Các Thánh Tháng 7-2008

Thánh Tôma Tông Đồ (Thế Kỷ I)
            Thánh Tôma tông đồ được mô tả như một con người sáng suốt, thực tế quả cảm, theo Phúc âm của Gioan. Ông có biệt danh là Didymô nghĩa là song sanh. Tôma đoán chắc những việc lớn lao sẽ diễn ra ở Giêrusalem khi các môn đệ cùng Chúa về Giêrusalem dịp lễ Vượt Qua. Chúng ta hãy cùng đi để chết với Người.  (Gio 11,6). Sau khi Chúa sống lại, trong lúc ông đi vắng về, nghe kể lại, ông vẫn một mực không tin.  Nếu tôi không nhìn thấy lỗ đinh nơi tay Người, nếu tôi không để tay tôi vào cạnh sườn Người thì tôi không tin” (Gio 20,24-29). Tám ngày sau, Chúa lại hiện ra với đông đủ các môn đệ, Chúa xin ông sờ đụng các vết thương của Ngài. Tôma không biết làm gì hơn là phủ phục và tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa tôi!” Một dịp Chúa để cho Tôma và qua Tôma Chúa cho chúng ta một chân lý trên một bình diện cao thượng hơn là trên phương diện giác quan và khoa học. “Bởi vì ngươi đã thấy và tin, hỡi Tôma, phúc cho những ai không thấy mà tin.”
            Tương truyền, Tôma đã giảng đạo cho người Mède và người BaTư, rồi qua cả Ấn Độ, nơi ngày nay có nhiều cộng đoàn Kitô Giáo theo lễ điển Malabar còn làm chứng tá cho tương truyền ấy. 
            Lễ nhớ: 3 tháng 7.

Nữ Thánh Elisabeth Bồ Đào Nha (1271-1336)
            Elisabeth là ái nữ của Pierre III Aragon và Constance, khi rửa tội được mang tên thánh Elisabeth để kính nhớ bà cô là thánh nữ Elisabeth Hung Gia Lợi. Một đời với nhiệm vụ hòa giải giữa cha và ông nội. Lúc lên 12 tuổi đã kết bạn với vua Denis Bồ Đào Nha và lúc lên 18 tuổi sinh hạ đứa con đầu trong hai con.
            Trong đời hoàng hậu., chỉ biết sống nhặt nhiệm, cầu nguyện và làm việc bác ái. Mỗi ngày đọc kinh nhật tụng. Chồng bà là một ông vua biết cai trị nhưng là một người chồng ăn chơi. Elisabeth phải nhẫn nhục chịu đựng sự bất tín. Nhưng hoàng tử Alphongsô không chịu nỗi lối sống sa đọa của cha, nên đã hai lần nổi loạn, dùng khí giới chống lại. Bà mẹ Elisabeth đã giàn xếp giữa hai cha con, đã cởi ngựa xông vào giữa trận chiến để cản ngăn. Vua Denis một hồi nghi rằng Elisabeth xúi con khởi loạn, đã bắt vợ đi đày, nhưng khi hiểu biết sự thật đã phong vợ quản trị một thành phố. Vua qua đời sau cơn đau đớn, được vợ săn sóc tận tình và giúp phần linh hồn. Elisabeth từ bỏ mọi chức vụ, mặc áo dòng ba Phanxicô và vào ẩn trong tu viện Clara gần đó. Khi con bà là Alphongsô đem quân đánh vua Castille để báo thù cho em gái, Elisabeth lại lên đường đi giàn xếp, ngã bệnh và qua đời ngày 4 tháng 7 năm 1336. Người được tôn phong hiển thánh năm 1626 do đức Urbanô XIII-Một vị thánh của Hòa bình.
            Có 12 vị nữ thánh hoặc Chơn Phước mang tên Elisabeth
            Lễ nhớ: 4 tháng 7.

