TÂM LINH VÀO ĐỜI - SỐ 35 - Số 35: Ngày 25.11.2006
Lời Giới Thiệu
Thống nhất hay hiệp nhất là một vấn đề đang được nhiều người quan tâm - Khổng Nhuận
Yves Congar – nhà thần học nổi danh là một nạn nhân điển hình theo quan điểm nặng về Thống nhất của Giáo triều Roma Qua bài Yves Congar - với “vòng kim cô” về tôn giáo- Nguyễn Thái Hợp, O.P.
Và bài Yves Congar – Thiên thần chiến đấu hay một Ngôn sứ - Thiện Cẩm, O.P.Khổng Nhuận
Người ta thường lẫn lộn giữa thống nhất và hiệp nhất.
Thống nhất mang dáng vẻ bên ngoài của một tổ chức với những quy định càng chặt chẽ, chi tiết bao nhiêu thì càng có vẻ thống nhất bấy nhiêu.
Có rất nhiều mẫu thống nhất nhưng không phải là hiệp nhất
Một nhóm cùng mặc một màu áo: thống nhất chứ chưa phải là hiệp nhất.
Một cộng đoàn có một lá cờ chung, một điều lệ chung: thống nhất chứ chưa phải là hiệp nhất.
Một cộng đòan mà tất cả một lòng một ý theo tiêu chuẩn hoặc giả vờ theo ý của anh trưởng chóp bu: thống nhất chứ chưa phải là hiệp nhất.Hậu quả tai hại của thống nhất
Về phương diện tập thể:
Thống nhất dễ dẫn tới niềm hãnh diện tập thể. Nhìn các đòan thể chung quanh, cộng đòan tôi mạnh nhất, tiến bộ nhất, yêu thương đòan kết nhất. (hàm ẩn ánh nhìn coi thường các đòan thể khác..)
Một huynh trưởng nào nổi quá, thực hiện được nhiều việc lợi ích cho các thành viên nhóm mình, có thể bị các huynh trưởng khác ghen ngầm, cắt nghĩa xấu cho việc làm tích cực với tội danh rất ư là hợp pháp: “không theo đường lối cộng đoàn”. Tay huynh trưởng này chỉ còn một nước là âm thầm tách mình ra khỏi cộng đòan mà thôi.
Các ca đòan trong một giáo xứ cũng thế. Thông thường, mỗi ca đoàn cũng âm thầm cố gắng làm sao để ca đòan mình hát hay nhất, tổ chức tốt nhất, với bộ cánh đẹp nhất, sang nhất, “không đụng hàng”.
Về phương diện cá nhân lãnh đạo:
Thống nhất khiến cho đa số nhà lãnh đạo mong muốn cộng đòan phải thống nhất một cách gần như tuyệt đối: Giờ cầu nguyện phải theo đúng thứ tự, không được sai một dấu phảy… Các thể lệ tổ chức những cuộc huấn luyện cũng phải rập khuôn y như sách hướng dẫn. Các bài huấn luyện cũng phải được tuân thủ một cách sít sao, không chế biến, thêm bớt…. thậm chí những ai chỉ cần cầm tài liệu đọc từng đoạn một như một náy cassette không hồn, rồi giải thích cho tới hết bài thì càng được khen là nói đúng ý cộng đoàn
Tại hại hơn nữa, chính niềm uớc mong thống nhất khiến vị lãnh đạo cộng đòan trở thành độc đoán, nắm quyền sinh sát trong tay, coi cộng đòan như thuộc quyền sở hữu riêng mình, dù vẫn luôn oang oang tuyên bố: “Đây là công trình của Thiên Chúa” - Nhưng thực tế rất phũ phàng: chỉ có ý kiến của vị lãnh đạo là đi đúng đường lối cộng đoàn. Tất cả mọi sáng kiến của lãnh đạo là anh minh nhất, sáng suốt nhất. Anh nào hay có ý kiến này nọ dù là để xây dựng tốt hơn, nhưng vì không hợp với ý của vị lãnh đạo thì sẽ bị kết tội gây rối cộng đòan và sẽ bị lọai trừ nhẹ nhàng theo kiểu cho ngồi chơi xơi nước – cuối cùng, phải ngậm ngùi ra đi dù trong lòng rất muốn phục vụ chung với anh em.
Cảm nhận được những tai hại trầm trọng đang tác oai tác quái trong các cộng đòan, kể cả cộng đòan cấp giáo xứ hay giáo phận, tác giả Nguyển Trọng Viễn đã lớn tiếng cảnh báo: Đạo sinh họat - một căn bệnh trầm kha!!!Tại sao Thống nhất không là tiêu chuẩn nền tảng?
Thống nhất là trái với quy luật tự nhiên
Chúng ta chỉ cần quan sát lá chuối: có nhiều loại khác nhau nên không cây nào giống cây nào.
Và trong một cây, không lá nào giống y hệt lá nào.
Thống nhất là đi ngược lại lời mời gọi của Thiên Chúa.
Thiên Chúa mời gọi mỗi người khác nhau. Riêng mỗi cá nhân, mỗi một giai đoạn, Chúa lại đưa ra những lời mời gọi đa dạng, hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, không bao giờ hoàn toàn giống nhau suốt cuộc đời. nông dân, công nhân, y tá, giáo sư, bác sĩ, giáo dân, tu sĩ, linh mục… một người có thể đóng nhiều vai trong những giai đoạn khác nhau trong cuộc sống trên trần gian này.Tiêu chuẩn nền tảng: chính là hiệp nhất
Nhưng làm sao biết cộng đòan nào hiệp nhất???
Câu trả lời thật gay go và quá phức tạp… dễ đụng chạm, dễ xa nhau…
Nhưng chắc chắn có một điều quan trọng nhất và là nền tảng của mọi cộng đoàn: mỗi thành viên phải thực sự sống hiệp nhất với Thiên Chúa..Nếu không được tất cả … thì càng nhiều càng tốt…
Bởi vì chính Thần Khí tình yêu sẽ là một chất keo tuyệt hảo nối kết chúng ta lại với nhau. Chúng ta không thể hiệp nhất khi mỗi người trong chúng ta mang CÁI TÔI to đùng. Vì thế cá nhân hiệp nhất với Chúa của lòng mình chính là nền tảng vững chắc nhất cho hiệp nhất của cộng đoàn – dù cộng đòan nhỏ hay lớn cỡ Giáo Hội.
Nói tới sống hiệp nhất với Thiên Chúa, ai cũng tự hào: Tôi sống hiệp nhất với Thiên Chúa - nhưng được khi đặt vài câu hỏi thì lập tức câu trả lời sẽ trở thành rất mơ hồ.
- Bạn tin có Thiên chúa không? -Tất nhiên.
- Chúa ở đâu? -Chúa ở Thiên Đàng, trong nhà thờ và ở bên tôi.
- Tốt lắm, bạn có sống kết hợp với Chúa không?? -Chắc chắn là có rồi.
- Tuyệt vời..Xin hỏi mỗi ngày bạn nhớ Chúa đuợc mấy phút và thực sự sống kết hợp với Chúa được mấy giây? -Tất nhiên đây không phải như nhớ người yêu – mà đó là những giây phút thức tỉnh – những giây phút cảm nhận Chúa đang hiện diện sống động trong tâm mình
À..À.. chuyện này coi bộ khó trả lời…
- Như vậy việc sống kết hiệp với Chúa – sống hiệp nhất với Chúa của bạn - chỉ trên lý thuyết..
-Có lẽ đúng là tớ sống trên lý thuyết ..Vậy mà bấy lâu nay đi đâu tớ cũng khoe là mình ngon lành lắm và tớ còn tuyên bố vung vít: “Ai muốn nên thánh thì xin mới vào cộng đòan của chúng tôi”. Hóa ra tất cả chỉ là “thùng rỗng kêu to”.
- Nếu bạn không thực sự sống kết hiệp với Chúa trong tình trang thức tỉnh thì chuyện hiêp nhất với nhau chỉ là chuyện không tưởng….
Câu chuyện có thể tạm dừng ở đây..Nhưng cũng đủ chứng tỏ vấn đề thống nhất và hiệp nhất vẫn còn đang nằm trong mớ bòng bong..để rồi mọi chuyện vẫn như cũ. Vị lãnh đạo tha hồ làm mưa làm gió. Làm thành viên chỉ còn một bổn phận duy nhất: VÂNG PHỤC. Vâng phục quả là một trái táo thơm cho các vị lãnh đạo, nhưng các thành viên thử ghé răng cắn vào.. lập tức nghe ngọt thì ít nhưng đắng cay vô cùng.. Như vậy, chỉ còn thống nhất bề mặt nhưng bề trong không một chút hiệp nhất…
Tóm lại, điều khẩn thiết nhất là cả vị lãnh đạo lẫn thành viên phải khám phá ra sự hiện diện của Chúa ngay trong tâm mình… chứ không phải Chúa ngự trên ngài vàng.. rồi vị lãnh đạo tự phong cho mình THAY MẶT CHÚA để ra hàng trăm mệnh lệnh còn thành viên chỉ còn biết cúi đầu VÂNG PHỤC…
Đây là một cuộc cách mạng – một cuộc thay đổi con người cũ thành con người mới – một cuộc đổi mới tư tưởng, đổi mới quan niệm – metanoya đích thực - chứ không phải chỉ ngòai miệng..Có như thế cộng đòan mới hy vọng đạt được sự hiệp nhất trong đa dạng – vấn đề thống nhất sẽ trở thành thứ yếu. Có đó, nhưng không cần nhấn mạnh. Nặng hiệp nhất – nhẹ thống nhất.P. Nguyễn Thái Hợp, O.P.
