Các Thánh Tháng 5
Thánh Cả Giuse (thế kỷ I)
Chúng ta không biết nhiều về thánh Giuse. Những gì ta biết điều do những dữ kiện vắn vỏi Phúc âm Matheô và Luca kể lại. Matheo cho biết về gia phả của Giuse, cũng như gia phả của Luca dẫn đến lịch sử gia đình của Đức Mẹ. Nhưng cả hai thánh sử không cho biết nhiều về Giuse ngoại trừ người thuộc miêu duệ Đavit và nghèo.
Gia đình Giuse trước đây ở Bêlem xứ Giuđêa (Lc 2,4) nhưng người đến lập nghiệp tại Nagiaret trong nghề “xây cất”. Danh từ Matheô dùng (13,55) có nghĩa rộng hơn danh từ phiên dịch thường dùng: thợ mộc. Có lẽ người kết bạn với Đức Mẹ lúc 20 tuổi và Đức Mẹ khoảng 15 tuổi. Matheô cho biết việc Đức Mẹ cho Giuse rõ về việc thai sinh nhiệm lạ, việc các nhà đạo sĩ viếng thăm, việc trốn sang Ai Cập, và việc trở về Nagiaret. Luca thêm vài chi tiết về việc Giáng Sinh, cắt bì, dâng vào đền thờ và việc lạc mất ở Giêrusalem lúc Chúa lên 12 tuổi.
Sau đó, Giuse không được Phúc âm nhắc đến nữa và người ta đoán rằng Giuse đã qua đời trước khi Chúa Giêsu ra giảng dạy.
Để thỏa mãn sự tò mò của giáo dân, các Phúc âm ngụy thư bày ra nhiều chi tiết như việc Giuse góa vợ và có nhiều con với bà ấy, cách Giuse đi hỏi Đức Mẹ và được như ý, trong khi các ứng viên khác bị tuột dù. Tuy nhiên, các sách ấy cũng đem lại chứng tích về sự trong sạch, về cái chết của thánh nhân đưọc Chúa và Đức Mẹ giúp đỡ và than khóc. Nhiều chi tiết đầy thi vị, nhưng cũng đầy tiểu thuyết hóa, biến thành truyện truyền kỳ. Như câu chuyện cuộc hôn nhân thứ nhất của Giuse được bày ra là để giải thích dữ kiện “Các anh em và chị em” của Chúa Giêsu mà Phúc âm Matheô đến. (XII, 46; XIII, 55)…và cả việc Giuse thọ đến 110 tuổi, giống như Giuse tổ phụ Cựu ước (Jos,24,29)
Như vậy, chỉ có Phúc âm là tài liệu duy nhất và giá trị về cuộc đời thánh cả Giuse, tuy vắn vỏi nhưng đã nói lên cá tính của Giuse, một con người đức hậu, nhẫn nại, đầy lòng tin, một dụng cụ đáng giá của Thiên Chúa.
Giuse là gương mẫu cho mọi tín hữu, nhất là các gia trưởng. Tuy người là một dưỡng phụ của Chúa, bạn thanh sạch của Đức Mẹ, nhưng người cũng tham dự vào mầu nhiệm Nhập Thể. Và lại, mầu nhiệm ấy còn bao trùm cả nhiệm thể của Chúa Kitô thì Giuse còn tiếp tục sứ mạng bão vệ Giáo Hội, nhiệm tích của Chúa.
Sự im lặng của Phúc âm có vẽ làm lu mờ địa vị thật sự của Giuse. Nhưng từ thế kỷ thứ tư, lòng sùng kình Thánh Giuse khởi đầu tử Đông Phương, để lan dần qua Tây Phương và trong cả Giáo hội. Năm 1870, đức Piô IX công bố thánh cả Giuse là quan thầy Giáo hội hoàn vũ. Ngày 19 tháng 3 là lễ trọng. Năm 1955, đức Piô XII lại lập lễ thánh Giuse thợ đặt vào ngày 1 tháng 5, ngày lễ lao động quốc tế.