Thánh Antoine-Marie Zaccaria (1502-1539)
            Sinh tại Cremone (Ý), rất có lòng thương yêu người nghèo, làm y-sĩ, rồi chịu chức linh mục. Người định cư ở Milan và sang lập dòng Tu sĩ thánh Phaolô, những tu sĩ có lời khấn nhưng lại sống giữa đời; phục vụ cách riêng tại nhà thờ thánh Barnabê ở Milan, nên cũng được gọi là các cha Barnabite.  Các cha dòng chuyên giúp xứ, giáo dục thiếu niên và giảng cấm phòng. Thánh nhân cũng thiết lập dòng các nữ tu Thánh Phaolô.
            Lễ kính: 5 tháng 7.

Chân Phước Kateri Tekakwitha (Người Da Đỏ 1656-1680)
Bông huệ của bộ lạc người Da Đỏ Mohawks. Nữ Chân Phước (Catarina) là một người chiêm nghiệm, trở lại đạo Mohawks.  Nàng là ái nữ của bộ lạc này và mẹ thuộc bộ lạc công giáo algonquin.  Cô Kateri sinh ra trong một làng người Da Đỏ tại Ossernenon, Auriesville, New York, là nơi hai vị thánh chịu chết vì đạo Chúa, đó là Thánh Issac Joques và Thánh Jean De Lalande vào năm 1646. Kateri bị mồ côi sau nạn dịch đậu mùa hoành hành làm cho cô bị lòa mắt và mặt cô trở nên rất xấu xa. Khi linh mục Jacques De Lamverville từ Pháp qua truyền giáo trong làng cô đang ở, Kateri xin được chịu phép Thánh Tẩy. Viêc cô theo đạo và không chịu lập gia đình, đã làm cho cô bị các bạn cùng bộ lạc chế diễu và đe dọa. Sợ cho tính mạng của chính mình không được an toàn, cô phải trốn ra khỏi làng, với sự giúp đỡ của những chiến sĩ công giáo, để đi tới tạm Monteral Canada.
            Kateri rước Chúa lần đầu trong ngày lễ Giáng Sinh Năm 1677. Vào năm 1679 cô khấn giữ mình đồng trinh, dâng mình cho Chúa Kitô. Trong năm cuối đời cô, Kateri tỏ ra được ơn về chiêm nghiệm lạ thường, làm cho các linh mục truyền giáo của người Pháp cũng như đồng bào công giáo của cô rất kính phục. Cô qua đời ngày tháng Tư tại Caughnawaga, Canada. Trên giường chết, mặt cô khỏi mọi vết thẹo và trở nên bình thường. Kateri hiện về cùng nhiều linh mục và các người Da Đỏ, sau khi chết và nhiều phép lạ tín hữu xin cô chuyển cầu được thực hiện.  Đức Giáo Hoàng Piô XII phong chân phước ngày 22/6/1980.
            Lễ nhớ 14 tháng 7

Thánh Bonaventura - Tiến Sĩ (1221-1274)
            Giovanni Fedanga sinh hạ gần Viterbe (Ý), lớn lên, đến Paris học văn chương và thần học. Người gia nhập Dòng Phan sinh và mang tên là Bonaventura. Năm 1257, lúc lên 36 tuổi, người được cử làm Tổng quyền của dòng. Người phải lãnh nhận một nhiệm vụ khó khăn là hòa giải hai khuynh hướng đang chia rẽ trầm trọng dòng Phan sinh : Một khuynh hướng muốn thích nghi theo hoàn cảnh hiện đại, khuynh hướng kia đòi hỏi theo đnúg những quyết định từ đầu của thánh Phanxicô sáng lập. Bonaventura đã viết nhiều sách thần học, tu đức, khiến người được gọi là  "tiến sĩ thiên thần". Trái với thánh Tôma, người nghĩ rằng lý trí có thể minh chứng sự tạo dựng thế giới bởi Thiên Chúa. Thần học của người dựa trên sự soi sáng huyền nhiệm Kitô hữu. Ý tưởng của thánh nhân rất được dón nhận vào thế kỷ XIII, nhưng đã bị lu mờ vào thế kỷ sau do các ý tưởng của thánh Tôma dựa trên triết gia Aristote.
            Năm 1278, người được phong Hồng Y và Giám mục Albanô và với tư cách ấy, người tham dự công đồng Lyon năm 1274, một công đồng đã tạm thời giao hòa được giữa Công Giáo và Chánh thống giáo. Bị kiệt sức, người qua đời trong thời gian công đồng nhóm họp, lúc 53 tuổi. Ngôi mộ hiện ở tại Thánh đường thánh Phanxicô ở Lyon. Người được phong thánh năm 1482 do Đức Sixte IV và tiến sĩ ngày 14-03-1588 do Đức Sixte-quint.
            Lễ nhớ : 14 tháng 7

