tlvd-36-1

 

tlvd-39-7

tlvd-39-1

Số 39  Ngày 23.12.2006

Lời Giới Thiệu

Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề..
Một cách cửa đầu tiên hé mở vào thế giới Linh Đạo mênh mông…
Xin quý độc giả tiếp tục Đặt Vấn Đề : Chúa Đến chưa ???- Khổng Nhuận
Chúng tôi phải làm gì ??Trần Mỹ Duyệt
Đỗ Quang Vinh dâng Chúa bài thơ Viếng Chúa Hài Đồng 

Chúa Đến chưa??Chúa Đến Rồi!!

Khổng Nhuận

Mùa Giáng sinh luôn nhắc nhở chúng ta sự kiện mang tính lịch sử lẫn Thần học:
Chúa giáng sinh, Chúa xuống trần, Chúa đến..

Một chút nhận định về ý tưởng của thánh Bernado

Thánh Bernardo viết như sau:
"Trong lần ngự đến thứ nhất, Chúa Kitô là sự cứu rỗi chúng ta,
trong lần ngự đến cuối cùng, Ngài biểu lộ chính Ngài là sự sống chúng ta,
và trong lần ngự đến "qua trung gian" này, Ngài là sự an nghỉ và là sự an ủi chúng ta."
Chúng ta thử phân tích 3 cuộc ngự đến của Đức Giêsu

Chúa đã đến lần thứ nhất

Chúa đã Giáng sinh tại nước Do-Thái. Qua cuộc ngự đến này, Đức Giêsu  là sự cứu rỗi chúng ta. Nghe có vẻ không ổn. Nếu Chúa là sự cứu rỗi chúng ta, có nghĩa là chúng ta cứ việc ăn no ngủ kỹ, thậm chí chơi bời phóng đãng cũng được Chúa cứu bởi vì rõ ràng Chúa là sự cứu rỗi chúng ta mà.
Đã từ lâu chúng ta hiểu rất lơ mơ và chung chung về việc cứu rỗi.
Chúng ta thường hiểu cứu rỗi như là một cái vé để vào Thiên Đàng hưởng hạnh phúc với Chúa vui vẻ đời đời chẳng cùng Amen.
Muốn được tấm vé ấy chúng ta chỉ cần mến Chúa - yêu người. Nhưng mến Chúa đã khó, yêu người càng khó hơn!! Yêu người như mình ta vậy Amen. Chỉ đọc ngoài miệng, còn thực hiện thì chua hơn giấm..biết thế nào là đủ…thế nào là đúng…vòng tay chúng ta quá nhỏ bé, mong manh!!!
Đâu có ngờ tấm vé có ngay trong túi mà không biết dùng – có mà như không, thành thử ra giờ chết đến, quên khuấy đi mất, không biết mang ra mà trình cho Chúa…đành phải lủi thủi vào Luyện Ngục… hoàn toàn trông chờ vào lời cầu nguyện của anh em bà con thân hữu..và hy vọng vào lòng từ bi nhân ái độ lượng khoan dung của Chúa.
Lòng khoan dung của Chúa ở đâu?? …Tình yêu thương của Chúa ở đâu?? Sao Ngài nỡ tâm dậy đọa con cái Ngài lâu năm nơi luyện ngục như vậy!!!
Thực ra, Chúa không cứu độ chúng ta theo kiểu ký một tờ giấy tha tội, cho lên thiên đàng thẳng cẳng!! Nhưng Đức Giêsu đã khẳng định rất rõ trong Luca 4:18 về công trình cứu dộ của Ngài
Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi Loan Báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức…
Chúng ta thấy đó, ngay từ khi còn rong ruổi khắp nơi trên miền đất Do-thái, Đức Giêsu đã cứu độ chúng ta bằng một tuyên ngôn công bố cho chúng ta một tin cực kỳ vui mừng:
Này anh em, đừng tưởng rằng mình mù!!! Thực ra anh em vốn sáng mắt vì anh em vốn là con cái sự sáng được chính Thiên Chúa sinh ra.. mà Thiên Chúa là ánh sáng, làm sao anh em có thể mù tối được.. trong khi anh em là hình ảnh của Thiên Chúa sự sáng!!!
Này anh em!! Đừng lầm tưởng mình bị giam cầm, bị áp bức…anh em vốn rất tự do ..một thứ tự do tuyệt hảo của con cái Chúa.
Chính điều lầm tưởng này đã khiến chúng ta sống trong bóng tối của sự chết, sống dưới ách thống trị của Satan, sống trong gông cùm của những quan niệm tiêu cực do con người tạo ra: Chúng ta là vật phàm hèn, yếu đuối, tội lỗi xấu xa gớm ghiếc…chúng ta quên mất rằng chúng ta rất mạnh mẽ. bằng chứng là thánh Phaolô đã khẳng định:
Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ.  (2Tm 1:7)  
 Chúa đã đến lần thứ hai
Ngài sẽ đến lần cuối cùng trong ngày tận thế…chuyện này nghe có vẻ xa xôi quá!!! Trong lần đến đó, Ngài biều lộ chính ngài là sự sống chúng ta… 
Nghe thì có vẻ thú vị đấy.. nhưng nếu thực như vậy thì suốt cuộc sống trần gian này, chúng ta sống trong bóng tối sự chết hay sao??? Mà phải đợi mãi tới ngày tận thế, lúc đó chúng ta mới hưởng được sự sống của Ngài!! Vừa quá lâu, vừa quá phiêu du. Nếu lỡ lúc đó chúng ta không nhận được sự sống của Ngài thì sao??? Coi như cả một đời sống đạo trên trần gian này tan như mây khói vào hư vô!!!