Lễ kính: 19 tháng 3 và 1 tháng 5.Thánh Athanasiô tấn sĩ (295-373)
Sinh hạ tại Alexandria (Ai-Cập). Người được chọn làm thượng phụ của thành phố năm 328. Người nổi danh vì đã can đảm và trường kỳ chống lại một linh mục ở Alexandria là Arius chủ trương phủ nhận thiên tính của Đức Kitô. Một cuộc tranh đấu cam go và nguy hiểm nữa. Mặc dầu đã bị công đồng Nicê năm 325 kết án, lạc giáo Arius phổ biến rất mạnh, rất nhiều nơi, gây chia rẽ và làm tổn thương đến một tín điều căn bản đức tin. Lạc giáo ảnh hưởng cả đến Hoàng đế Constantinô. Thánh Athanasiô bị nhà vua hoặc các kẻ kế vị đày khỏi xứ năm lần, nhưng người không ngớt dùng lời giảng hoặc chữ viết để tuyên xưng thiên tính của Chúa Kitô. Năm 366, Người được trở về vĩnh viễn với giáo phận Alexandria. Nhờ hành động cương quyết chống lại Arius, thánh Athansiô đã trở nên một Giáo phụ tên tuổi gốc Hy Lạp của Giáo Hội. Trong tác phẩm De Incarnatione -Việc nhập thể - thánh nhân minh chứng Ngôi lời Thiên Chúa nhập thể trong Đức Kitô, đã tác tạo trong con người hình ảnh Thiên Chúa và do sự chết của Ngài, đã phá tan ảnh hưởng tội lỗi. Thánh nhân cũng đã hỗ trợ thánh Pacôme và Thánh Antôn trong việc khởi xướng và tổ chức cuộc sống tu hành trong Giáo hội.
Lễ kính: 2 tháng 5.Thánh Philiphê – Tông Đồ (Thế Kỷ I)
Chúng ta được biết về Người qua Phúc âm thánh Gioan. Gốc ở Bethsaida trên bờ hồ Tiberiade, như Phêrô và Anrê, Người là một trong các môn đệ đầu tiên được kết nạp vào thành phần tông đồ. Người chiêu mộ một vị khác là Nathanaen (Batôlômeô). Trước ngày Chúa chịu nạn, có một số người Hy Lạp tìm gặp Chúa, họ nhờ ông biết tiếng giới thiệu với Chúa. Sau buổi tiệc ly, khi Chúa tuyên bố: “Nếu các con biết Thầy thì cũng sẽ biết Cha Thầy,” Philiphê liền thưa: “Xin Thầy chỉ cho chúng con Đức Chúa Cha và chúng con thỏa mãn.” Chúa phán: “Từ lâu Thầy ở với các con, và hỡi Philiphê, con không biết Thầy sao? Ai thấy Ta là thấy Đức Chúa Cha.”
Sau ngày Hiện Xuống, chúng ta không biết gì thêm về Philiphê. Tục truyền Người đi giảng cho người Scythe trên biển Hắc Hải. Philiphê và Giacôbê con Alphê được mừng cùng một ngày, thánh tích hai đấng được đưa về thánh đường 12 tông đồ ở Lamã.
Có hai tài liệu ngụy thư mang tên Philiphê: Phúc Âm và Công Vụ Philiphê.
Lễ nhớ: 3 tháng 5.Thánh Giacôbê con Alphéc Tông Đồ (thế kỷ I)
Trong bản danh sách 12 tông đồ của Tân ước, ngoài thánh Giacôbê, and của Gioan hay Giacôbê tiền, còn có một Giacôbê khác gọi là “con của Alphée”. Từ trước ngườiđ ta hay gọi là Giacôbê Hậu hay người nhỏ mà phúc âm của Marcô nói đến (Mc 15,40).