Toạ đàm, Hội thảo và Thuyết trình chuyên đề vẫn được coi là thành phần thiết yếu trong sinh hoạt trí thức của các Đại học và các Trung tâm Học vấn. Khó có thể tưởng tượng một Trung tâm Học vấn năng động, sáng tạo và đầy sức sống mà lại vắng bóng những sinh hoạt ngoại khoá đó. Trên thực tế, tiềm năng và sự phát triển trí thức của một Trung tâm Học vấn thường biểu lộ qua công tác giảng dạy, công trình nghiên cứu, các cuộc Hội thảo chuyên đề, số lượng và chất lượng ấn phẩm.
Hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam trong mấy thập niên vừa qua làm cho các sinh hoạt ngoại khoá bình thường nói trên trở thành chuyện không tưởng và viễn mơ. Trong giai đoạn bao cấp đó, hoàn thành chương trình đào tạo tối thiểu theo qui định của giáo luật đã là một thành công lớn lao. Những chuyện khác đành phải xếp lại, hạ hồi phân giải.
Nhưng lịch sử đã sang trang và đất nước đang cố gắng cởi bỏ bộ áo bao cấp để hoà nhập vào dòng chảy chung của nhân loại. Đối diện với toàn cầu hoá và nền văn minh trí tuệ, rất nhiều thách đố đang được đặt ra cho sứ vụ loan báo Tin Mừng của Giáo hội. Để có thể trả lời cho những thách đố của thời đại, một số người đã đề nghị nên triệu tập một Công đồng Vatican III. Oái oăm thay, tại quê hương đất nước của chúng ta, ngay vấn đề căn bản là tiếp thu đường hướng “canh tân và thích nghi” của Công đồng Vatican II … vẫn chưa làm xong !!!Làm sao lấy lại thời gian đã đánh mất và lấp đầy khoảng trống đó? Trong mấy năm vừa qua, bất chấp những giới hạn về nhân sự và những “vòng kim cô” nghiệt ngã của xã hội, Trung tâm Học vấn Đa Minh vẫn âm thầm tổ chức một số buổi Thuyết trình và Tọa đàm chuyên đề. Có thể coi chúng như những hình thức thử nghiệm, dưới dạng thức “bỏ túi” và thuộc loại “nội bộ nới rộng”.
Hội thảo “Yves Congar, con người và tư tưởng” khai mở một giai đoạn mới trong sinh hoạt thần học của Trung tâm. Hồng y Congar được chọn, vì năm 2004 kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ngài. Hơn nữa, Congar vừa là một tu sĩ Đa Minh kiểu mẫu, vừa là một thần học gia hăng say dấn thân cho Giáo hội. Cha đóng góp rất nhiều cho việc canh tân nền thần học Công giáo và chấp bút cho nhiều bản văn của Công đồng Vatican II.
Quá bức xúc về tình trạng chia rẽ bi thảm của Kitô giáo, Yves Congar đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho “niềm đam mê hiệp nhất”. Nghiêm túc đọc lại lịch sử Kitô giáo và chân thành nghiên cứu quan điểm thần học của mỗi Giáo hội, cha nhận thấy mỗi Kitô hữu và mỗi Giáo hội có một vai trò, một tiếng nói trong lịch sử thánh mà Thiên Chúa đã viết ra. Mỗi bên cũng có một nét đẹp riêng biệt do Thiên Chúa trao ban ... Chính vì vậy, mỗi Giáo hội cần lớn lên không phải bằng cách hạ thấp và kết án người khác, mà vì biết đón nhận ánh sáng Thiên Chúa từ kẻ khác và truyền đạt cho nhau những gì Chúa giúp mình thực hiện…
Rất tiếc, lòng tha thiết phục vụ sự hiệp nhất Kitô giáo và những đề nghị canh tân Giáo hội của cha đã bị hiểu lầm một cách tai hại. Tất cả chiều hướng thần học tiến bộ và những đề nghị canh tân cơ cấu để trung thành hơn với Tin Mừng đã bị kết án: cha bị cách chức giáo sư, không được giảng thuyết, cấm xuất bản và phải đi lưu đày.
Bị “kết án phải im lặng”, phải từ bỏ môi trường sinh hoạt trí thức và phải sống xa những người thân yêu một cách bất công, vào giai đoạn sung mãn nhất của cuộc đời nghiên cứu, Yves Congar cảm thấy choáng váng, chới với và hầu như tan vỡ ! Cha cảm nghiệm một cách sâu xa như đang bị tước đoạt dần dần lẽ sống và bị đánh mất chính căn tính. Trong giai đoạn lưu đày ở Anh, nỗi cô đơn khủng khiết cứ gặm nhấm tâm hồn, mỗi ngày một ít. Cha xuống tinh thần rõ rệt. Nhiều lần, dưới lớp sương mù dày đặc và ảm đạm của Luân Đôn, cha đã khóc tức tưởi hàng giờ.
Trong lá thư gởi thân mẫu nhân dịp bà cụ kỷ niệm bát tuần, cha thổ lộ: “Trên thực tế, người ta đã huỷ hoại con. Người ta đã huỷ diệt con bao nhiêu có thể. Tất cả những gì con đã tin tưởng và đã xả thân thực hiện, đều bị tước đoạt: phong trào đại kết (hầu như con đã chẳng làm gì nữa kể từ năm 1939!), dạy học, diễn thuyết, hoạt động giúp các linh mục, cộng tác với tạp chí Témoignage chrétien,v.v...; tham dự các đại hội (của trí thức Công giáo...).
Người ta đã không đụng đến thân xác con, trên nguyên tắc, người ta cũng không đụng đến tâm hồn con; người ta cũng chẳng đòi hỏi con điều gì. Nhưng không thể giản lược một con người vào da thịt hay linh hồn. Nhất là khi người đó lại là một tông đồ về đạo lý; anh ta là hoạt động của anh ta, là tình bằng hữu, là mối tương quan, là sự toả sáng bình thường của mình. Người ta đã tước đoạt khỏi con tất cả những điều đó; người ta đã chà đạp lên tất cả và như thế người ta đã làm tổn thương sâu xa đến bản thân con. Người ta đã dẫn con đến độ chẳng còn gì cả, và tất nhiên người ta đã huỷ diệt con. Đôi lúc, hồi tưởng lại ước vọng thế này thế nọ và đã bắt đầu làm, con tan nát cả cõi lòng.
Con cũng biết tình trạng vô phương cứu chữa. Con biết họ rõ lắm. Con biết rằng khi họ đã truy lùng ai, thì họ truy lùng cho đến chết. Người ta đã cho phép cha Sertillanges được trở lại nước Pháp khi cha đã ngoài tám mươi tuổi (…). Trong ba lần lưu đày, lần này nghiệt ngã hơn cả. Không phải là cuộc sống ở Anh quốc không có những khía cạnh tốt đẹp: con xin ghi nhận điều đó. Các bạn đồng nghiệp hiếm hoi của con (…) rất tử tế. Nhưng, ngoài trở ngại ghê gớm về ngôn ngữ, họ hầu như chẳng tha thiết gì đến điều con quan tâm. Con tri ân họ vì rất nhiều điều tốt đẹp, nhưng con thiết nghĩ họ sẽ không bao giờ là những người bạn thân của con. Trong thực tế, ở đây, con không có bạn. Con cô đơn một cách khủng khiếp”.
Đối với Yves Congar, Giáo hội vừa là Mẹ vừa là một thập giá nghiệt ngã. Có một lúc nào đó trong những năm dài ảm đạm này, cha đã tuyệt vọng đến độ muốn kết liễu sớm cuộc đời bằng chính cái chết hay tìm cách giải quyết vấn đề bằng biện pháp hồi tục. Nhưng nhờ sự động viên của bạn bè, nhờ sức mạnh nội tâm và nhất là nhờ tình yêu đối với Mẹ – Giáo hội, cha đã quyết liệt chống lại cám dỗ muốn tìm những giải pháp dễ dãi đó. Cha nhất quyết ở lại, sẵn sàng hy sinh tất cả, can đảm đi trọn con đường thập giá và cố gắng không để mình bị nghiền nát bởi “hệ thống tai ương” của giáo triều lúc đó, ngõ hầu các thế hệ tương lai được giải thoát khỏi “vòng kim cô” về tôn giáo.
Bất chấp những khổ đau và thất vọng, cha vẫn kiên cường giữ vững niềm tin. Giữa những mây mù tăm tối, cha vẫn sáng suốt nói lên xác tín thâm sâu của niềm tin: “tôi phải bước đi để Giáo hội tiến lên”.
Cuốn sách nhỏ này quy tụ các bài tham luận đã được thuyết trình tại Hội thảo “Yves Congar, con người và tư tưởng” do Trung Tâm Học Vấn Đa Minh tổ chức vào ngày 30 tháng 10 năm 2004. Ngoài ra, chúng tôi đã trích dịch nguyên văn lá thơ Yves Congar viết cho thân mẫu và giới thiệu thêm ba bài tiêu biểu về Yves Congar của đức Hồng y Walter Kasper, linh mục Timothy Radcliffe, O.P. và linh mục Herver Legrand, O.P.
