tlvd-36-1

 

tlvd-39-7

tlvd-39-1

Số 40  Ngày 06.01.2007

Lời Giới Thiệu

Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề..
Một cách cửa đầu tiên hé mở vào thế giới Linh Đạo mênh mông…

Xin quý độc giả tiếp tục Đặt Vấn Đề : Chúa ở cùng chúng ta

Belem -  đâu phải là một thành nhỏ bé. – Lung Linh

Những nghịch lý trong biến cố Giáng sinh – Nguyễn chính Kết

Giáng sinh và những Ngôi Sao lạ -  Linh Kỳ

Lời chúc: Thiên Chúa ỏ cùng chúng ta – Nguyễn Tầm Thường

Belem – Đâu phải một thành nhỏ bé, Nơi Lãnh tụ Israel ra đời.

Lung Linh

Tin mừng trong Thánh lễ Hiển Linh đã loan báo cho chúng ta một tin rất vui:
"Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa,
ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa,
vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời."
Như chúng tôi đã chia sẻ nhiều lần: Một trong những cách để thấm Kinh Thánh là CÁ NHÂN HÓA. Chúng ta có thể cá nhân hóa bất cứ nhân vật nào xuất hiện trong Kinh Thánh - kể cả những vật được chúng ta nhân cách hóa.
Chúng tôi xin trích lại một phần trong bài  “Đọc Kinh Thánh

  1. Dụ ngôn người cha nhân hậu : Có một thời, tôi giống như người anh cả. Mang tiếng là ở trong nhà cha, nhưng quan hệ của tôi với cha của mình y như người làm thuê đối với ông chủ . Biết bao lần tôi đã thầm kể công với Chúa và thầm đòi hỏi Chúa phải trả công xứng đáng cho những hy sinh thời gian, tiền bạc, sức lực của tôi trong công trình của Chúa. Nếu đợi mãi mà Ngài không cho, tôi rất có thể sẽ oán trách ngài y như người con cả : "Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. (Lc 15:29) . Trái lại, khi phạm tội, tôi sợ ông chủ phạt thẳng tay vì Chúa công bằng vô cùng cơ mà.
  2. Dụ ngôn người phụ nữ ngoại tình : Có một thời, tôi chính là người phạm tôi ngoại tình. Người phụ nữ phạm tôi ngoại tình vài lần, còn tôi phạm tội ngoại tình hầu như suốt ngày. Này nhé, Chúa yêu tôi hết lòng, sống trong tôi, còn tôi cứ việc chạy theo chuyện thế gian, bỏ mặc Chúa mãi cô đơn ngay trong lòng tôi, Thế không phải ngoại tình suốt ngày thì gọi là gì. Tội sờ sờ ra đó, thế nhưng tôi rất khoái kết tội, nói xấu người khác, và cũng sắn sàng ném đá, đôi lúc lại chơi trò ném đá giấu tay để người bị hại không biết đâu mà đối phó. Tôi y hệt như những người Do thái xưa đã được Đức Giêsu cảnh báo : Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới? Sao anh lại nói với người anh em: "Hãy để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt bạn", trong khi có cả một cái xà trong con mắt anh? (Mt 7: 3-4)

3    Khi Đức Giê-su ở trên núi xuống, đám đông lũ lượt đi theo Người. (Mt 8:1)
Rất nhiều lần tôi cũng có mặt trong cái đám đông láo nháo đó. Đám đông làm thế nào, tôi làm theo như vậy. Đây chính làkiểu đi theo Ngài một cách vô ý thức : ai sao tôi vậy. Thực thế, tôi đã đi lễ, rước lễ ( chứ không phải rước Chúa) tĩnh tâm biết bao lần, nhưng chỉ theo đám đông mà làm như nguời máy.. chứ chẳng có ý thức gì. Vì  vậy, sau hơn 30 năm giữ đạo, tôi chẳng tiến chút nào mà còn lùi xa hơn, chỉ vì sống trong đám đông láo nháo không định hướng.