Chúa ngự đến “Qua trung gian”

Trong lần ngự đến "qua trung gian" này, Ngài là sự an nghỉ và là sự an ủi chúng ta.
Chúa ngự đến qua những trung gian quen thuộc: suy gẫm, cầu nguyện, chầu Thánh Thể, chịu các phép Bí Tích đặc biệt là rước Mình Thánh Chúa…
Nhưng ngay những việc “Chúa ngự đến qua những trung gian” này, cũng nảy sinh hai vấn đề:
Vấn đề thứ nhất:
Có thực sự mỗi lần chúng ta lãnh nhận một Bí Tích, Chúa lập tức ngự đến không??!!
Theo như định nghĩa cổ điển: Bí tích là dấu chỉ bề ngoài để Chúa thông ban ơn thiêng liêng bề trong. À, mà theo định nghĩa này, khi chúng ta chịu phép Bí tích, chúng ta chỉ nhận được ơn Chúa thôi nhé, còn chính Chúa vẫn còn uy nghi ngự trên ngai vàng nơi trời cao thăm thẳm..
Nếu Chúa ngự đến thực, tại sao chúng ta chẳng thay đổi gì suốt hai, ba, bốn, năm muơi năm sống đạo??!!! Dường như càng lớn, chúng ta càng bê bối thêm, càng xa lạ với Chúa hơn, càng sa lầy trong kiểu giữ đạo theo thói quen, theo lối sống mòn muôn thủa từ thế hệ này sang thế hệ kia, cha truyền con nối, chẳng có gì thay đổi cả...Cuối cùng, chỉ còn gói gọn trong công thức: Tôi đi lễ ngày Chủ nhật, không bỏ lần nào. Bỏ là phạm tội trọng!! Về nhà, tôi không làm hại ai. Chấm hết!!!
Vấn đề thứ hai:
Nếu Chúa ngự đến thực, thì hóa ra trước đó tôi không có Chúa trong mình hay sao??
Hoặc là Chúa với tôi cứ chơi trò “HÚ TIM”.. chơi trò “TRỐN TÌM”. Sau khi Chúa ngự qua trung gian chừng mấy phút, Chúa trốn mất tiêu!! Rồi lại chờ Chúa ngự đến "qua trung gian" khác…
Rồi Ngài lại đến qua việc tôi rước lễ hay xưng tội hoặc viếng tthánh thể.. Chưa kịp uống một ngụm nước trà nóng hổi, Chúa đã đằng vân lên chín tần mây xanh ngắt!!! Để lại trong tôi một khoảng trống cô đơn… chờ lần Chúa ngự đến "qua trung gian" tiếp theo…
Chúng ta có thể tạm kết luận như sau, nếu theo thánh Bernado, việc Chúa ngự đến còn rất đỗi mơ hồ
Chúa đã đền lần thứ nhất, chúng ta cũng chẳng hưởng được ơn cứu độ của Ngài ngay tại trần gian này.
Chúa đến lần thứ hai: chúng ta chưa chắc nhận được sự sống viên mãn đời đời của Ngài.
Chúa đến qua trung gian: chúng ta và Chúa cứ mãi chơi trò Trốn Tìm, cứ như thể Chúa đến chớp nhoáng rồi Chúa vội biến rất nhanh.
Tới đây, chúng ta có thể hỏi nhau:
Chúa đến chưa?
Với những nhận định trên, Chúa đã đến thế gian và đang đến với từng người qua trung gian, nhưng dường như Chúa vẫn chưa thực sự đến và sống trong tâm hồn mình.
Bẳng chứng là tôi chỉ thấy cái thằng tôi to như cốt đình. Kể cả những việc đạo đức cũng mang dáng dấp cái tôi: để chứng tỏ tôi là người đạo đức, để người khác phục tôi sát đất…Còn chính Chúa thì tôi chẳng thấy đâu.
Tệ hại hơn nữa, tôi còn sự dụng Chúa như “thượng phương bảo kiếm” cho những hành động ngang nguợc của tôi. Chúa đã chọn tôi điều hành cộng đòan, tôi muốn nói gì thì nói, các thành viên phải tuyệt đối vâng phục. Cho dù hôm nay, tôi bảo điều này đúng, mai mốt, tôi lại bảo điều đó sai … các thành viên cũng phải chấp nhận như vậy - vâng phục tối mặt.
Ai không vâng lời tôi, không theo quan niệm của tôi,  thì phạm vào lỗi không vâng lời Chúa, phá rối cộng đòan..phải bị lọai trừ bằng mọi cách theo kiểu thế gian.