Dựa trên nội dung, chúng tôi đã chia tập sách nhỏ này thành hai phần rõ rệt. Phần I mang tựa đề : Yves Congar, con người và tư tưởng. Phần này qui tụ một số bài nghiên cứu nhằm giới thiệu con người và quan điểm thần học của tác giả. Bài “Yves Congar, thiên thần chiến đấu hay một ngôn sứ” của linh mục Thiện Cẩm trình bày về con người và cuộc đời thăng trầm của Congar. Đức cha Bùi Văn Đọc giới thiệu “Thánh linh học của Yves Congar trong bối cảnh hậu Công đồng”. Linh mục Nguyễn Thái Hợp giới thiệu “Yves Congar, một thần học gia khai mở”, đặc biệtvề ba lãnh vực Giáo hội học, đối thoại Đại kết và thần học giáo dân.
Với tư cách là một giáo sư được hân hạnh tiếp nối công trình nghiên cứu của cha Congar, thần học gia Hervé Legrand làm nổi bật một hình ảnh đã gây nhiều ấn tượng: “Yves Congar, niềm đam mê hiệp nhất”. Đức Hồng y Walter Kasper nhìn lại con đường Đại kết chông gai và sự đóng góp quý báu của Yves Congar trong tiến trình hợp nhất đầy chông gai này.
Phần II mang tính cách chứng từ nhiều hơn và xoay quanh chủ đề “Dấu ấn Yves Congar”. Trước hết, nữ tu Mai Thành gợi lại hình ảnh “Yves Congar: con người đại kết”. Kế đó, linh mục Nguyễn Trọng Viễn suy nghĩ chung quanh “dấu ấn giáo hội học” của Yves Congar. Với tư cách một giáo dân, giáo sư Nguyễn Khắc Dương nói lên ấn tượng và cảm xúc của mình khi đọc “Những điểm mốc cho một thần học giáo dân” của Yves Congar.
Chúng tôi cũng hân hạnh giới thiệu bài giảng của linh mục Timothy Radcliffe, cựu Tổng quyền Dòng Đa Minh, nhân dịp lễ an táng của cố Hồng y Yves Congar. Cuối cùng, xin được kết thúc cuốn sách nhỏ này bằng lá thơ rất độc đáo, trong đó cha Yves Congar đã bộc lộ nỗi lòng với thân mẫu, nhân dịp bà cụ mừng bát tuần.Đối với Giáo hội Công giáo, Công đồng Vatican II đã xuất hiện như một mùa xuân, sau những mùa đông giá lạnh và kéo dài lê thê hàng bao thế kỷ. Sự đóng góp của Công đồng cho Giáo hội không phải chỉ nằm ở những bản văn, mà trước hết và trên hết là những định hướng. là giữa Giáo hội với thế giới. Chính Vatican II đã khai mở một hướng đi mới qua chủ trương đối thoại với thế giới và con người hôm nay.
Nếu tại tại Tây phương, chỉ mấy năm sau khi Công đồng bế mạc, có những người đã lấy làm tiếc là Công đồng đến quá chậm: khi Giáo hội vừa vất vả mở xong cánh cửa ra thế giới bên ngoài … thì lịch sử đã sang trang. Nhân loại lại phải đối đầu với những khó khăn và thách đố khác. Chính vì vậy, nhiều dự phóng và điểm nóng của Vatican II nhanh chóng bị thời gian vượt qua, hay ít nhất không còn cái hứng khởi, phấn kích, mởi mẻ của thuở ban đầu.
Hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của Việt Nam đã khiến Giáo hội chúng ta ở trong một tình trạng khác hẳn: một nửa nước không được tiếp xúc trực tiếp với Công đồng và bốn mươi năm sau Công đồng, công việc tiếp thu Công đồng của Giáo hội Việt Nam hình như vẫn ở giai đoạn ban đầu. Cần nhiều cố gắng và sáng kiến hơn nữa mới có thể lấp đầy khoảng trống, đồng thời rút ngắn khoảng thời gian đã mất.
Ước mong “con người và tư tưởng của Yves Congar”sẽ giúp chúng ta hiểu, yêu mến và tiếp thu Công đồng một cách hữu hiệu hơn. Đặc biệt, tâm tình gắn bó của cha Congar đối với Giáo hội sẽ giúp chúng ta cảm thông và yêu mến Giáo hội hơn. Đặc biệt, thái độ can trường đi đến tận cùng con đường thập giá của cha sẽ khích lệ chúng ta can đảm dấn thân để Giáo hội tiến lên và để giảm thiểu, bao nhiêu có thể, các “vòng kim cô” về tôn giáo cho các thế hệ tương lai.
Xin chân thành cảm ơn các thuyết trình viên, các giáo sư, các sinh viên của Trung Tâm Học Vấn Đa Minh và tất cả những ai đã tích cực cộng tác để tổ chức thành công Hội thảo nói trên. Lời cuối cùng là lời tri ân các dịch giả và quý anh chị đã giúp hoàn thành tập sách này.Lm Thiện Cẩm, O.P.
1- Yves Congar là ai ?
Ngày 13-4-2004 kỷ niệm đúng 100 năm ngày sinh của hồng y Congar, một người đã dâng hiến cả cuộc đời để phục vụ Giáo hội, đặc biệt trong lãnh vực Giáo hội học và Đại kết. Nhưng cũng thật là một điều nghịch lý và mỉa mai, khi vì chính sứ vụ phục vụ cho hiệp nhất ấy, mà cha Congar đã có thời gần như bị loại trừ, hay nói đúng hơn, bị đẩy ra bên lề Giáo hội, bị “cấm vận”, cô lập hoá, mãi cho đến ngày chân phúc Gioan XXIII lên kế vị Thánh Phêrô, mới được phục hồi danh dự, hơn thế nữa, còn được chọn làm một chuyên viên thượng thặng của Công đồng Vatican II, và người ta đã không lầm mà coi ngài như một trong những cột trụ xây nên Công đồng
Yves Congar là ai ?
Ngài là con út của một gia đình có bốn anh chị em, ba trai, một gái, sau này sẽ trở thành nữ tu dòng Biển Đức. Yves Congar sinh ngày 13-4-1904 tại Sedan, nước Pháp.
Ngay trong tuổi thơ, Yves Congar đã phải trải qua kinh nghiệm của Đệ nhất thế chiến, đã phải sống trong lãnh thổ bị Đức chiếm đóng. Chính vì phải sống những biến cố như vậy, nên bà mẹ của Yves đã khuyên các con ghi chép lại những kỷ niệm trong những trang nhật ký, và nhờ vậy, Yves đã có thói quen ghi nhớ kỹ và ghi lại những biến cố của đời mình, cũng như của xã hội và Giáo hội. Cái "nghề" viết lách khởi sự từ đó.
Sau chiến tranh, Yves đã tìm được ơn gọi tu sĩ và linh mục, nhờ ảnh hưởng của linh mục Daniel Lallement, một người mà sau này cha Congar sẽ có những bất đồng sâu sắc về thần học và tu đức, đến nỗi hai người không còn có thể gặp gỡ và đối thoại với nhau.
Nhưng trước đó, Yves đậu bằng cử nhân triết học tại đại học Sorbonne, rồi nhập ngũ thi hành nghĩa vụ quân sự, với tư cách là sinh viên sĩ quan trường võ bị Saint-Cyr, rồi như sĩ quan quân đội chiếm đóng bên Đức. Giải ngũ, Yves dứt khoát chọn lựa dòng Đa Minh, thay vì dòng Biển Đức. Vào nhà Tập tỉnh dòng Pháp cuối năm 1925, tại Amiens, khấn dòng ngày 8-12-1926.
Kế đó là cuộc lưu đầy đầu tiên, hoàn toàn có tính cách tự nguyện, vì lý do chính phủ cực tả của Pháp thời bấy giờ không chấp nhận các tu sĩ. Dòng Đa Minh cũng như các dòng khác phải chọn con đường lưu vong. Yves cùng với các anh em sang Bỉ, “tị nạn” ở Saulchoir. Congar thụ phong linh mục ngày 25-7-1930, năm sau trình bày luận án Lectorat (1) về một đề tài liên quan tới Hiệp nhất. Ngay sau đó được cử làm giáo sư môn hộ giáo, rồi Giáo hội học. Chính trong giai đoạn này cha Congar nhận thức được ơn gọi Đại kết của mình. Cũng trong thời kỳ này hình thành mối quan hệ đặc biệt giữa cha Congar với cha Dominique Chenu và cha Henri-Marie Féret, khiến ba người mãi mãi gắn bó không bao giờ xa rời nhau. Cha Chenu vừa là thầy, vừa là bạn, còn cha Féret là người bạn đồng hành tâm giao nhất, lúc nào cũng sẵn sàng chia sẻ trọn vẹn mọi nỗi vui nỗi buồn, và cả những lúc cay đắng, tuyệt vọng nhất trong đời cha Congar.
Chúng ta không thể tóm gọn, trong khuôn khổ một bài thuyết trình, cuộc đời phong phú nhưng cũng đầy sóng gió khủng khiếp của nhà thần học vĩ đại này, bởi vì nguyên cuốn Nhật ký một nhà thần học, ghi lại những biến cố xảy ra trong vòng 10 năm, từ 1946-1956, đã dày tới 441 trang !
Ở đây, chỉ xin gợi lên một vài nét chính của cuộc đời cha Congar, đặc biệt là nói tới hai giai đoạn đen tối nhất của cuộc đời cha, cũng như cách thức mà cha vượt qua được những cơn thử thách nặng nề hầu như quá sức chịu đựng.