  1. Tôi còn có thể cá nhân hoá mình thành đền thờ Giêrusalem. Đức Giêsu đã khóc thương mà nói:"Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được. vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm." (19 : 42,44).Quả thật, Chúa đã viếng thăm tôi hàng tuần, thậm chí hàng ngày khi tôi lên rước Chúa, nhưng tôi đâu có nhận ra Ngài. Nếu tôi nhận ra Ngài, chắc chắn Ngài đâu có phải khóc thương tôi như thế.
  2. Hơn thế nữa, tôi còn biến đền thánh tâm hồn tôi thành sào huyệt của bọn cướp (Mt 21: 13 ) Mặc dù Thánh Phao-lô đã chia sẻ: Thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa,(1Cr 6:19). Nghe câu này cả trăm lần rồi, thế nhưng tôi chẳng bao giờ nhớ Thánh Thần hiện diện sống động trong tôi, suốt ngày tôi cứ chạy theo cơn lốc tình, tiền, tài, danh vọng thế gian. Rõ ràng tôi đang biến đền thánh tâm hồn tôi thành hang trộm cướp – còn gì để nói nữa đâu.

Còn rất nhiều và rất nhiều hình ảnh khác mà tôi có thể tha hồ mà cá nhân hoá..
ááá
Nhân ngày lễ Chúa Hiển Linh, chúng ta thử cá nhân hóa mình với Thành Belem bé nhỏ giữa miền đất Giu-đa.
Quả thật, xét về địa dư, Belem quá khiêm tốn bên thành thánh Jerusalem.
Cũng vậy, xét về  mặt con người chúng ta thấy mình quả là nhỏ bé đối với vũ trụ;
Chúng ta thấy mình quả là yếu đuối, phàm hèn tội lỗi, xấu xa trước Đấng Chí Tôn Ngàn Trùng Thánh Đức…
Thêm vào đó, chúng ta còn được dạy phải tin chắc chắn như vậy, nếu không tin như thế hoặc tin khác đi thì hoặc là không vâng phục hoặc là rối đạo..coi chừng sa hỏa ngục…chứ không phải chuyện chơi đâu… Thành thử ra, giữa Chúa và ta xuất hiện một bức tường dầy cả trăm thước và cao ngút trời như dãy núi Hi-mã-lạp-sơn. Không thể nào vượt qua được.
Chúng ta có ngờ đâu, ngay từ thời Cựu Ước, ngôn sứ Mika đã loan báo
"Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa,
ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa,
vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời."
Chúng tôi xin phép chia sẻ ánh nhìn của mình – chứ không dám dùng từ chú giải như các nhà thần học, các nhà Kinh Thánh học .
Giu-đa, tượng trưng cho Hội thánh. Nơi đó, có rất nhiều con người nhỏ bé tụ họp lại.
Xét về mặt cơ cấu tổ chức, mỗi người trong chúng ta là một thành viên trong Hội Thánh hòan vũ vĩ đại. Bao nhiêu năm qua chúng ta được dạy rằng: chúng ta là con cháu Ađam, vốn phàm hèn, yếu đuối..là không trước mặt Chúa cao sang, uy quyền, ngàn trùng thánh đức….Chúng ta khó có thể trực tiếp tiếp chuyện với Chúa…Vì thế, chúng ta cần phải có các trung gian:
Các thánh, đặc biệt là các thánh hay làm phép lạ như Mạc-ti-nô, Vi-xen-tê ….
Thánh cả Giuse, rất thần thế vì làm cha nuôi Đức Chúa Giesu, trong kinh cầu ông thánh Giuse của các giáo phận miền Nam trước đây, ngài còn được người ta coi như vị Thái Bảo của Thái tử Giêsu… một vị quan lớn – phò thái tử hết mình, đầy uy tín trong triều đình phong kiến ngày xưa..
Đức Mẹ là Đấng thần thế nhất với tước hiệu Mẹ Thiên Chúa, Nữ Vương Thiên Đàng. Có người còn coi Đức Mẹ như Ngôi Thứ Tư Thiên Chúa!!  sau Ngôi Ba Thánh Thần!!
Vì thế, hơi động một tí là kẻ thì chạy đến thánh này thánh kia, người lại chạy đến cùng Đức Mẹ cho chắc ăn ..Bời vì xưa nay chưa từng nghe có ai xin Mẹ mà lại về không…con tin chắc Mẹ thương nhận lời…
Quả thật, khi gặp nguy biến, không còn trong nhờ vào ai được nữa, chúng ta dễ chạy đến các thánh hoặc Đức Mẹ. Nhưng từ thực tế này lại nảy sinh hai vấn đề
Vấn đề thứ nhất:
Tại sao chúng ta không chạy trực tiếp đến Chúa?
Chúng ta ta đã từng ông ổng hát tướng lên:
Tình yêu Chúa cao vời biết bao!!… Tình yêu Thiên Chúa như trăng như sao….
Tình Ngài yêu con bao la vươn lút trời xanh…Chúa có tình yêu thương vời vợi…
Tình Chúa yêu con, ôi tình Chúa tuyệt vời!! 
Ấy thế mà mỗi khi gặp hiểm nguy, chúng ta không chạy đến với Chúa. Hóa ra chúng ta chỉ hát ngoài môi miệng, còn lòng trí chúng ta xa Ngài nghìn trùng..
Tất nhiên là phải có lý do..Mà lý do lại quá rõ ràng rồi. Chúng ta luôn coi mình là phàm hèn, là không trước mặt Chúa, nên mới tạo ra tình huống nực cười: Hát một đàng, làm một nẻo..
Vấn đề thứ hai
Ngoài các thánh, Đức Maria, người ta còn tự phong cho các đấng các bậc trong hội thánh là đại diện Đức Kitô ở trần gian. Vấn đề đại diện này … nảy sinh hai hệ quả tai hại.
Hệ quả tai hại thứ nhất:
Nếu chấp nhận các đấng các bậc là các vị đại diện Chúa ở trần gian thì rõ ràng là Chúa vắng mặt trên trần gian này.
Việc đại diện Đức Kitô ở trần gian này như là một cách loại trừ sự hiện diện sống động của Thiên Chúa ngay trong tâm hồn các tín hữu.
Người ta không thể đại diện cho Chúa là “Người” đang có mặt ngay trong cuộc sống thường ngày của chúng ta!!!
Tại sao vậy?
Trước khi về trời Đức Giêsu Kitô đã xác quyết chúng ta:
“Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế." (Mt 28:20)
Thánh Phaolô đã tung thêm một trái bom: Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?
Nếu chúng ta tin rằng Thiên Chúa ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế để chúng ta trở thành Đền Thờ của Thiên Chúa, rõ ràng việc đại diện Đức Kitô ở trần gian là một cách loại trừ sự hiện diện sống động của Thiên Chúa ngay trong tâm hồn các tín hữu!!
Hệ quả tai hại thứ hai:
Vì cứ tưởng rằng mình  là đại diện Chúa Trời nên một số linh mục đã xử sự với các tín hữu như những vị “quan chi phụ mẫu” đối với  thảo dân hạng bét. Cho tới nay, tại Việt Nam còn khá nhiều trường hợp đáng buồn như thế.
Tất nhiên, vai trò chính yếu của vị Linh mục là người dẫn đường bằng lời giảng, bằng chính kinh nghiệm và cảm nghiệm sống động của mình trong việc sống nên một với Chúa - chứ không phải là người đại diện Chúa ở trần gian để tổ chức sao cho quy củ, cai quản sao cho đúng luật lệ, cai trị sao cho đúng truyền thống – cha ra cha, con ra con..…
Xin quý linh mục đừng quá bức xúc về tư tưởng có vẻ hỗn hào này – Dám phủ nhận điều mà linh mục lẫn giáo dân tin tưởng bấy lâu nay…
Chỉ xin quý linh mục trở về thiên chức cao quý là Người dẫn đường cho anh chị em bước theo.. trên con đường kết hiệp nên một với Chúa. Thật tuyệt vời biết bao!!!
ááá
Theo Ánh Mắt Tâm Linh, chắc chắn chúng ta sẽ nhận ra lời nhắn nhủ của ngôn sứ Mika qua Tin Mừng Matthêu:
Này anh em, anh em đâu phải là nhỏ bé, phàm hèn, yếu đuối, tội lỗi đâu
Trái lại anh em rất cao quý, thánh thiện, tuyệt vời…vì ngay trong lòng anh em, Thiên Chúa hiện diện thực sự sống động. Chính Đức Giêsu đã khẳng định:
"Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy.
Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. (Ga 14:23)
Thêm vào đó còn có cả Thánh thần – Thần Khí Thiên Chúa - cũng ỏ trong chúng ta nữa.
Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. (Ga 14:17)

