Các Thánh Tháng 4

Thánh Anselmô (1033-1109)
          Sinh hạ tại Aoste (Ý). Anselmô theo làm đồ của một sư phụ danh tiếng tên là Lanfranc, theo đến cả trong tu viện Biển đức ở Bec Hellouin (Eure) trở thành tu sĩ. Người ở lại đây trong khi sư phụ được chọn làm tổng Giám mục Cantorbérê (Anh Quốc). Vua Guillaume vừa chiếm được Anh quốc và muốn đặt những người đáng tin cậy vào những ngành điều khiển. 
          Năm 1078, Anselmô được chọn làm tu viện trưởng Bec Hellouin, kế vị Herlouin đấng sang lập. Năm 1093, Vua Guillaume II biệt hiệu vua tóc đỏ, chọn Anselmô làm Tổng Giám mục Cantorbery, kế vị sư phụ Lanfranc. Nhưng không bao lâu, người phải đương đầu với các đòi hỏi của các vua Anh Quốc. Người phải luôn luôn cương quyết tranh đấu để bảo vệ sự tự do của Giáo hội. Vì thế, hai lần người bị lưu đày. Người là một nhà thần học và triết học được nhiều người biết đến, đã để lại nhiều tác phẩm. Người cố đem lý trí con người tìm hiều các chân lý đức tin: “tìm hiểu điều ta tin.” Người là tác giả bằng chứng rất thời danh là “bằng chứng thực thể argument ontalogique,” về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Người được phong Tiến sĩ của Giáo hội năm 1720.
          Lễ kính: 21 tháng 4.

Thánh Georges (+303)
          Là một quân nhân tử đạo dưới thời vua Diocletien, rất được tôn kính tại Palestine.  Một huyền thoại cho biết nhiều chi tiết là về đới sống và cái chết của người, đến độ đức Gelase (492-496) phải cấm đọc trong nhà thờ, như câu chuyện hạ con rồng dữ tợn được in trên đống tiền Anh Quốc và hình thành hội hiệp sĩ thánh Georges của nền ngoại giao Anh.
          Việc sùng kính lan tràn nhiều nơi, được coi là quan thầy Anh Quốc, `quan thầy Hướng đạo…
          Vì tính cách không có căn bản lịch sử rõ rệt, dựa trên huyền thoại nhiều, nên Đức Gioan XXIII đã quyết định bỏ tên trong lịch phụng vụ. Vì tính cách phổ thông cổ xưa của sự sùng kính, chúng tôi ghi ở đây huyền thoại để am tường, khỏi gây thắc mắc. Còn có 17 vị thánh hay chơn phước mang tên Georges.

Lễ Nhớ 23 tháng 4

Thánh Marcô  - Thánh Sử (thế kỷ I)
          “Gioan cố cựu,” một tác giả sống vào thời các tông đồ, viết: “Marcô, phát ngôn viên của Phêrô, viết rất cẩn thận nhưng không mấy thứ tự, những lới nói và việc làm của Chúa mà người nhớ (Eusèbe, Lịch sử Giáo Hội). Marcô không thuộc nhóm mười hai, nhưng là một người rất quen thuộc với cộng đoàn giáo dân tiên khởi, một người bạn đồng hành của Phaolô, một người con của Phêrô tại Lamã (Col 4, 10; IP 5, 13; II Tim 4, 11). Các học giả đều đồng ý rằng Jean Marc, nói trong Công vụ và Thánh thư là tác giả phúc âm thứ hai. Người là con của bà Marie, một goá phụ giàu có, có nhà rộng, có nữ tớ giúp tại Giêrusalem, nơi giáo dân hay đến tụ họp. Phêrô, sau khi ra khỏi tù (CV 12, 12-17) đã về đó trú ẩn. Vì thế, tử nhỏ Marcô đã ghi nhớ các kỷ niệm của Phêrô.
          Năm 45, Marcô theo Banabê và Phaolô trong cuộc du thuyết thứ I. Nhưng người bỏ họ, trở về nhà (CV 13,13). Phaolô không bằng lòng, nên từ chối đề nghị của Banabê đem Marcô theo trong cuộc du thuyết thứ II, năm 50. Banabê xuống tàu với Marcô, em họ, về Chypre quê của Banabê (CV 15, 26-39).
          Từ đó, Marcô không được nhắc tới cho đến năm 61 thì Người có mặt với Phaolô tại Lamã, chuyện cũ đã quên. Năm 64, Marcô lại phục vụ Phêrô, mà người gọi là “Marc, con-ta” (I P.5,13). Vào thời Phêrô tử đạo hay sau đó, Marcô đã viết cuốn Phúc âm tại Lamã. Năm 67, Người ở Ephêsô, vì Phaolô, vài tháng trước khi chết, đã xin Timôthê, khi qua Lamã, đem Marcô theo (II Tim 4,11).
          Văn là người. Lối văn của Marcô sống động, uyển chuyển, trung thực. Một tuyển tập các lời Chúa dạy, các việc Chúa làm, kết thành một sách bỏ túi cần thiết cho người giáo lý viên. Tương truyền rằng Marcô đã thành lập Giáo Hội Alexandria (Ai Cập) và chết tử đạo tại đó. Xác thánh được đưa về Venise năm 815, Venise nhận Ngài là quan thầy và lấy biểu hiệu con sư tử, biểu hiệu của Marcô.  Thánh nhân còn là quan thầy của những người làm nghề gương và các lục sự.
          Lễ nhớ: 25 tháng 4.
Hơn 30 vị Thánh và Chơn Phước khác mang tên Marcô.