Ngày nay, nhiều nhà chú giải cho rằng Giacôbê Hậu là Giacôbê thứ ba mà thánh kinh nói đến mà người ta quen gọi là “anh em Chúa Giêsu”, là vị thủ lãnh đầu tiên của giáo đoàn Giêrusalem.
Về đời sống của thánh Giacôbê con của Alphê, người ta không biết gì hơn. Người được mừng đồng thời với thánh Philiphê.
Lễ nhớ: 3 tháng 5.Chơn Phước Damien – Tông đồ ngườI hủi (1840-1889)
Ngài tên là Joseph de Veuster, trong một gia đình người Bỉ gồm 8 anh em trong số có 3 nữ tu và hai linh mục là Cha Auguste và Damien. Năm 1859, Damien vào Dòng Thánh Tâm Picpus, như anh Ngài. Ngài khỏe như một lực sĩ. Anh ngài được chỉ định đi truyền giáo ở Hawai, nhưng đau ốm không đi được, cha Damien (tên trong Dòng) nói: “Anh tôi ốm thì tôi đi thay.”
Ngày 29-10-1868, người xuống tàu đi Hawai. Cuộc hành trình mất 5 tháng qua ngã Cap-Horn, cực Nam Phi, nơi đây 20 năm về trước, 25 vị thừa sai và một Giám Mục đã bị chết đuối. Người đến Hawai và ngày 21-3-1864 được thụ phong linh mục. Người tình nguyện “chôn cuộc đời ở Malokai” để giúp đỡ người cùi bị tập trung tại hòn đảo ấy. Người không được trở về Honolulu, muốn đi xưng tội cũng phải chèo thuyền đến gần thôi. Sau 16 năm ở với người cùi, bị lây bệnh và chết giữa người cùi năm 1889. Người được thế giới kính phục. Gandli nói: “Giáo Hội Công Giáo có hang ngàn người đã hy sinh cuộc đời cho người cùi…như Cha Đamien ở Molokai…Nên tìm hiểu lý do sự hy sinh anh hung ấy.” Cha được tôn vinh tại quê hương (Bỉ) và tại điện Capitole Hoa Kỳ và tiểu bang Hawai.
Được phong Chơn Phước (1995) do Đức Gioan Phaolô II.Thánh Néree, Achilée và Domitille - Tử Đạo (thế kỷ I)
Ba vị tử đạo được tôn kính từ lâu. Nérée và Achillée là những quân nhân của quân đoàn hoàng đế, đã trở lại và tử bỏ quân đoàn, Domitille là cháu của hoàng đế Domitien. Ngôi thánh đường của các Ngài, trong có thánh tích, nằm ở trên đường Ardeatine Lamã và được xây lại ba lần.
Lễ nhớ: 12 tháng 5.Thánh Pancrace - Tử Đạo (+304)
Lúc lên 14 tuổI, được rửa tội tại Lamã. Ít lâu sau, vì không chịu tế thần nên bị chém đầu dưới thời hoàng đế Diocletien, được chôn tại hang toại đạo Calepodius sau này mang tên Người.
Câu chuyện của Người được nhắc đến với các vị tử đạo khác trong cuốn chuyện thời danh của Wiseman (1864) mang tựa đề Fabiola.
Lễ nhớ: 12 tháng 5.Thánh Mattias – Tông Đồ (thế kỷ I)
Chúng ta biết ít nhiều về vị tông đồ do sách Công Vụ kể lại. Mathias là một môn đệ Chúa Kitô từ khi Chúa nhận phép rửa của Gioan Tiền Hô và được tuyển chọn vào nhóm mườI hai thay Giuđa Iscariô (CV 1,21-26)
Theo một tương truyền Hy Lạp, Mathias giảng đạo ở Capadoce và tử đạo tạI Colchio. Người ta nói rằng xác thánh nhân được chôn ở Giêrusalem, nhưng sau được thánh nữ Hêlena đưa về Lamã.