Tóm lại, Qua chia sẻ rất ngắn ngủi này, chúng tôi chỉ muốn xác tín một điều:
Quả thực chúng ta không phàm hèn, yếu đuối
Trái lại, chúng ta vốn cao quý, thánh thiện..dựa trên nền tảng: Chúa hiện diện sống động trong chúng ta.
Mừng lễ Chúa Hiển Linh cũng là một dịp chúng ta đặt lại vấn đề: Tại sao tôi chưa cảm nhận sự hiện diện của Chúa trong mình??!!
Nói thì dễ, nhưng trong thực tế, để nhận ra Chúa hiện diện sống động trong chúng ta sao khó quá!! Đơn giản chỉ vì mấy mươi năm qua chúng ta đã bị người ta cài đặt vào tâm trí mình tư tưởng tiêu cực:
Con người thì phàm hèn, yếu đuối, tội lỗi ngập đầu..trong khi Chúa ngàn trùng thánh đức trên chốn trời cao!!
Con chẳng đáng Chúa ngự vào lòng con..( trong khi Chúa đã ở trong mình từ khuya rồi..trước cả khi chúng ta hình thành trong lòng thân mẫu).
Đúng đấy, nhưng chỉ đúng  10% mà thôi. Quả thực, thân xác chúng ta rất yếu đuối, chỉ một con gió thoảng cũng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích… khi thân xác này trở về cát bụi .
Còn con người tâm linh thì sao? Đã được Chúa sinh ra, ấp ủ trong tình yêu của Ngài, chính Chúa luôn hiện diện sống động trong lòng mình .
 Tiếc một điều.. chúng ta chỉ thấy con người thân xác mà không thấy con người tâm linh..
Thành thử ra, chúng ta khó có thể cảm nhận được Chúa hiện diện sống động trong lòng mình. Thật đáng tiếc!! Thật đáng tiếc!!
Thực vậy, mạnh dạn đặt vấn đề, chúng ta mới tìm cách để giải quyết vấn đề. Nếu không, chúng ta cứ mãi sống kiếp phàm hèn, yếu đuối, tội lỗi, và cô đơn… giữa một thánh điện nguy nga, nơi đó Thiên Chúa và Thần Khí của Ngài luôn ở trong mình.
Xưa kia Chúa hiển linh cho các dân ngoại mà ba nhà chiêm tinh làm đại diện.
Ngày nay Chúa sẽ hiển linh trong tâm hồn mỗi người trong chúng ta.
Một ngày nào đó chúng ta nhận ra sự hiện diện sống động của Chúa ngay trong tâm mình thì đó chính là lúc Chúa hiển linh trong ta. Và cũng chính lúc đó, lời Kinh Thánh ứng nghiệm với mỗi người trong chúng ta.
Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa;
nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ.
Chúng ta biết rằng khi Đức Ki-tô xuất hiện, (tỏ hiện, hiển linh)
chúng ta sẽ nên giống như Người,
vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy. (1Ga 3:2)