Thực ra Chúa đã đến rồi

Nếu nhìn với ánh mắt tâm linh, chắc chắn Chúa đã đến rồi.. hơn thế nữa, Ngài đã đến với tôi đã lâu lăm rồi!! Ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, Ngài đã tuôn đổ Thần Khí vào lòng tôi để thánh hiến tôi. Ngài đã sai tôi làm ngôn sứ cho muôn dân. (Gr 1:5)
Nói tuôn đổ cho vui, chứ thực ra chính Chúa đã hiện diện trong tôi ngay từ khi tôi chỉ là một mần sống nhỏ xíu trong cung lòng thân mẫu. Chúa ở đây đủ cả Cha – Con – Thánh thần..chứ không phải chỉ có một mình Thần Khí nhơn nhơ bay nhảy trong tôi!!
Trước kia tôi cứ tưởng mình phàm hèn yếu đuối, tội lỗi. Như trong một phiên khúc của bài thánh ca: Ớ linh hồn xấu xa phạm tội nhiều!!!
Nhưng từ khi tôi nghiêm chỉnh đọc lại Kinh Thánh một cách chậm rãi, suy tư, thao thức kiếm tìm…tôi mới khám phá ra Chúa quả thật đã đến với mình từ khuya rồi… Thánh Phaolô cũng có một kinh nghiệm như vậy. Từ một tay hung hăng bách hại người Kitô hữu đầu tiên, trở nên người suy tư kiếm tìm và cuối cùng cũng khám phá ra rằng: Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. (Gl 1:15)
Tóm lại, thực ra Chúa đã đến rồi.
Một câu hỏi thật gây cấn xuất hiện: Nếu Chúa đã đến rồi, cần gì phải có Mùa Vọng nữa làm chi??
Nếu mọi người Kitô hữu đều nhận ra thực sự Chúa đã đến, và sống trong mình thì lúc đó trần gian biến thành Thiên Đàng rồi còn gì.. Vì thế, vẫn cần phải có Mùa Vọng để giúp chúng ta đặt vấn đề Chúa đến cho thật nghiêm chỉnh để cuối cùng mỗi người tự khám phá ra Chúa đến và thực sự sống ngay trong tâm mình để chúng ta sống kết hiệp với Ngài trong tình trạng thức tỉnh sáng suốt của Thần Khí Thiên Chúa. Và lúc đó chúng ta có thể vui mừng, phấn khởi chia sẻ với người khác: Này anh em, Chúa đã đến thật rồi í

Lời Giới Thiệu

CHÚNG TÔI PHẢI LÀM GÌ?

Trần Mỹ Duyệt

1. “Vậy chúng tôi phải làm gì?” (Lc. 3:10).
2. “Lạy Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời” (Mt 19:16).
3. “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sống đời đời” (Lc 10:25.