Lễ nhớ: 14 tháng 5.Thánh Isidore – Nông phu (1070-1130)
Người sinh hạ ở Madrid, Tây Ban Nha, trong một gia đình nghèo, nhưng rất có lòng sốt sắng và thương giúp người nghèo khó. Cùng với vợ, ngườI làm việc đồng áng, thánh hóa lao động. Người qua đời ngày 15 tháng 5 tại Madrid. Vợ người là Maria Torribia cũng rất thánh thiện. Thánh nhân được tôn phong Hiển Thánh năm 1622, quan thầy người nông phu và quan thầy thành phố Madrid.
Lễ nhớ: 15 tháng 5.Thánh Gioan I, Giáo Hoàng Tử Ðạo (+526)
Thánh Gioan sinh tại Senas miền Toscane nước Ý. Người ta hầu như không biết gì về thời thơ ấu của ngài. Chỉ biết ngài lên ngôi Giáo Hoàng ngày 13/8/523. Là một con người rất nhiệt thành, suốt đời ngài chỉ sống câu: "Sống vì danh Chúa". Ngài rất có công trong việc hoàn tất điệu hát bình ca (Chant grégorien) mà các vị tiền nhiệm đã khởi xướng: Ðức Cêlestinô I, Lêô cả và Gêlase. Ngài còn tỏ ra là một vị chủ chăn đầy khôn ngoan và đạo đức. Năm 624, vua Auguste Justin I bên Tiểu Á, vì nhiệt thành với tôn giáo và cũng nhằm lợi ích chính trị, muốn thống nhất Giáo Hội nên đã đàn áp nhóm lạc giáo Ariô và chiếm hữu các cơ sở tôn giáo của họ. Việc đàn áp này đã gây nên một cuộc bất mãn và sinh ra sự chống đối tôn giáo và chính trị, và Ðức Gioan I chỉ là một con cờ hy sinh. Tại Rôma, vua Théođoric thuộc phái Ariô khi hay tin việc đàn áp này, liền nổi giận gửi tối hậu thư cho vua Justin, nhưng không kết quả.
Théođoric mới bắt Ðức Giáo Hoàng Gioan làm con tin và buộc dẫn đầu đoàn sứ giả sang vua Justin đòi trả lại tài sản và cho nhóm Ariô được tự do truyền đạo. Ðã nhiều lần ngài đứng lên phản đối trước mặt nhà vua. Sau cùng ngài chấp thuận đi. Lần đầu tiên trong lịch sử một Ðức Giáo Hoàng rời khỏi nước Ý. Vua Justin và toàn dân Constantinople hân hoan tưng bừng đón rước ngài. Ngài chủ lễ Phục Sinh tại Sainte Sophie một cách long trọng có mặt tất cả triều đình, dân Hy Lạp và La Tinh nữa. Nhà vua xin ngài phong vương, ngài đã đặt vương miện cho nhà vua.
Khi về Rôma, vua Théođoric cho rằng ngài đã hành động ngược lại với mình, liền bắt ngài, định đem xử tử nhưng còn sợ dân chúng dấy loạn, liền giam ngài tại Ravenne và bỏ đói cho đến khi chết. Ngài lìa trần ngày 18/5/526. Xác ngài được đưa về Rôma ngày 27/5/530 và chôn cất trong vương cung thánh đường Vatican.