Trước hết, tưởng nên nhắc lại rằng cha Congar là một nhà Giáo hội học, và là ngôn sứ phục vụ cho sự hiệp nhất Giáo hội. Ơn gọi này, theo cha nói, đến với cha vào khoảng những năm 1929-1930, khi cha đọc chương 17 Tin Mừng theo thánh Gioan. Cũng chính vì thế mà cha đã chọn đề tài hiệp nhất cho luận án Lectorat của mình, tựa đề là Sơ thảo luận đề về Hiệp nhất Giáo hội, được trình bày trước hội đồng giám khảo ngày 7-6-1931.
Theo cha Congar, sứ vụ ngôn sứ của ngài là “mở ra” và phục vụ cho sự phát triển. Sứ vụ đó đòi hỏi không chỉ thời gian, mà trước hết là sự tự do. Cha ý thức rằng lãnh vực hoạt động của mình rất tế nhị, đưa cha tới những vùng biên cương, rất dễ bị người ta nghi ngờ, cấm cản.II. Những đợt sóng thần
a)- Đợt sóng thần thứ nhất
Mặc dầu các tác phẩm nói trên chưa bị đặt vào Index, nghĩa là loại sách cấm đọc: ai đọc thì có tội (!), nhưng cha Congar cũng đã bị một cú sốc kinh khủng. Cha thực sự rơi vào khủng hoảng, vào sự tuyệt vọng khi nghĩ rằng mình sắp sửa bị khóa miệng. Tuyệt vọng đến nỗi theo Étienne FOUILLOUX, người giới thiệu cuốn Journal d’un théologien nói rằng, có lúc cha Congar nghĩ đến một sự sớm chấm dứt cuộc đời. Cũng từ đó, cha Congar có mối hận sâu sắc với bộ Thánh Vụ, đến nỗi ngài để hai chữ Thánh Vụ trong ngoặc kép, có ý mỉa mai cho rằng đó là một cơ quan chẳng “thánh” tí nào, và không ngần ngại so sánh với Gestapo, cơ quan mật vụ Đức quốc xã ! Điều mà cha Congar phiền trách và chống đối bộ Thánh Vụ hồi đó, là không chấp nhận một chủ nghĩa đa nguyên tối thiểu nào, để nhờ đó người ta có thể đưa ra thảo luận một cách thanh thản những vấn đề chưa được ngã ngũ. Cách thế hành sử quyền bính của bộ là làm thần học dựa vào thế kẻ có quyền, và bắt mọi người phải tuân phục quyền bính của mình, nghĩa là chấp nhận vô điều kiện quan điểm thần học của các viên chức trong bộ. Ngoài ra, với nguyên tắc giữ bí mật thuộc loại tuyệt đối dành riêng cho các thành viên của bộ, các nạn nhân không bao giờ được biết lý do tại sao mình bị lên án. Do đó, mặc dầu cha Suarez, Bề trên Cả dòng Đa Minh thời ấy, dù biết nhưng không được hé răng nói cho người anh em của mình biết để mà đề phòng, tránh né: bởi vì cha là thành viên của bộ ấy.
Mà quả thật điều đó đã xảy ra.
Ngày 22-9-1946, đức Piô XII cảnh cáo Tổng hội dòng Tên và Tổng hội dòng Đa Minh không được rời xa học thuyết của thánh Tôma Aquinô, vốn được giảng dạy từ trước tới nay trong các học viện của hai dòng. Những áng mây đen bắt đầu xuất hiện ở chân trời, khi thông điệp Humani generis ra đời, lên án chủ nghĩa tân thời, modernisme, ngày 24-11-1946. Riêng đối với cha Congar, thì khó khăn trực tiếp là gặp trở ngại khi tái bản cuốn Chrétiens désunis, Người Kitô chia rẽ. Không những thế, ở Rôma, người ta đang chuẩn bị đưa ra những chỉ thị khắt khe liên quan đến các tác phẩm của cha. Vào năm 1950, những tin đồn về việc cha sẽ bị trục xuất khỏi học viện Saulchoir (bấy giờ là Saulchoir gần Paris), thậm chí bị “cấm vận”, được loan truyền.
Tuy nhiên cơn sóng thần chỉ ập tới và đạt cao điểm vào năm 1952, khi lệnh từ bộ Thánh Vụ, Saint-Office, của Tòa Thánh, được công bố, theo đó, cấm tái xuất bản, cấm dịch cuốn Vraie et fausse Réforme dans l’Église, Cải tổ thật và cải tổ giả trong Giáo hội. Hơn thế nữa, nhà thần học của chúng ta còn bị bắt buộc phải nộp tất cả tác phẩm mình cho Bề trên Cả của Dòng kiểm duyệt. Việc kiểm duyệt này theo ý định ban đầu của bộ Thánh Vụ, phải được trao cho các viên chức của bộ, nhưng vì Bề trên Cả Dòng Đa Minh cũng là thành viên của bộ này, nên ngài đã tranh đấu đòi quyền ấy, với hy vọng bênh vực được cho người anh em của mình.
Điều đáng nói, là nhiều hồng y, giám mục tầm cỡ như Liénart, Tisserant, Montini, Villot v.v. muốn bênh vực cha Congar, nhưng cũng không dám ra mặt công khai… Quyền lực của bộ “Thánh Vụ” làm cho mọi người sợ hãi !
Ngày 15-16 tháng 3/1952, cha ghi trong nhật ký những dòng sau đây: “Tôi như một người mà vợ hay con mắc bệnh nguy đến tính mạng. Người ấy đã chiến đấu với tất cả sức lực của mình, và chính cuộc chiến đấu ấy đem đến đến cho anh ta sức mạnh. Anh ta sẽ có thể tiếp tục chiến đấu hai năm, ba năm nữa. Thế rồi, một đêm, người vợ chết.
Thế là tất cả sự mệt mỏi chồng chất bấy lâu ập xuống cùng một lúc, đè bẹp anh ta. Anh ta còn đó nhưng không còn sức mạnh, chẳng còn tương lai.”
Ngày 18 và 19 tháng 3 cha ghi: “Không có gì cả. Hai trong những ngày xấu nhất của cả đời tôi. Có lẽ đây là hai ngày xấu nhất đời tôi. Tôi nhận được thư khuyến khích thuận phục !!! “Họ” sẽ để tôi thối rữa.”
Cha Congar chỉ còn biết nghĩ tới thập giá và thánh ý Thiên Chúa, và hy vọng ít ra còn có thể làm việc, viết lách, nếu không còn được phép xuất bản. Nhưng cha cũng nghĩ tới khả năng gửi các tác phẩm của mình vào Institut de France, hay giao cho một người công chứng nào đó, để yêu cầu họ xuất bản sau khi cha qua đời. Ngài viết: “Tôi không chấp nhận Gestapo (ám chỉ bộ Thánh Vụ). Tôi vâng phục mệnh lệnh. Tôi không có quyền hy sinh việc phục vụ Chân lý . Rất đơn giản, công việc này sẽ đòi hỏi tôi nhiều hơn.”
Cha phàn nàn rằng phần đông hàng Giáo phẩm hoàn toàn thiếu thực tế trong cách nhìn sự việc. Các ngài chỉ hài lòng với việc cử hành các nghi thức bên ngoài của Giáo hội Công giáo, bảo vệ cái khung, cái vỏ xã hội. Còn những vấn đề thì chẳng bao giờ có thực đối với các ngài. Còn nếu ai nói tới thì sẽ bị coi là kẻ nguy hiểm, gây phiền hà và đáng nghi ngờ. Ngài ghi lại rằng, trong một cuộc đàm đạo với cha Gourbillon, người anh em Đa Minh này có nói với cha: “Đây là Kinh Tin kính của tôi: Tôi tin Hội Thánh đã hoả thiêu Jeanne d’Arc, đã kết án Galilée, và làm thế giới bực mình.” Còn cha Congar thì trả lời: “Còn tôi thì bắt đầu Kinh Tin Kính từ câu: Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.”b)- Đợt sóng thần thứ hai
Ngày 1-8-55, cha Congar gặp cha giám tỉnh Ducatillon vào lúc 19 giờ. Cha giám tỉnh nói ngay với ngài rằng: “Tôi có những chuyện rất nặng nề phải thông báo cho cha đây”, rồi ngài trao cho cha lá thư của cha Bề trên Cả Browne, bằng tiếng Pháp, đề ngày 27-7-55, đó là một “monitum Sancti Officii” liên quan đến bài viết mang tựa đề “Conditions théologiques d’un pluralisme”. Những điều kiện thần học của chủ nghĩa đa nguyên, in trong cuốn Tolérance et communauté humaine, Lòng bao dung và cộng đồng nhân loại. Cuốn sách này phải được thâu hồi lại, và cấm dịch ra tiếng nước ngoài. Cha Bề trên Cả nói rằng đây là một nỗi buồn lớn cho Dòng và cho Giáo hội. Và ngài còn nói: đây là một bí mật của bộ "Thánh Vụ", nên phải giữ kín.
Đợt sóng thần đầu tiên chưa kịp lắng dịu, thì một đợt sóng thần khác lại ập tới, và lần này có vẻ dữ dội, lan rộng, đe dọa cuốn đi nhiều người, thậm chí còn đe dọa xóa sạch Dòng Đa Minh bên Pháp, và ảnh hưởng tới cả tương lai Giáo hội Pháp nữa.
Chỉ riêng biến cố này cũng đủ cho một bài nghiên cứu dài, nếu không phải là cho một cuốn sách dày. Ở đây, chúng ta chỉ có thể ghi lại một đôi nét tổng quát.