Thánh Camilô Lellis linh mục (1550-1614)
            Sinh hạ tại Chieti trong rạng núi Abruzze (Ý), vào quân ngũ và thích cờ bạc. Được ơn trở lại, người vào dòng Phan sinh và làm nghề Y tá tại Lamã. Nhận thấy tình cảnh đáng thương của các bệnh nhân trong các nhà thương. Năm 1582, Người thành lập dnòg giáo sĩ giúp bệnh nhân gọi là Dòng Camilô. Dấu hiệu riêng là một cây thánh giá đỏ khâu trên áo dòng đen. Theo lời khuyên của thánh Philiphê Neriô, năm 1584, người nhận chức linh mục. Cả đời đi khập khểnh vì một vết thương ở chân rất đau đớn, người vẫn đi giúp bệnh nhân quên ăn quên ngủ. Dòng bành trướng mau lẹ, tổ chức cả những xe cứu thương.
            Năm 1930, Đức PIÔ XI đặt thánh nhân làm quan thầy các nhân viên bệnh viện và các bệnh nhân.
Lễ nhớ : 18 tháng 7.

Thánh Nữ Maria-Madalena (Thế kỷ I)
            Ngày trước, người ta lẫn lộn giữa Maria-Madalena và ba người phụ nữ được Phúc âm nói đến là:
            -Người đàn bà tội lỗi vô danh đã đến đổ thuốc thơm trên chân Chúa và lấy tóc lau. (Lc 7,37-50)
            -Maria ở Bethania, em của Matta và Lagiarô. Cô cũng đã xức thuốc thơm nơi chân Chúa và lấy tóc lau, (Gio.11,11:12,3).
            -Maria ở Magdala (Magdala là một làng trên bờ hồ Tiberiade) người được Chúa Giêsu đuổi bảy quỉ (LC 8,2) và có mặt dưới cây thập giá khi Chúa chết. Cô dự vào việc an táng; trở ra mộ hai hôm sau để hoàn tất việc xức xác, nhìn thấy ngôi mộ trống. Maria là người đầu tiên được nhìn thấy Chúa sống lại và đi báo cho các tông đồ.
            Thì, chỉ Maria Magdala này được ghi trong niên lịch phụng vụ sau cuộc cải tổ lịch phụng vụ Lamã mới.  Cũng do sự lầm lẫn lâu giữa ba nhân vật mà Maria-Madalêna được coi là quan thầy những phụ nữ hoàn lương, những người bán cước hoa và những người buôn găng tay.
            Cũng do sự lầm lẫn lâu ấy mà có những tương truyền khác nhau, như việc Maria Madalêna đã đến xứ Gaule, có từ thề kỷ XI, người ta kính thánh tích của Bà ở Vezelay, trên con đường hành hương đến Compostelle; cũng tại Provence, từ thế kỷ XIII có những cuộc hành hương lôi kéo nhiều người đến Sainte Marie de la mer, nơi mà người ta cho rằng Maria-Madalêna đã đổ bộ, với em là Lazarô với nhiều phụ nữ khác, có cả người tớ gái là Sarah, quan thầy của những người phiêu bạt Gitans.  Cũng như tại Sainte-Baume nơi có một bộng đá Người ở và tại Saint-Maximin có phần mộ cuả Người.
            Tại Đông phương, tương truyền rằng Maria-Madalêna chết và được chôn ở Ephêsô. Năm 899, Hoàng Đế Lêô VI đã chuyển thánh tích của Người hay là được coi như vậy, về một tu viện ở Constantinople. Từ Đông phương, việc tôn sùng đến Tây phương vào thế kỷ X.
            Vậy chúng ta chỉ biết về những gì Phúc âm nói đến về vị thánh nữ đặc biệt ấy và ngày nay hình như chỉ có Madalêna-Magdala mới có tên trong lịch phụng vụ mới.
            Lễ nhớ: 22 tháng 7.