Thánh Nữ Rita (1381-1457)
Sinh hạ tại Cascio (Ý) trong một gia đình quê. Lúc nhỏ, ngỏ ý muốn đi tu, nhưng cha mẹ cản trở bắt phải lấy chồng. Chồng là một người ăn chơi và dữ tợn, hành hạ vợ và hai con trong 18 năm. Tuy nhiên, sự hiền lành chịu đựng của bà đã làm ông chồng hối cải trước khi chết vì bị kẻ thù ám sát. Rita rất đau buồn vì thấy hai con quyết định trả thù cho cha. Bà cầu nguyện, thà mất con hơn là thấy con phạm tội giết người. Ít lâu sau, hai con đều chết. Bà nghĩ đến hoài vọng đi tu đã có từ trước và được nhận vào dòng nữ Augustine ở Cascia.
Bà được nghe một bài giảng về sự thương khó Chúa, bà xin Chúa cho Bà mang trên trán một vết thương, xong mùi hôi khiến Bà phải ẩn mình, chỉ tiếp người bệnh nhân. Sau khi bà qua đời, Bà được dân chúng rất sùng mến, được kêu cầu trong những nỗi tuyệt vọng và được các người mắc bệnh đậu mùa kêu cầu.
Được tôn phong năm 1900.
Lễ nhớ: 22 tháng 5.Đấng đáng kính Bède, Tiến sĩ Hội Thánh (672-735)
Người là một tu sĩ Dòng Biển đức thuộc Anh quốc, được người đương thời gọi là “vị đáng kính”, vì những tác phẩm phong phú người để lại, thuộc mọi môn, như giải thích Thánh kinh, thần học, lịch sử, ngữ vựng, thi ca … Người có ảnh hưởng rất lớn trên giáo hội Tây phương hay La tinh.
Tác phẩm về thời gian – De temporibus – giúp đi đến quyết định chọn mầu nhiệm nhập thể làm thời điểm ghi ngày tháng khởi đầu mọi biến cố. Nhưng người cũng là một Tông đồ của Phép Thánh thể khuyên dụ sự chịu lễ nhiều lần. Người cũng là tác giả cuốn lịch sử giáo hội “người Angles” rất được chú ý.
Được gọi là “đáng kính”, nhưng người cũng rất thánh thiện, cái chết của người rất đặt biệc. Người hội anh em lại, xin cầu nguyện và nằm trên giường, người đọc đến câu cuối cùng Phúc âm thánh Gioan do người phiên dịch ra Anh ngữ trong thời lâm bệnh, rồi người xin đặt mình xuống nền đất và cất tiếng hát tiểu khúc: “Ôi, vua vinh quang,” của giờ kính lễ thăng thiên và qua đời ngày 27-5-735.
Lễ kính: 27 tháng 5.Thánh Grêgoriô VII – Giáo Hoàng (1015-1085)
Sinh hạ tại Soarno ở Toscane (Ý). Vào dòng Cluny ở Lamã, người là cố vấn cho nhiều vị giáo hoàng liên tiếp, trước khi được tuyển cử lên ngôi giáo hoàng năm 1073. Khi ấy, người mới là phó tế, được lãnh chức linh mục và giám mục cùng một lúc. Lúc còn là cố vấn, người thúc dục các vị tiền nhiệm khởi đầu một cuộc cải tổ trong giáo hội rất cần thiết. Khi lên ngôi giáo hoàng, người tiếp tục cách mạnh mẽ và cương quyết chống lại nạn mua bán thánh chức, bổng lộc, việc các linh mục sống không xứng đáng. Nhất là, người mạnh mẽ chống lại các vua chúa hay xen vào nội bộ giáo hội, đòi quyền tấn phong, nguồn gốc nhiều lạm dụng đáng tiếc.