Trước hết, như đã nói, đợt sóng thần thứ hai, 1954, không chỉ đe dọa cha Congar, mà còn đe dọa cả dòng Đa Minh Pháp, và một cách nào đó, cả tương lai Giáo hội Pháp, bởi vì nó đe dọa tới chính sự tồn tại của dòng Đa Minh Pháp, cũng như nền thần học của Giáo hội xứ này.
Thật vậy, dòng Đa Minh Pháp, và cả Giáo hội Pháp không thể quên cái ngày định mệnh 6-2-1954, khi mà Bề trên Cả của dòng Anh em Giảng thuyết bất thình lình tới phi trường Orly, Paris, vào buồi chiều, triệu tập các giám tỉnh của ba tỉnh dòng Pháp phải từ chức, thay thế ba vị này mà không qua thủ tục bầu cử theo đúng Hiến pháp, đòi hỏi giám sát, kiểm duyệt chặt chẽ các báo chí và ấn phẩm của anh em, và nhất là đẩy bốn nhà thần học nổi tiếng của tỉnh dòng Paris ra khỏi thủ đô, đó là các cha Boisselot, giám đốc nhà xuất bản Le Cerf, cha Chenu, người đã từng bị “cấm vận” năm 1946, cha Congar và cha Féret, hai giáo sư của học viện Saulchoir.
Đây đích chực là một cuộc “thanh trừng” xảy ra trong một bối cảnh mà giữa Rôma và Giáo hội Pháp đang có những mối căng thẳng, bất đồng, liên quan tới không những vấn đề tư tưởng thần học, mà còn đặc biệt tới vấn đề các linh mục thợ, mà lệnh rút khỏi các nhà máy được ấn định vào ngày 1-3-1954.
Cá nhân cha Congar bị cưỡng chế rời khỏi Paris, và cha đã chọn trường Kinh Thánh Giêrusalem làm chốn nương thân. Nhưng điều nặng nề hơn cả, chính là ngài bị “cấm vận”, không được giảng dạy, và một lần nữa, các tác phẩm của ngài bị đặt dưới sự kiểm duyệt của Bề trên Cả của dòng.
Tuy nhiên, mặc dầu vậy, lần này cha chịu đựng thanh thản hơn lần trước. Có lẽ vì đã sống quen với bầu không khí thử thách.
Thực ra, cha Congar cũng như các sử gia, cho tới ngày nay vẫn chưa nắm hết được những lý do sâu xa của cuộc khủng hoảng trầm trọng này, do những bí mật hầu như tuyệt đối của tiến trình đưa đến cuộc thanh trừng. Chỉ biết rằng, vào giai đoạn này, Đức Piô XII đang bệnh nặng (kể từ 26-01-1954), hầu như không qua khỏi, trong khi đó, các thế lực bảo thủ ở Rôma, trong đó có cả những tu sĩ Đa Minh Pháp nổi tiếng như Garrigou, Paul Philippe v.v., cũng là những anh em Đa Minh người Pháp, không ưa gì các anh em của mình tại mẫu quốc. Vậy mà, theo cha Bề trên Cả Suarez, nếu không trả giá bằng sự hy sinh ra đi của ba giám tỉnh và 4 nhà thần học Pháp, thì sự tồn tại của cả dòng Đa Minh sẽ bị trực tiếp đe dọa, chứ không chỉ có dòng Đa Minh bên Pháp. Thực ra, cha Congar, cũng như nhiều người bấy giờ nghĩ rằng tình thế rất có thể sẽ bị lật ngược, hay ít ra dịu bớt, khi mà Đức Piô XII qua đời. Nhưng chuyện đó chỉ xảy ra bốn năm sau. Tuy vậy, dự đoán của mọi người quả là đúng. Thật vậy, khi lên ngôi kế vị Đức Piô XII, Đức Gioan XXIII đã triệu tập Công đồng Vatican II và triệu cha Congar về Rôma làm chuyên viên cho Công đồng !
Trở lại với cuộc “thanh trừng” năm 1954, theo cha Congar kể lại, cha Bouessé, giáo sư học viện Đa Minh Saint-Alban-Leysse của tỉnh dòng Lyon, viết cho cha ngày 12 tháng 2 rằng: “Thà làm nạn nhân còn hơn là làm lý hình. Dòng (Đa Minh) bên Pháp sẽ nổi tiếng hơn nhờ biến cố này.” Lời tiên tri này đã được ứng nghiệm.
Có quá nhiều điều phải nói về biến cố này. Chỉ riêng tháng 2-1954, cha Congar đã viết dày trong nhật ký của cha, mà chúng ta đang tham khảo, ghi lại gần như từng chi tiết các sự kiện và những suy nghĩ, phản ứng của cha. Về mặt lịch sử mà nói, riêng biến cố cuộc thanh trừng này đáng được nghiên cứu và trình bày cặn kẽ.
Cha Suarez qua đời do tai nạn xe hơi xảy ra gần Perpignan, Pháp, ngày 30-6-1954, có lẽ trên đường tới Paris với một sứ vụ phiền toái khác, có thể là để thăm dò khả năng thay đổi Hiến pháp Dòng Đa Minh theo ý muốn của Tòa Thánh, hay vì một chuyện gì khác quan trọng, mà chẳng ai biết được.
- Hiến Pháp dòng Đa Minh độc đáo ở chỗ qui định rằng tất cả các chức vụ trong dòng, từ tu viện trưởng đến giám tỉnh và Bề trên Cả, đều được bầu ra theo một tiến trình dân chủ tuyệt đối. Ai cố tình ngăn cản hay vi phạm đều bị rút phép thông công tức khắc. Vậy mà bây giờ bộ "Thánh Vụ” và một số bộ ngành khác ở Vatican muốn dòng phải cải tổ Hiến Pháp, thay thế việc bầu cử dân chủ bằng việc bổ nhiệm, hầu cho họ có thể dễ dàng can thiệp vào nội bộ của dòng.
Có người coi cái chết này như một sự giải thoát, cứu Dòng Đa Minh khỏi áp lực của giới bảo thủ ở Vatican.
Cha Congar từ Giêrusalem trở về Paris ngày 19- 9-1954, trong tâm trạng khá thất vọng, chỉ biết sống ngày này qua ngày khác, bám víu vào đức tin, nhờ lời cầu nguyện.
Tại Rôma, người ta tố cáo rằng anh em Đa Minh chỉ vâng phục bề ngoài mà thôi, còn bên trong thì vẫn tiếp tục hoạt động. Cha chưa biết phải đi đâu. Ngày 28-10-1954, cha Ducatillon, giám tỉnh, mời cha đến trao cho cha thư trả lời của cha Gomez tạm quyền Bề trên Cả, nói rằng cha phải đi Rôma một năm, và ở tại Santa-Sabina, trụ sở Dòng.
Cha ghi trong Nhật ký ngày Chủ nhật 30-10: “Tôi đọc trong Công vụ Tông đồ 23,11: “Hãy vững lòng ! Con đã long trọng làm chứng cho Thầy ở Giêrusalem thế nào, thì con cũng phải làm chứng như vậy tại Rôma nữa.”
III. Vác chiếu ra tòa
Cha Congar từ Giêrusalem trở về Paris và được lệnh lên đường sang Rôma. Cha bị trát đòi vác chiếu ra tòa, trả lời trước bộ Thánh Vụ, về những điều mà người ta tố cáo cha, mà quan tòa được chỉ định lại là một anh em Đa Minh, thuộc Tỉnh dòng Toulouse: Marie-Rosaire Gagnebert !
Người ta tố cáo cha về nhiều tội danh chẳng hạn như về những quan điểm sai lầm về Giáo hội học, về Thánh Mẫu học, về con người, không phù hợp với quan điểm của Rôma. Còn cha thì vẫn cho rằng các viên chức bộ ngành, các nhà thần học Rôma có quan niệm về một Giáo hội tự mãn, coi mình là công chính và tự đề cao vinh quang của mình, “lạm phát” trong cách thức diễn tả và lòng sùng kính Đức Maria. Đàng khác, cha cũng lo ngại về nỗi bi quan chia cắt Giáo hội với thế giới, phân cách Rôma của Đức giáo hoàng với cả Giáo hội còn lại. Giáo hội chỉ được dạy cho biết phải đi theo con đường đồng nhất, sùng bái và vâng phục.
Thực ra, cuộc “đối thoại” giữa Congar và Gagnebert trong hai ngày 14 và 18-12-1954 không đến nỗi gay cấn, nặng nề như dự đoán, mặc dầu cha Congar một mình đối diện với cha Gagnebert, không được mang theo bất cứ tài liệu nào, cũng chẳng được tham khảo những tài liệu tố cáo ngài, và không được ghi chép tại chỗ cuộc trao đổi, và phải giữ bí mật tuyệt đối. Dù sao thì cha Gagnebert cũng không muốn làm cho cuộc trao đổi thêm nặng nề, theo kiểu một buổi hầu tòa đúng thủ tục. Một cách khéo léo, cha Congar được gợi ý để giải thích quan điểm và lập trường của cha, không những qua những tác phẩm quan trọng như Chrétiens désunis, Vraie et fausse Réforme dans l’Église, mà còn phải trả lời những tố cáo đủ loại chống lại cha. Cha Congar đã thẳng thắn giải tỏa mọi thắc mắc và tự biện hộ cho mình, chẳng khó khăn gì. Sau mỗi lần trao đổi với nhau như vậy, cha Gagnebert đều làm biên bản, có chữ ký của người anh em Saulchoir. Những biên bản đó được nộp cho bộ Thánh Vụ để xem xét và đưa ra phán quyết.