Ba câu hỏi trên mang cùng một ý nghĩa, đó là những người hỏi muốn tìm được câu trả lời cho phần rỗi đời đời của mình. Và những người hỏi đại diện có một số chính trong nhân loại. Thành phần thuộc giới bình dân, thương gia và quân nhân. Thuộc giới dư giả tiền bạc, giầu sang và có thế lực. Và thành phần thuộc giới trí thức và hiểu biết. Phần rỗi ấy, sự sống đời đời ấy là nhận biết Đức Kitô là Con Thiên Chúa, Đấng đã đến trong thế gian và đã chết để cứu độ nhân loại
Về người được hỏi, thì câu hỏi đầu tiên dành cho Gioan Tiền Hô, còn lại hai câu, trực tiếp đặt vấn đề với Chúa Giêsu.
Đại diện thành phần bình dân gồm những người nghèo khổ, bần cùng, một số thuộc thành phần quân nhân đã hỏi Gioan Tiền Hô. Trong khi đó, đại diện giới giầu có và trí thức lại hỏi chính Chúa Giêsu. Nhưng nếu Gioan đã trở lời trực tiếp những vấn nạn của những người hỏi ông, thì với Đức Kitô ngài đã không trực tiếp trả lời những câu hỏi ấy mà lại muốn chính những người đã hỏi ngài phải suy nghĩ về những gì mình đã hỏi. Qua hình thức trả lời của Gioan Tiền Hô và của Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra điều này, đó là chân tướng của những chứng nhân Tin Mừng, và thái độ cần phải có khi gặp gỡ Thiên Chúa.
1. Chứng nhân Tin Mừng: Ngày nay nếu có ai muốn tìm gặp Chúa, muốn biết về Chúa thì họ phải làm gì? Dĩ nhiên, họ có thể tự mình học hỏi, tham vấn và tìm hiểu, như trường hợp người luật sỹ và anh nhà giầu đã hỏi Chúa về con đường phần rỗi. Nhưng thử hỏi những thành phần cao trong xã hội và trí thức này được bao nhiêu, do đó, phần còn lại vẫn là đông đảo những người chân lấm tay bùn, nghèo hèn, thất học, và lao động vất vả kể cả thành phần quân nhân.
Những người đến với Gioan Tiền Hô, họ đã được ông trả lời và bảo họ: “Ai có hai áo, hãy cho người không có, ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy” (Lc 3:10). Với những người thu thế, ông khuyên họ: “Các ngươi đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi” (Lc 3: 13. Và đối với những quân nhân, ông đã trả lời họ: “Đừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai, các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình” (Lc 3:14).
Đối với anh nhà giầu, Chúa Giêsu lại đặt ra một điều kiện. Có lẽ vì thấy lòng dạ anh hẹp hòi, và tham lam. Tâm trí anh kiêu căng tự phụ. Cũng có thể vì thái độ chỉ muốn nghe cho biết của anh mà Chúa Giêsu đã muốn dò hỏi anh bằng cách bảo anh phải về bán hết tài sản anh có, bố thí cho những kẻ nghèo và đến theo ngài. Và như Thánh Ký đã ghi là anh đã lặng lẽ rút lui. Anh vừa muốn chiếm hữu được Thiên Chúa, vừa muốn làm chủ của cải vật chất và sự giầu sang của thế gian.
Riêng đối với những đầu óc học rộng hiểu nhiều, biết rõ lề luật như người luật sư đã hỏi ngài, Chúa Giêsu không muốn có câu trả lời trực tiếp. Ngài đã dẫn chứng con đường dẫn vào nơi hằng sống ấy bằng câu truyện người Samaritanô hiền hậu.    
Nhưng có lẽ điều mà ít khi chúng ta để ý đó là thái độ dân chúng đối với Gioan mà Thánh Ký đã ghi: “Vì dân chúng đang mong đợi và mọi người tự hỏi trong lòng về Gioan rằng: “Có phải chính ông là Đức Kitô chăng?” (Lc 3:15). Đây là cốt lõi của đời sống chứng nhân. Chúng ta tự hỏi: “Tại sao những người đến với Gioan lại tưởng ông là Đấng Thiên Sai?” Và: “Cái gì đã làm cho những người đến với ông tưởng ông là Đấng Thiên Sai?” Đây là điều mà tất cả những ai muốn trở thành nhân chứng cho Đức Kitô cần phải học hỏi, đó là câu ông nói với dân chúng trong khi họ tưởng rằng ông là Đức Kitô: “Tôi lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Đấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, tôi không xứng đáng cởi dây giầy cho Người. Chính Người sẽ rửa các ngươi trong Thánh Thần và lửa” (Lc 3:16).
Đó là điều khiến người khác tưởng ông là Đấng Thiên Sai. Không phải vì ông có tài hùng biện. Cũng không phải vì ông đã làm được những việc cao cả. Nhưng là ông đã đóng trúng vai của một nhân chứng: Không cao ngạo, huênh hoang. Không khoe tài, khoe sắc. Không kể mình là cao trọng, đạo đức đến nỗi nếu thiếu mình thì mọi chuyện đều hỏng, đều không xong, và không ai có thể thay thế được.
Tóm lại, nếu lúc này có ai hỏi chúng về Đấng Cứu Thế, Đấng Thiên Sai thì chúng ta cũng không thể nào làm chứng hay hơn Gioan đã làm. Đó là tấm lòng chân thật và khiêm cung. Gioan chỉ muốn Đức Kitô nổi nang, và được mọi người nhận biết. Ông tự nhận mình chỉ là kẻ dọn đường, và còn tầm thường hơn một kẻ dọn đường, là không xứng đáng cởi dây giầy cho ngài.
Như vậy chúng ta không những phải là chứng nhân cho Đức Kitô mà chúng ta còn phải là chứng nhân của chính mình. Bằng cách sống và hành động để qua chúng ta, người khác nhận ra Chúa. Và chính chúng ta cũng phải nhận ra ngài để có thể hoàn tất sứ mạng chứng nhân của mình.