Thánh Phêrô Maria Chanel (1803-1841)
          Người sinh ở Cuet năm 1803, trong giáo phận Belley (Pháp). Lúc còn nhỏ vào tiểu chủng viện, nhớ nhà, leo tường trốn ra, bị một bà già đi xin lễ sang bắt lại, đưa đến trườc bàn thờ Đức Mẹ và đưa về lại chủng viện. Năm 1831, Chanel gia nhập dòng Maristes. Người cảm thấy ơn gọi đi thừa sai và được gửi đến các hải đảo Thái Bình Dương.
          Tháng 11 năm 1837, Người được gửi đến đơn độc tại hải đão Futuna, cách quần đảo Samoa và Fidji vài cây số phía bắc. Mới đầu, được thổ dân tiếp đón tử tế, nhưng khi gây được thiện cảm và ảnh hưởng thì mối tình đầu trở nên nỗi nghi ngờ ghen ghét. Vị bộ lạc trưởng, nghe rằng con trai của ông vừa được rửa tội trở nên Kitô hữu, liền cho người hạ sát vị thừa sai. Toàn đảo Futuna đã trở lại sau đó.
          Phêrô Maria Chanel được tôn phong hiển thánh ngày 12 tháng 6 năm 1954.
          Lễ nhớ: 28 tháng 4.

Thánh Piô V – Giáo Hoàng (1504-1572)
          Antonio Ghislieri sinh hạ trong một gia đình nghèo ở Lombardie (Ý). Nhờ sự giúp đỡ của một người giàu có, Antonio được học vào dòng Đaminh lúc lên 15 tuổi. Sau khi lãnh chức linh mục, Người làm việc một thời gian trong toà án thẩm tra, làm Giám Mục Sutri, Hồng Y và năm 1566, được bầu lên ngôi Giáo Hoàng với tước hiệu Piô V. Triều đại của Người vắn vỏi 6 năm, nhưng đem lại cho Giáo hội nhiều kết quả lớn, là thực thi những quyết nghị của công đồng Triđentinô (1545-1563). Người sống đơn sơ khó nghèo, không theo lối một số hàng giáo sĩ, dọn đường cho một thế hệ Giám Mục mới. Người cho ra cuốn Giáo lý Lamã, phiên dịch ra tiếng bình dân phổ thông, sửa đổi sách Nhật Tụng và sách Lễ, thiếp lập Bộ kiểm Duyệt sách xấu, cho tái bản bộ sách Thánh Tôma mà Người tôn phong Tấn Sĩ.
          Người kêu gọi các vua Công giáo liên minh chống lại Thổ Nhĩ Kỳ đang mang tâm dẫn đại quân vịnh Lepante. Hình như Ngài, trong thị kiến, đã nhìn thấy diễn tiến của trận hải chiến. Quân Hồi thảm bại. Giáo dân đã cầu nguyện nhiều với Đức Mẹ Mân Côi và chính Đức Thánh Cha như biết trước đó là diễn tiến cuối cùng của đời Ngài. Mấy tháng sau, Ngài qua đời ngày 1 tháng năm 1572.
          Người được tôn phong Hiển Thánh năm 1712 do Đức Clemente XI.
          Lễ nhớ: 30 tháng 4.                

Loan Pham