Để cứu vãn giáo hội khỏi mọi ảnh hưởng thế quyền, người công bố bản 27 sắc chỉ gọi là những quyết định giáo hoàng-dictatus Papae (1074-1075), như những khoản lệ nói lên sự tùng phục thế quyền đối với thần quyền. Hoàng đế Đức Henri IV không nhìn nhận, tạo nên một cuộc tranh chấp đưa đến việc nhà vua phải đến Canossa (1077) để tạ tội xin giải vạ. Nhưng ít lâu sau, hoàng đế trả thù bằng cách đặt một vị phản giáo hoàng là Clément III tại Lamã. Thành phố bị cướp phá, nổi dậy đến độ đức Grêgoriô phải trốn khỏi. Người lui về Salerne và chết tất tưởi, để lại những công lao to lớn, một đời sống nhân đức và bác ái, tuy rằng với một tính tình độc tài. Người được tôn phong hiển thánh do đức Phaolô V, năm 1606, mặc dầu có sự chống đối của chính phủ Pháp và Áo.
Lễ nhớ: 25 tháng 5.Thánh Maria Mađalêna Ðệ Pazzi Ðồng Trinh (1566-1607)
Thánh nữ sinh ngày 02/4/1566 tại Florence nước Ý, thuộc gia đình Pazzi giàu sang và thế giá. Nhờ sự hướng dẫn của bà mẹ, Maria Mađalêna càng lớn càng thêm đức hạnh, nhất là lòng thương người và sự yêu thích cầu nguyện. Năm 16 tuổi, ngài từ hôn với một vị lãnh chúa và ngày 14/8/1582, ngài từ giã cha mẹ để hiến thân trong dòng kín, sống cuộc đời hoàn toàn khiêm nhượng, không làm mất lòng ai và luôn chu toàn những công tác theo luật dòng. Thêm vào đó, ngài thường giúp đỡ các chị em khác chu toàn công tác và săn sóc các chị em đau yếu. Về cuối đời, thánh nữ đã phải chịu cơn bệnh ung thư kéo dài lâu năm. Ngài luôn luôn lặp đi lặp lại câu: "Thà đau khổ hơn là chết". Sau cùng, vì cơn bệnh quá đau và kéo dài lâu ngày, ngài kiệt sức và trút hơi thở cuối cùng ngày 25/5/1607, hưởng thọ 41 tuổi.
Ðức Giáo Hoàng Lêô IX đã tuyên phong ngài lên bậc Hiển Thánh ngày 28/4/1669.
Thánh Philiphê Neri (1515-1595)
Sinh hạ tại Florence, tính tình tốt lành nên được gọi là “Bon Pippo.” Năm 1553, Pippo bỏ gia đình lên Naples với ông cậu, một thương gia giàu có nhưng không có con. Ít tháng sau, Người bỏ cậu đi Lamã và ở lại đó đến chết. Tính tình vui vẻ, hăng hái, Người trở nên một tông đồ giới trẻ Lamã. Người họp chúng tại nhà, rồi trong một nhà nguyện. Một dòng tương lai khởi dầu, mà người gọi là “Nguyện đường – Oratoire” được thiết lập năm 1575. Dòng tụ tập các linh mục triều, sống chung, lo việc mục vụ giáo xứ và thừa sai, không có lời khấn, ngoài mục đích chung: sống tập thể làm việc tông đồ, cầu nguyện, giảng dạy, ban bí tích.
Gần cuối đời, Philiphê thường dâng lễ riêng với một cậu giúp lễ. Nhưng trước khi rước lễ, cậu bé thường biến mật, để Philiphê một mình trong hai giờ kết hợp với Chúa và trở lại khi thánh lẽ gần xong. Philiphê qua đời ngày 25 tháng 5 năm 1591. Khi đến Lamã, Người gặp một giáo hội cũng như một thành phố lãnh đạm về đạo. Người sống 60 năm ở giữa cảnh ấy, không lên án, không chỉ trích, chỉ dùng gương sang biến đổi dần và trở nên một nhà cải cách thành phố ngàn đời. Một trong các đồ đệ sau này của thánh nhân là Hồng Y Henri Newman, từ Anh Giáo trở lại, lập tu hội Oratoire ở Anh Quốc.
Lễ nhớ: 26 tháng 5.
Có 8 vị Thánh và Chơn Phước khác mang tên Philiphê.Loan Pham