệm lạ, việc các nhà đạo sĩ viếng thăm, việc trốn sang Ai Cập, và việc trở về Nagiaret. Luca thêm vài chi tiết về việc Giáng Sinh, cắt bì, dâng vào đền thờ và việc lạc mất ở Giêrusalem lúc Chúa lên 12 tuổi.
Sau đó, Giuse không được Phúc âm nhắc đến nữa và người ta đoán rằng Giuse đã qua đời trước khi Chúa Giêsu ra giảng dạy.
Để thỏa mãn sự tò mò của giáo dân, các Phúc âm ngụy thư bày ra nhiều chi tiết như việc Giuse góa vợ và có nhiều con với bà ấy, cách Giuse đi hỏi Đức Mẹ và được như ý, trong khi các ứng viên khác bị tuột dù. Tuy nhiên, các sách ấy cũng đem lại chứng tích về sự trong sạch, về cái chết của thánh nhân đưọc Chúa và Đức Mẹ giúp đỡ và than khóc. Nhiều chi tiết đầy thi vị, nhưng cũng đầy tiểu thuyết hóa, biến thành truyện truyền kỳ. Như câu chuyện cuộc hôn nhân thứ nhất của Giuse được bày ra là để giải thích dữ kiện “Các anh em và chị em” của Chúa Giêsu mà Phúc âm Matheô đến. (XII, 46; XIII, 55)…và cả việc Giuse thọ đến 110 tuổi, giống như Giuse tổ phụ Cựu ước (Jos,24,29)
Như vậy, chỉ có Phúc âm là tài liệu duy nhất và giá trị về cuộc đời thánh cả Giuse, tuy vắn vỏi nhưng đã nói lên cá tính của Giuse, một con người đức hậu, nhẫn nại, đầy lòng tin, một dụng cụ đáng giá của Thiên Chúa.
Giuse là gương mẫu cho mọi tín hữu, nhất là các gia trưởng. Tuy người là một dưỡng phụ của Chúa, bạn thanh sạch của Đức Mẹ, nhưng người cũng tham dự vào mầu nhiệm Nhập Thể. Và lại, mầu nhiệm ấy còn bao trùm cả nhiệm thể của Chúa Kitô thì Giuse còn tiếp tục sứ mạng bão vệ Giáo Hội, nhiệm tích của Chúa.
Sự im lặng của Phúc âm có vẽ làm lu mờ địa vị thật sự của Giuse. Nhưng từ thế kỷ thứ tư, lòng sùng kình Thánh Giuse khởi đầu tử Đông Phương, để lan dần qua Tây Phương và trong cả Giáo hội. Năm 1870, đức Piô IX công bố thánh cả Giuse là quan thầy Giáo hội hoàn vũ. Ngày 19 tháng 3 là lễ trọng. Năm 1955, đức Piô XII lại lập lễ thánh Giuse thợ đặt vào ngày 1 tháng 5, ngày lễ lao động quốc tế.
Lễ kính: 19 tháng 3 và 1 tháng 5.Thánh Tôma Tông Đồ (Thế Kỷ I)
Thánh Tôma tông đồ được mô tả như một con người sáng suốt, thực tế quả cảm, theo Phúc âm của Gioan. Ông có biệt danh là Didymô nghĩa là song sanh. Tôma đoán chắc những việc lớn lao sẽ diễn ra ở Giêrusalem khi các môn đệ cùng Chúa về Giêrusalem dịp lễ Vượt Qua. “Chúng ta hãy cùng đi để chết với Người.” (Gio 11,6). Sau khi Chúa sống lại, trong lúc ông đi vắng về, nghe kể lại, ông vẫn một mực không tin. “Nếu tôi không nhìn thấy lỗ đinh nơi tay Người, nếu tôi không để tay tôi vào cạnh sườn Người thì tôi không tin.” (Gio 20,24-29). Tám ngày sau, Chúa Giêsu lại hiện ra với đông đủ các môn đệ, Chúa xin ông sờ đụng các vết thương của Ngài. Tôma không biết làm gì hơn là phủ phục và tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa tôi!” Một dịp để Chúa cho Tôma và qua Tôma Chúa cho chúng ta một bài học về bản chất đức tin, một sự vâng nhận một chân lý trên một bình diện cao thượng hơn là trên phương diện giác quan và khoa học. “Bởi vì ngươi đã thấy và tin, hỡi Tôma, phúc cho những ai không thấy mà tin.”
Tương truyền, Tôma đã giảng đạo cho người Mède và người Ba Tư, rồi qua cả Ấn Độ, nơi ngày nay có nhiều cộng đoàn Kitô Giáo theo lễ điển Malabar còn làm chứng tá cho tương truyền ấy.
Lễ nhớ: 27 tháng 3.Loan Phạm