2. Thái độ khi đến với Chúa: Theo trình thuật của Thánh Ký, Gioan đã không giới thiệu Đấng Thiên Sai với mọi người khi thấy họ chưa sẵn sàng. Khi họ chưa làm được điều mà họ cần làm để xứng với những gì họ đang tìm kiếm. Ở đây thái độ chuẩn bị, và tìm cầu ơn cứu độ được lồng vào những hành động bác ái đối với tha nhân và tấm lòng khiêm nhường.
Những người đến với Gioan đều là những người thiện tâm, mặc dù họ có đôi lỗi lầm. Và vì thế, ông đã đưa điều kiện để họ đạt được nước Trời, để thấy Đấng Thiên Sai, đó là những hành động bác ái cụ thể. Gioan đã rất thực tế nói với những người đến với ông và đang muốn qua ông tìm gặp Đấng Thiên Sai. Cho một chiếc áo dư. Bố thí một đồng hay năm, mười xu. Bình an với chính mình. Đừng hà hiếp, bóc lột người. Tất cả là luật công bình và bác ái. Và tất cả là hướng về tha nhân một cách cụ thể. 
Nhưng người giầu có và luật sỹ thì không được Chúa Giêsu đối xử như vậy. Ngài không giải thích về những hành động bác ái cụ thể mà họ cần phải làm để chiếm hữu nước Trời, vì những người này đã tự cho mình hiểu biết, nhưng thực sự lại không sống với điều mình hiểu biết. Chưa sống thật với mình thì làm gì có khả năng để sống với tha nhân. Không rộng lòng với tha nhân làm sao có thể mở rộng lòng mình để đón nhận Ơn Cứu Độ.
Nhân loại đang nô nức mong chờ ngày kỷ niệm Chúa giáng trần. Thật ra, ngài đã giáng trần và đã đến với nhân loại hơn 2000 năm trước, và Gioan cũng đã làm chứng về ngài. Nhưng chúng ta đã đón nhận ngài vào cuộc đời mình như thế nào. Ánh sáng của ngài có chiếu tỏa nổi qua cuộc đời và con người bằng xương thịt của chúng ta đây để qua đó người khác có thể nhận biết và yêu mến Đức Kitô không? Nếu không thì việc chuẩn bị, cũng như việc mừng kỷ niệm ngài giáng trần hoàn toàn mang tính nhân loại, hình thức và vô nghĩa. Nó sẽ làm cho biến cố Giáng Trần của Con Thiên Chúa thành một lễ hội vui chơi, tưng bừng và náo nhiệt. Chúa Giêsu chẳng được gì, và cũng chẳng ai nhìn ra ngài giữa những rộn ràng và chuẩn bị tốn kém, cũng như giữa những hình thức đón tiếp mà chính ngài cũng đã biết rằng nó không dành cho ngài. Trong đêm Giáng Trần, Ngài vẫn trơ trọi một mình bên trong hang bò tanh hôi, lạnh lẽo. Bên trong chiếc nôi bằng máng bò lừa ăn cỏ. Quanh ngài lại cũng chỉ vài mục đồng nghèo khó và mấy con lừa, con chiên, con bò vây quanh thở chút hơi ấm cho ngài giữa đêm trường rét mướt.
Và chúng ta có cần phải hỏi Chúa hay hỏi Gioan câu: “Chúng tôi phải làm gì” không?