Bà Thánh Brigitte - Thụy Điển (1303-1373
            Sinh hạ trong một gia đình quí phái Thụy Điển và kết bạn sớm, có 8 đứa con, trong số ây có nữ thánh Catarina Thụy Điển. Sau một cuộc hành hương ở Compostelle, bà với chồng đồng lòng đi tu. Nhưng ít lâu sau, chồng qua đời. Thánh nhân sống một cuộc đời nghèo khó, chiêm nghiệm. Những cuộc suy ngắm của Bà được lưu lại thành những tác phẩm đạo đức, gọi là “những mạc khải,” làm cho Bà trở nên rất danh tiếng. Phần lớn về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, về ngày tận thế, về hỏa ngục. Như nữ thánh Catarina Thụy Điển con của Bà, thánh Brigitte hằng thôi thúc các Giáo Hoàng ở Avignon (Pháp) phải trở về Lamã. Năm 1363, thánh nhân lập Dòng Chúa Cứu Chuộc. Bà qua đời tại Lamã sau cuộc hành hương ở thánh địa trở về. chính con Bà, Catarina tiếp tục công việc. Thánh nhân được coi là quan thầy Thụy Điển.
            Lễ nhớ: 23 tháng 7.

Thánh Giacôbê Tiền – Tông đồ tử đạo (khoảng 44)
            Như em là thánh Gioan tông đồ, Giacôbê giữ một vai trò trọng yếu trong nhóm mười hai. Người đứng vào hang thứ hai hay thứ ba sau Phêrô trong bản danh sách chính thức. Ông được chọn với Phêrô và Gioan để làm chứng nhân việc con gái ông Jaire sống lại, việc Chúa biến hình và việc Chúa hấp hối trong vườn Gietsimani (MC 5,37:9,2;14,33). Một ngư phủ tại Betsaiđa trong một gia đình xem ra khá giả, thân sinh, ông Giêbêđê, có người làm thuê (MC 1,19-20) và em là Gioan quen biết thầy cả thượng phẩm (Gio 18,15-16). Giacôbê và Gioan Được Chúa gọi là Boanergès nghĩa là con sấm sét, biệt danh (Mc 3,17) ám chỉ những người nóng tính, được chứng minh trong hai dữ kiện được Luca (9,54) và Marcô (10, 35-41) kể lại.
            Giacôbê bị giết “bằng gươm” theo lệnh của Herode Agrippa (CV 12,2) vào khoảng năm 42. Vào cuối thế kỷ II, Clement Alexandria quả quyết, “theo những người trước” rằng người tố cáo Giacôbê đã trở lại và chịu chết một lần với Ngài.
            Theo tục truyền, Giacôbê có sang giảng đạo ở Tây Ban Nha. Nhưng sử liệu cho thấy sự kiện chỉ được nói đến lần đầu vào thế kỷ thứ VII và Phaolô là vị thừa sai đầu tiên khi Giacôbê đã chết và giáo hội đầu tiên ở Tây Âu là Giáo Hội Lamã, Đức Innocent I công bố rõ ràng năm 416 như vậy.
            Việc tôn sùng thánh nhân ở Compostelle Tây Ban Nha dựa trên một bản văn cho rằng năm 808, ông Theodomir đã tìm thấy xác thánh nhân, “do một ngôi sao lạ chỉ” và rước về Compostelle (là Campus stellae: địa thế ngôi sao). Một đại thánh đường được xây lên và nơi đây trở nên một trung tâm hành hương lớn kính viếng thánh tích của vị tông đồ được hình dung như một người hành hương tay cầm gậy, mang theo dấu hiệu một chiếc vỏ trai (phải chăng dùng để uống nước).
            Lễ nhớ: 25 tháng 7.