Nhưng lần này bộ Thánh Vụ không vội đưa ra phán quyết của mình, khiến cha Congar phải lưu lại Rôma, trong bầu khí căng thẳng. Cha lấp đầy lỗ hổng thời gian bằng cách đi thăm các nhân vật của Rôma, từ hàng giáo phẩm đến các nhà thần học, nhờ vậy mà cha để lại cho chúng ta phác hoạ những chân dung chẳng mấy đáng khen ngợi…
Những ngày đầu ở Rôma, cha Congar cảm thấy thực tế còn tệ hơn là cha đã nghĩ. Không ai nói gì về tương lai của cha. Ai cũng chỉ bảo hãy chờ đợi. Hình như người ta chờ đợi Đức Piô XII qua đời. Cha tự hỏi có nên đi thăm đấng bậc này đấng bậc nọ hay không, nhưng cuối cùng thì cha tự nhủ: ai đi thì đi, chứ mình chẳng muốn đi làm gì !
Cha có cảm tưởng như đâu đâu cũng có bóng của bộ Thánh Vụ, và cái bóng đó bao trùm trên cả những sự việc cỏn con, tựa như việc phải tuân theo “chữ đỏ” trong phụng vụ, những chuyện chỉ đáng để những viên chức cấp dưới quan tâm. Rôma là thế giới yên tĩnh của các linh mục, tu sĩ, các tu viện với bóng những chiếc áo chùng thâm viền đỏ hay viền tím, cùng những tiếng chuông… Người ta thưởng thức rượu, bánh, bíp-tếch và ăn những quả táo… Còn “vấn đề” thì chẳng có, cũng như chẳng có chuyện một nữ tu vượt qua hàng rào nội cấm. Ở đây là luật pháp và trật tự. Thế giới còn đó, thế giới con người vẫn ở ngay bên, nhưng hầu như không có chỗ đứng trong hệ thống tổ chức và sinh hoạt của Giáo hội. Giáo hội tiếp tục tồn tại, nhưng không trên cùng một chiều dài lịch sử với con người. Giáo hội chỉ bận tâm đến sự tồn tại của chính mình, lấy mình làm khởi điểm suy tư, và suy tư về mình và cho mình, chứ không đi từ con người để phục vụ con người. Giáo hội không còn là Giáo hội được sai đi, vì đã có những người được Giáo hội sai đi, và thuộc các dòng tu chuyên biệt lo việc ấy.
Cha Congar có cảm tưởng như người ta bắt cha tới đây, chỉ với mục đích ngăn cha không được gần gũi với Paris. Cha cảm thấy đau đớn, như bị chấn thương tinh thần, như bị thương trầm trọng… “Họ đã bẻ gãy cái gì đó trong tôi, và từ đây tôi không còn là người như trước nữa.” Tuy nhiên cha vẫn cố gắng lạc quan, nhờ sống cầu nguyện và niềm hy vọng.
Trong những ngày này, cha có những cuộc gặp gỡ, trao đổi với những người như các cha Willebrands, Boyer, Gill, và đức cha Hofer tại đại học Grégorienne, để chuẩn bị cho cuộc hội thảo về đại kết vào tháng 8 (1954). Cha cũng có dịp trao đổi với cha Tromp S.J trong vòng 10 phút. Nhưng cuộc gặp gỡ có ý nghĩa nhất là với Đức cha Veuillot, hồng y tổng giám mục Paris sau này.
Đức cha Veuillot cho cha Congar biết, chỉ có một điều tích cực mà ngài có thể trình bày với Rôma, để bênh vực dòng Đa Minh, đó là sự vâng phục của anh em Đa Minh. Và ngài bảo ở Rôma, người ta cho rằng dư luận báo chí đang rùm beng lên, là do chiến thuật của các linh mục thợ. Nhưng cha Congar nói với Đức cha rằng dư luận báo chí nổi lên là một do một sự kiện có thực chất, chứ không giả tạo do sự phóng đại của báo chí hay ưa những chuyện giật gân. Đàng khác, không nên chỉ bằng lòng với một sự vâng phục máy móc, mà không cần đến sự đối thoại. Nếu chỉ nhìn theo khía cạnh giáo luật thì không giải quyết được vấn đề. Giữa linh mục thợ và Rôma có một sự bất đồng căn bản, vì đây là hai thế giới khác biệt. Rôma không tin con người (mà Đức Giêsu thì lại làm người)… Nhưng Đức cha Veuillot nói rằng sự thẳng thắn sẽ có hại cho uy tín của ngài ở đây ! Thật đáng tiếc, bởi vì sự thẳng thắn của quyền bính là một trong những điều kiện để người ta vâng phục. Rôma có thế giới riêng của mình, trong thế giới đó, tất cả đều qui về sự vâng phục, một sự vâng phục được pha chế với lòng sùng kính quá mức. Còn thế giới với những sự thật của nó không tồn tại trước mắt Rôma. Ở đây cũng chẳng có câu trả lời nào cho những vấn đề ấy. Chỉ có lòng sùng kính, và chỉ có cỗ máy đạo đức quay êm đều đều, dưới dấu chỉ của hai lòng sùng kính: sùng kính Đức Mẹ và Đức Giáo hoàng !
Phải chờ đến hai tuần lễ cha Congar mới biết điều mà cả cha giám tỉnh Ducatillon, cha Gomez , và có lẽ cả cha Giraud đã biết trước, mà không nói, vì phải giữ bí mật liên quan tới bộ Thánh Vụ ! Thì ra cha phải có mặt ở Rôma, chầu chực để gặp cha Gagnebert như hồng y Ottaviani muốn.
Câu chuyện bắt đầu với cuốn Chrétiens désusis. Người ta ca tụng rằng cuốn sách có thể hữu ích, vì vững chắc và nói chung là đúng đắn xét theo tổng thể. Tuy nhiên cần nhiều giải thích… Nhưng chúng ta không có thì giờ đi vào chi tiết. Về cuốn Chrétiens désunis cũng vậy. Người ta cũng trách cha Congar là đã coi Luther là một “thiên tài tôn giáo”, “génie religieux”. Cha Gagnebert bảo rằng các Giáo phụ sẽ chẳng thể nào gọi kẻ rối đạo là “thiên tài” được !
Rồi đến lượt cuốn Vraie et fausse Réforme. Cha Congar thấy trước mặt cha Gagnebert cả một cuốn sách in ấn hẳn hoi. Thì ra đó là cuốn sách in những báo cáo về cuốn sách của cha Congar. Ở Bộ “Thánh Vụ” người ta in tất cả những báo cáo của các nhà thẩm định, chứ không phải của các cố vấn thần học. Người ta cho rằng cha Congar quá lạc quan khi nói tới sự chiến thắng hoàn toàn đối với chủ nghĩa tân thời (modernisme), và như vậy là coi thường những nguy hiểm vẫn có. Thực ra đây chỉ là một sự bất đồng trong quan niệm về chủ nghĩa tân thời. Đối với cha Congar, chủ nghĩa tân thời là một giai đoạn quan trọng trong đời sống Giáo hội đầu thế kỷ XX, còn đối với Rôma, thì đó lại là một phạm trù tư tưởng triển khai mãi tới những thập niên sau này. Người ta cũng trách cha Congar cho rằng thật nguy hiểm khi đưa ra một học thuyết mà chỉ dựa vào những ý tưởng nhất thời hay của một trường phái, chứ không quy chiếu vào truyền thống sâu xa của Giáo hội. Cha Gagnebert còn cho biết người ta phê bình cha Congar quá chú trọng tới khả năng có những canh tân về phụng vụ. Cha Gagnebert tỏ ra vui mừng và đồng tình với cha Congar khi thấy cha không “dính” với các linh mục thợ. Nhưng cha Congar cho biết ngài lấy làm hối hận vì đã không phục vụ các linh mục thợ như một cố vấn thần học: đó phải là một vinh dự cho ngài. Bởi vì theo cha Congar, các linh mục thợ thiếu thần học và thiếu các nhà thần học.
Buổi làm việc kết thúc với việc ký biên bản. Cha Gagnebert khuyên cha Congar nên đi thăm các vị cố vấn thần học của bộ "Thánh Vụ", đặc biệt là cha Browne, Tôn sư của Thánh Điện (Sacré Palais), người sẽ chính thức kế vị cha Suarez làm Bề trên Cả dòng Đa Minh.
Về sứ vụ tư tế của giáo dân, theo cha Gagnebert thì không có dấu vết một lời tố cáo nào liên quan đến cuốn Jalons pour une théologie du Laicat, Mở đường cho một thần học về giáo dân, nhưng cha Gagnebert nghi ngại về cách sử dụng từ ngữ của cha Congar khi nói đến sứ vụ tư tế “riêng biệt” (propre) của giáo dân. Có lúc cha Congar tự nhủ: ở đây, Rôma, những vấn đề thực ra không quan trọng, chỉ cần là mình cử hành cho đúng, cho trọn vẹn cái nghi thức vâng phục quyền bính “Giáo hội”, nói cách khác, quyền bính của Giáo Triều.