Lời Giới Thiệu

VIẾNG CHÚA HÀI-ĐỒNG

(trích TIN YÊU, Đỗ Quang-Vinh, Toronto, 1995)

Chúa sinh xuống thế phàm hèn,
Vàng con không có hoa đèn cũng không.
Có gì làm cûa tiến dâng,
Có gì làm lễ chúc mừng Chúa đâu!
tlvd-39-2 
Con rảo bước đi mau,
Chẳng ngoảnh nhìn phía sau,
Vẫn xa-hoa náo-nhiệt:
Nào quay-cuồng nhạc vũ,
Nào linh-đình yến-tiệc,
Nào trang-y rực-rỡ
Nào nhà phố nguy-nga.
Con mau chân rảo bước,
Mải ngắm nhìn phía trước:
Một hang đá trơ-vơ,
Một trời đêm giá lånh,
Một đồng hoang hưu-quạnh,
Tuyết rơi phủ bạc phơ,
Ánh thiên-quang tràn đổ,
Mẹ ẵm Chúa bé thơ,
Cha quỳ bên máng cỏ
Cùng chiên lừa møc-tử,
Ôi, nghèo hèn tiêu-sơ!
Con hợp tiếng hoan-ca
Cùng đoàn người lũ-lượt,
Đói rách xác-xơ,
Đoạ-đày khốn-khổ
Tàn-tật tất-tả,
Chia cách bơ-vơ,
Con hợp tiếng hoan-ca
Cùng triều-thần thiên-quốc:
“Vinh danh Thiên-Chúa trên trời,
Bình-an dưới thế cho người thiện-tâm.”
Chúa ơi! Chúa đã giáng trần,
Muôn dân hoan-hỷ tràn lan ơn Ngài.
tlvd-39-3 
Ngài là mùa xuân bừng nở
Cho đời con rạng-rỡ,
Cho hồn con rộng mở,
Con không còn than-thở,
Con phấn-khởi đợi trông.
Ngài là tiếng hát ngàn thông,
Cho đời thôi mặn chát,
Cho gió mát vi-vu,
Cho lời ru êm-ái,
Cho rừng núi vươn cao.

Ôi! Tình Ngài dạt-dào chan-chứa,
Lời Ngài muôn thuở không phai,
Ơn Ngài cao dầy thăm-thẳm,
Lời Ngài bát-ngát mênh-mông.
Ngài là ánh sáng hừng đông,
Cho hồn con sống dậy,
Cho lòng con đổi mới,
Cho tim con rực cháy,
Cho niềm tin sáng mãi,
Cho tình nhân-ái không vơi.
tlvd-39-4 

Maria, Mẹ Öi!
Con đến dâng niềm tin yêu tha-thiết,
Con vàn nài Mẹ ghé mắt thương xem!
Ôi Giu-se! Cha nhân-từ trinh-khiết,
Con đến dâng cõi lòng làm hang đá Be-lem.
Con ích-kỷ, con kiêu-căng, con tội lỗi,
Con xin hiền-hoà, con ăn-năn cải-hối,
Con hết oán-hờn, xin chia sẻ với anh em;
Con xin trung-thực, con đoạn-từ gian-dối,
Con nhắc con mọn hèn để con mãi mãi khiêm-nhu.
tlvd-39-5 

Låy Chúa Giê-su!
Con dâng Ngài kẻ yếu hèn nghèo đói,
Con dâng Ngài: cằn-cỗi tuổi hoa-niên;
Con dâng Ngài nhân-loại toàn thế-giới.
Nhà con đây, xin Ngài thương ngự tới,
Con xây bằng những thánh-giá trung-kiên,
Cha sửa-sang cho nhà con mới mãi,
Mẹ giữ-gìn cho địch-thù kinh-hãi,
Đàn lòng con tấu nhạc thánh triền-miên.
tlvd-39-6 

Con lạy Chúa chiên,
Con yêu mến Ngài, Ngài yêu con quá đỗi!
Con tin cậy Ngài, ách Ngài vốn dịu êm.
Nơi hang Be-lem,
Chúa cam mặc xác phàm hèn,
Vàng con không có, hoa đèn cũng không.
Lấy gì làm của tiến dâng,
Con xin dâng Chúa tấm lòng ấu-thơ.

Lời Giới Thiệu

_____________________________________________