Thánh GioanKim (thế kỷ I)
            Thánh GioanKim là thân phụ của Đức Mẹ. Về đời sống của thánh nhân chồng của Bà thánh Anna thân mẫu của Đức Mẹ, người ta hay rập theo hình ảnh của ông Giacaria, thân phụ của Gioan tiền hô. Thánh Gioankim được tôn kính và mừng lễ cùng một lúc với bà thánh Anna. Thánh Anna rất được dân chúng sùng kính và thánh Gioankim cũng được đặc biệt nhắc đến.
            Song thân phụ mẫu của Đức Mẹ được tôn kính như những người biết khiêu động nơi con cái sự đáp lại ơn gọi của Thiên Chúa.
            Lễ nhớ: 26 tháng 7.

Thánh Anna, thân mẫu của Đức Mẹ
            Những gì chúng ta biết về bà thánh Anna đều do cuốn Tiền Phúc âm Giacôbê, viết vào thế kỷ thừ II. Tuy nhiên câu chuyện mang nhiều nét vui tươi, độc đáo, đầy ý nghĩa tượng trưng sự thánh thiện.
            Nếu Anna phải chịu nhiều khinh miệt và đau khổ vì son sẻ, thì để nói lên rằng muốn cộng tác vào công cuộc cứu chuộc, phải thông phần đau khổ của Chúa. Và như vậy, Anna mới được Chúa ban cho một người con vô tiền khoáng hậu. Một ngày kia, khi Anna đang cầu nguyện thì một thiên thần hiện ra loan báo bà sẽ sinh hạ một người con. Anna đã hứa hiến dâng cho Thiên Chúa. Người con đó là Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Anna đã kết bạn với Gioankim lúc lên 20 tuổi và sinh hạ Maria lúc đã 40. Và hai ông bà đã qua đời trước ngày Chúa Giêsu ra đời.
            Việc tôn sùng Bà thánh Anna có từ lâu ở Đông phương và truyền qua Tây phương do đạo binh thánh-giá. Người ta được biết Bà thánh Anna được đặc biệt tôn kính ở xứ Bretagne như vị thánh quan thầy. Tại đây, có môt ngôi thánh đường kính thánh nữ ở Auray, được xây cất tại nơi Thánh nữ đã hiện ra với một pho tượng được tôn kính ở trong nguyện đường cổ xưa hơn nữa. Thánh đường Bà thánh Anna Auray trở nên một trung tâm hành hương lớn.
            Bà thành Anna cũng được đặc tôn kính như quan thầy của xừ Québec (Gia-na-đại), vương cung thánh đường Sainte Anne de Beaupré là một trung tâm hành hương của Bắc Mỹ.
            Lễ kính: 26 tháng 7.

Nữ thánh Matta (thế kỷ I)
            Phúa âm cho biết Matta cư ngụ tại Bêtania cùng em là Maria và Lagiarô. Bà đón tiếp Chúa nhiều lần. Một hôm bà than phiền vì phải làm hết mọi thứ trong khi Maria chỉ ngồi dưới chân Chúa. Chúa Giêsu trả lời: “Matta, Matta, con lo lắng về nhiều điều. Nhưng chỉ có một điều cần thiết. Maria đã chọn phần nhất hảo và không bị ai chiếm lấy.”
            Phúc âm cũng thuật lại việc Lagiarô chết, chôn 4 ngày đã được Chúa cho sống lại. Vào dịp ấy, Matta đã nói lên niềm tin của Bà: “con tin rằng Ngài là đấng Kitô. Con Thiên Chúa đến trong thế gian.” Bà chủ nhà Bêtania đã trở nên quan thầy của các chủ khách sạn.
            Một huyền thoại cho rằng Bà đã cập bến ở Provence với hai em là Maria và Lagiarô, với các bà thánh thiện. Bà đã đến Tarascon, giết chết một con rồng đang phá hại dân gọi là con Tarasque. Bà được coi là quan thầy của thành phố. Thật ra, huyền thoại dựa trên câu chuyện của một Matta khác, một nữ tu Ba Tư, tử đạo năm 347 mà hài cốt chôn ở Tarascon.
            Lễ nhớ: 29 tháng 7.
            Có 10 vị Thánh hoặc Chơn Phước mang tên Matta.

Katie Thảo Trần