IV- "Nghỉ hè” ở Paris
Cha Congar đến nơi mà cha thường gọi mỉa mai là “Nec nominetur…" , tức là bộ "Thánh Vụ", nơi cha đã phải làm việc với cha Gagnebert hai buổi. Bây giờ thì chúng ta cùng phải chờ đợi với ngài, phán quyết của “Nec nominetur” ! Nhưng mặc dầu phán quyết cuối cùng chưa đưa ra, ngày 28-2-1955, cha được cha McDermott vời đến, với giọng giận dữ truyền cha phải lên đường về Paris ngay lập tức. Theo cha McDermott, thì đó lệnh của “Đức Hồng y” (Ottaviani). Nhưng ngày 18, sau khi nhận được mấy chữ của cha Congar, cha P.Philippe đi gặp hồng y Ottaviani, và được ngài sai đi nói lại với cha Congar rằng đây là một cái “phép”, chứ không phải một mệnh lệnh.
Trong thời gian cuối cùng ở lại Rôma, cha Congar đã lợi dụng thời gian gặp gỡ các đấng bậc trong Giáo Triều và trong dòng, trong đó có cha Bề trên Cả Browne. Cuộc gặp gỡ này kéo dài 5 tiếng đồng hồ, rất nồng nhiệt hiếu khách, đúng tinh thần Ái-nhĩ-lan. Cha Browne nói với cha Congar hai điều: phải nhớ kỹ rằng các giám mục, và trên hết là Đức giáo hoàng, vị mục tử thứ nhất, mới là những vị có trách nhiệm trong sứ vụ tông đồ. Các linh mục, các nhà thần học chỉ có bổn phận thông tin, cố vấn, nhưng các giám mục mới có quyền khởi xướng mọi việc. Một cuộc gặp gỡ lý thú khác, là cuộc gặp gỡ với cha Jacques Dupont dòng Biển Đức , giáo sư triết học, người đã sống tại Trung Hoa tới năm1952. Cha Dupont nói với cha Congar rằng cộng sản ở đấy không giống với những gì mà các thông điệp giáo hoàng nói tới. Cách tuyên truyền và cái logique của họ rất lôi cuốn. “Nếu chúng ta có thể kinh nghiệm được điều đó khoảng vài tháng hay vài năm, thì tôi ước gì điều đó xảy ra tại đây: người ta sẽ thấy mọi sự hoàn toàn khác, không còn như thấy trước kia.”
Ngày 15-2-55, cha McDermott triệu cha Congar tới lúc 11 giờ, thông báo cho ngài rằng ngài có thể đi. Ngài được tự do, và vô điều kiện. Ngài có thể trở về Saulchoir và dạy học. Cha McDermott còn lấy làm vui sướng và chúc mừng cha Congar. Nhưng cha Congar nói ngài muốn ở lại Rôma ít ngày để thanh toán một số công việc, đi thăm một vài người, và để dọn đồ đạc v.v… Nhưng cha NcDermott hỏi: “Bao nhiêu ngày? Nửa tháng? Không ! Bốn ngày thôi, không hơn; cha đi bằng máy bay?”. Cha Congar muốn trả lời rằng tôi muốn lắm chứ, nhưng tiền đâu, lại còn hành lý nữa chứ. Và cha Congar tưởng cha McDermott sẽ bảo cha rằng: Tôi sẽ trả tiền cho cha. Nhưng không, cha McDermott chỉ nói: "Ngày mai là thứ Tư. Chiều chủ nhật, cha đi chuyến tầu đêm !”
Cha Congar phải rời Rôma như thế đó. Đúng như bị đuổi. Và như chúng ta đã nói, vẫn còn bị “án treo”. Chuyện Rôma ám ảnh cha đến nỗi khi về Pháp, cha nằm mơ hai lần thấy Gestapo và thấy KZ (Konzentrationslager), trại tập trung của Đức quốc xã dành cho sĩ quan Pháp, nơi cha từng bị giam giữ.
Chưa hết. Sau khi cha Congar nói với cha giám tỉnh rằng tất cả những chuyện này không làm cho cha xúc động lắm, cha giám tỉnh bèn chìa ra một lá thư khác đề ngày 24-7-55, do thư ký đánh máy. Người ta trả lời từ chối không cho cha dạy học ở Hautes Études. Thế là cha Congar bị tước đoạt tất cả, bị cấm vận hoàn toàn: không được in sách, viết báo, giảng dạy và làm việc cho Đại kết, không còn được diễn thuyết ở Saint-Jacques, tham dự các Ngày linh mục…
Cha Congar cảm thấy cái thòng lọng xiết cổ ngài chặt hơn năm ngoái. Cha than phiền với giám tỉnh rằng như vậy là bất công đối với ngài: “Người ta có thể phá hủy một con người, mà vẫn bình thản coi như không có chuyện”. Và cha Congar ngạc nhiên thấy cha giám tỉnh chẳng có lấy một lời nồng ấm tình người, mặc dầu ngài thông cảm và giữ tình cảm huynh đệ với cha. Cha còn được biết cha Browne đã nói ở bộ "Thánh Vụ" ngày 1-3-55 rằng cha Congar là một trong ba hay bốn nhà Giáo hội học lớn nhất. Vậy mà giữa lời nói và hành động thì lại khác xa nhau như vậy !
Mặc dầu đang trong tình trạng bị “cấm vận” như vậy, nhưng cha Congar vẫn được bầu làm một trong các đại biểu của Tỉnh dòng Pháp đi dự Tổng hội của Dòng tại Rôma, từ 2 đến 12 tháng 4-1955.
Ngày 3-4-55, tại Rôma, sau khi dự lễ khai mạc Tổng hội Dòng để bầu Bề trên Cả, và sau khi kiểm chứng thư của các nghị huynh, cha Congar gặp cha Paul Philippe để xem có tin tức gì mới liên quan đến mình không. Cha Philippe bảo rằng không, nhưng ngài nói Đức hồng y Ottaviani cho rằng bản văn gửi đi như thế là đủ rồi . Nhưng cha Congar cho rằng chưa đủ đối với họ.
Cha Congar dí dỏm cho rằng có lẽ người có khả năng được bầu làm Bề trên Cả dòng Đa Minh phải là người rất thành công đối với các nữ tu, và đối với các giới chức Rôma. Cha Paul Philippe có được những yếu tố đó, nhưng theo ngài thì như thế chưa đủ.
Có nhiều chuyện bất thường trong Tổng hội này. Điều rõ rệt nhất là Toà Thánh muốn can thiệp vào việc bầu Bề trên Cả lần này, và nhân vật được đề cử là cha Paul Philippe, và người đề cử là cha Browne. Cũng có những nghị huynh đề nghị bầu cho cha Aniceto Fernandez. Trong khi đó, cha Congar vận động ráo riết để các nghị huynh ý thức và bảo vệ cho sự tự do của dòng. Tuy nhiên, ngoài cố gắng can thiệp của những người đại diện của Toà Thánh, còn có sự nhất trí của khối nói tiếng Tây ban nha nhất quyết không bầu cho bất cứ người Pháp nào, nhưng cố gắng vận động cho cha Fernandez. Còn nếu như người Pháp nhất trí được với nhau bầu cha P.Philippe, thì có thể dễ dàng được các nghị huynh Mỹ, Canađa, Anh, Bỉ, Thụy Sĩ, Áo và Nam Tư ủng hộ. Riêng người Ý thì có 18 phiếu, buổi sáng thì bầu cho cha P.Philippe, nhưng vào buổi chiều lại đổi ý, theo lời khuyến cáo của cha Fanfani, không bầu cho cha P.Philippe nữa. Cha Congar thuyết phục các anh em của mình loại trừ cha P.Philippe ra khỏi danh sách.
Cuối cùng thì người Ý dồn phiếu cho một người khác, không phải là P.Philippe hay Fernandez, mà là cha Browne, với hy vọng cha Browne sẽ qui tụ được nhiều người ủng hộ, và như vậy để có một đa số nói lên sự hiệp nhất của Dòng, để hồng y Piazza có ấn tượng đẹp về sự hiệp nhất của Dòng, và như vậy là làm hài lòng Toà Thánh. Phần cha Browne thì vẫn duy trì candidat của mình: cha Paul Philippe, vì theo ngài, Toà Thánh đang lo ngại về thần học không chính thống của Pháp, nên phải chọn một người được Toà Thánh tín nhiệm, mà cũng phải là người hiểu rõ Pháp. Và ngài còn khẳng định rằng Toà Thánh không áp lực gì cả, và ngài hoàn toàn tự do, muốn bầu cho ai thì bầu.
Những cuộc trao đổi, bàn luận giữa các cá nhân và các nhóm, những cuộc vận động ráo riết tiếp tục diễn ra, kéo dài mãi tới ngày 11-4-55, cuộc bầu cử mới chấm dứt. Kết quả là cha Browne được bầu với 59 phiếu, cha Fernandez về nhì với 33 phiếu. Vào lúc 11 giờ 30 tất cả cộng đồng tu viện được mời xuống hát kinh Te Deum. Tân Bề trên Cả, sau khi tuyên thệ nhậm chức, đã phát biểu mấy lời, trong đó đặc biệt chỉ nhấn mạnh đến bổn phận vâng phục đức Giáo hoàng.
Ngay sau cuộc bầu cử, cha Congar xin cha Bề trên Cả mới cho phép ngài trở về Saulchoir. Cha Browne đã chấp thuận, mặc dầu Tổng hội vẫn còn tiếp tục làm việc tới ngày 17-4-55.V- Lưu đầy ở Babylon (Anh quốc)
Còn đang sống trong tâm trạng bi quan, buồn chán như vậy, thì ngày 3-11-55, cha giám tỉnh bảo cha Congar đến phòng cha tu viện trưởng và đưa cho ngài một tờ giấy: “Tôi nhận được cái này cho cha đây”. Đó là thư cha Bề trên Cả, đề ngày 25-10-55, trong đó viết: “Tôi đã quyết định thay đổi cha một thời gian sang bên Anh, tại Cambridge. Cha giám tỉnh, cha Carpenter, đồng ý, và cha bề trên của nhà dòng ở thành phố này chờ đợi cha với tất cả tình bác ái huynh đệ.” Chỉ có thế, không có thêm một lời giải thích. Lại một lần nữa, và đây là lần thứ ba, cha Congar vẫn chưa thấy mọi sự sẽ kết thúc ra sao. Có lẽ cái chết mới là sự kết thúc .
Trước khi ra đi, cha Congar gặp gỡ anh em cháu chắt và bạn bè. Cha Féret tặng cha một bộ clergyman. Nhưng cuộc gặp gỡ chia tay ấy càng làm cho ngài cảm thấy như bị tan vỡ. Giờ đây ngài cảm nghiệm rằng đức vâng phục, đi đôi với sự nghèo khó, đưa đến một sự nghèo khó tuyệt đối: ngài không còn là gì nữa, ngoài linh hồn của mình, ngài không còn có gì. Và sự bóc lột tới mức biến ngài ra không, làm cho ngài cảm thấy nặng nề. “Người ta đã cấm đoán tôi mọi sự, hay đã vứt bỏ tôi.”
Ơn gọi sống và phục vụ cho Đại kết bị chận lại, vì ngài không thể hoạt động, cũng chẳng thể xuất bản sách, đặc biệt là không thể tái bản cuốn Chrétiens désunis. Ngài cũng không còn cơ hội để bào chữa cho lập trường thần học của mình, chống lại những kẻ tự coi mình là “công giáo = Rôma”, mà thực ra chỉ là những sự tô màu phóng đại hay thái quá chẳng có nền tảng trong Tin Mừng. Cha đã dần dần bị tách ra khỏi những hoạt động trong hàng ngũ linh mục, trong giới sinh viên, đặc biệt là khỏi Saulchoir, môi trường tự nhiên của ngài. Ngài không thể tiếp tục in sách. Ba cuốn đang chờ nihil obstat mà không được: đó là Études conjointes pour une théologie du laicat; Mission, sacerdoce et laicat; Le Mystère du Temps và phép tái bản Chrétiens désunis cũng bị từ chối.
Ngài viết: “Nhất là từ Giêrusalem, tôi hiểu rõ hơn đức tin là gì; tôi đã khai triển và tôi đang phác thảo ra bằng cách đưa vào tổng hợp giáo hội học của tôi… Quả thật tôi sẵn sàng phó thác cho sự Phục vụ Chương trình của Thiên Chúa, phục vụ Thánh ý của Người, trong đức tin, nghĩa là không biết Người dẫn đưa tôi tới đâu, nhưng tôi biết rằng tất cả đường lối Chúa đều là ân sủng và thành tín, và Người là Đấng đem lại sự sống bên kia sự chết. Tôi sẽ ra đi trong những sự chuẩn bị sẵn sàng đó”.
Tuy nhiên cha Congar không loại trừ khả năng công việc phục vụ chân lý ấy có thể đưa ngài đến chỗ bị từ chối, hay tới những hành động nào đó. Cha Congar nói không bao giờ nghĩ đến chuyện rời bỏ Giáo hội, mặc dầu có nghĩ tới khả năng đối đầu với "cỗ máy" Giáo hội. Ngài nói: “Tôi sẽ không bao giờ ly khai, không bao giờ trở thành tin lành.” Nhưng ngài nghĩ tới khả năng có thể bị “dứt phép thông công”, nếu như ngài cứ cho người ta xuất bản các tác phẩm của mình, dù không được Nihil obstat. Ngài viết: “Tôi vẫn còn hoàn toàn vâng phục; nhưng công việc tôi đeo đuổi, dưới sức ép của những vấn nạn, những bản văn, công việc đó, ngay bây giờ, ở bên ngoài, bên trên những đòi hỏi của những người tâm đắc của Rôma, là các bề trên hợp pháp de facto của tôi.”
Cha Browne đến Le Saulchoir có vẻ mệt mỏi. Sau khi gặp gỡ các anh em trẻ, ngài chờ nghe cha Congar. Cha Congar nói với ngài những gì ngài đã nói với cha giám tỉnh, rằng ngài hoàn toàn bị hủy hoại, chẳng còn gì, chẳng còn là gì. Những lời cha Congar nói có vẻ gây ấn tượng cho cha Browne, ngài có vẻ như chưa từng hay biết. Tuy nhiên, khi cha Congar nhắc lại lá thư mà cha đã viết cho ngài ngày 19-5-55, thì ngài hầu như không nhớ gì, mặc dầu đã gửi thư báo đã nhận được thư ấy. Và ngài lấy luôn cả bản sao mà cha Congar mang theo.
Cha Congar trình bày với Bề trên Cả về nhiều vấn đề, đặc biệt là vấn đề Đại kết. Nhưng cha Browne vẫn chủ trương mọi sự phải được giải quyết theo đường hướng “bao cấp”: cần có Ủy ban này nọ nghiên cứu tích cực và chỉ đạo…
Cuối cùng, cha Browne đề cập tới chuyến đi của cha Congar sang Anh. Cha cho phép cha Congar ở lại tới Noel, cho phép cha đi giảng bên Scandinavie. Rồi với giọng quyến rũ, ngài nói với cha Congar: “Cha Congar thân mến ơi, tôi nài van cha hãy xuất bản cuốn sách của cha về quyền tối thượng (primauté của đức giáo hoàng), đó sẽ là vinh quang của cha đấy !”. Cha Congar chỉ trả lời: không thể được.
Ngày 5 và 7-11-1956 cha Congar viết tại Cambridge: “Thế là tôi trở về sau ‘kỳ nghỉ hè’ ở ‘Galilê’, (ám chỉ nước Pháp). Tôi cảm thấy trong mình một thứ sung mãn nào đó: tôi cảm thấy kỷ niệm một niềm hạnh phúc thấm nhập khắp người, cảm thấy như được xức dầu thơm, cảm thấy mình đã được hạnh phúc.
Hạnh phúc vì sao? Tôi thấy ít có những giây phút rõ rệt, nhưng cảm giác hạnh phúc đó liên kết với một sự hiện diện và một sự hiệp thông. Sự hiện diện của những người tôi yêu mến và được yêu mến; giữa họ với tôi có cái gì đó chung nhau, và sự hiệp thông trong cái mà người ta yêu mến, và cái mà nhờ đó người ta sống, cái mà người ta ước muốn, và cái mà người ta làm. Tôi đã gặp lại gia đình, ít ra là một số các cháu, và nhất là cha Féret, tất cả đã làm cho tôi được vui… Tôi nhớ lại vào một buổi chiều, tôi trở lại Saulchoir, trong bóng đêm mờ tối, đi vào nhà nguyện lúc anh em vừa hát bài ca Salve Regina…”
Còn bây giờ thì trái lại, cha Congar cảm thấy trống rỗng và cô đơn, nỗi cô đơn mà cha hay nói tới trong Nhật ký. Ở đây tất cả đều như không hiện diện. Không ai, không gì cả. Ở đây hình như lúc nào cha cũng ở dưới một lớp sương mù dầy từ 2 đến 300 m. Ngài đi ngủ với sương mù, thức dậy với nó, và suốt ngày chẳng thấy nó nhúc nhích, di chuyển, cả gió cũng không lay chuyển được nó. Nhưng điều khủng khiếp chính là sự trống vắng chung quanh. Không ai là bạn, không ai để giao tiếp, chỉ còn có việc là viết cho kín hết những trang giấy, và sống với những kỷ niệm đẹp đẽ trong “kỳ nghỉ hè”. Có những lúc đi dạo bắt gặp trời mưa, cha trú dưới bóng cây mà khóc, cảm thấy nỗi cô đơn lạc lõng, cứ phải mang mãi chiếc vali đi lang thang như một kẻ mồ côi. Cha tự hỏi không biết Chúa có nghe thấy những giọt nước mắt của cha đang rơi xuống hay không. Ngài khóc như vậy hàng giờ và nhiều lần như vậy, nhất là vào cuối tháng 7, đặc biệt là ngày 25 và 26, khi thấy rõ điều gì đã xảy đến cho mình, cảm thấy mình đã thất bại trong cuộc đời và như bị nguyền rủa …
Cha có thì giờ ngẫm nghĩ về cuộc đời đau khổ của những người khác, trong đó có chính mẹ của cha, người đã chịu nhiều khổ đau vì chồng mình. Cha nghĩ tới những nghệ sĩ, những nhà tư tưởng như Rilke, Van Gogh, Péguy, Claudel, Maritain… Cha cũng nghĩ tới những bạn tù không trở về từ những trại tập trung của Đức Quốc xã… Họ đã phải đau khổ hơn cha, bị nghiền nát, bị chà đạp…
Cha nói rằng từ ngày trở về Sedan đến nay, cha hiểu rõ hơn và thực hành sự hiệp thông với thập giá của con người, hiệp nhất với thập giá Chúa Kitô. Cha nói: “Chắc hẳn là tôi phải trở về với thập giá, phải sống hơn nữa mầu nhiệm mà từ đó tôi khai triển thần học về sự “khôn ngoan của thập giá.”
“Cuối cùng thì tôi phải trở thành người Kitô.” Cha viết như vậy.
C