Lời giới thiệu

Những nghịch lý trong biến cố Giáng Sinh

Nguyễn Chính Kết

Câu hỏi gợi ý

tlvd-40-11. Tại sao Đức Giêsu không sinh ra trong cảnh giàu sang, uy quyền cho xứng với địa vị Con Thiên Chúa, mà lại sinh trong cảnh thấp hèn nhất của con người?
2. Toàn dân Do Thái đều trông đợi Đấng Cứu Thế đến, thế mà khi Ngài đến, Ngài lại không báo cho ai, kể cả những người chính thức đại diện cho dân, mà chỉ báo cho các mục đồng, là những kẻ hèn kém nhất trong dân?
3. Những người quyền thế trong dân về tôn giáo cũng như xã hội khi biết Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, họ đã làm gì? phản ứng thế nào? Tại sao họ phản ứng như vậy? Não trạng của họ đúng đắn và hợp với đường lối của Thiên Chúa không?


Suy tư gợi ý:

1. Hoàn cảnh ra đời của Đức Giêsu

Theo thông lệ đã bao đời, cứ 14 năm một lần, hoàng đế Rôma lại ra lệnh kiểm tra dân số trên toàn đế quốc để có cơ sở thu thuế và tuyển lính. Mọi người dân đều phải về nguyên quán mình để khai hộ khẩu. Vì Bêlem là nơi sinh trưởng của vua Đavít, tổ tiên Giuse, nên ông phải đưa Maria vợ mình đang mang thai từ Nadarét về đấy khai hộ khẩu. Hành trình từ Nadarét về Bêlem khoảng 80 dậm (#130 km). Vì phương tiện di chuyển quá đơn sơ, hai vợ chồng nghèo phải vất vả lắm mới tới nơi. Nơi đất lạ, vì nghèo không tìm được chỗ trọ, hai vợ chồng phải tá túc đỡ ở một chuồng súc vật ngoài đồng cỏ. Không may, Maria đã đến ngày sinh con, hai vợ chồng nghèo đành phải sinh con ngay tại nơi trọ nghèo nàn ấy.

2. Đức Giêsu chấp nhận cảnh thấp hèn ngay từ khi sinh ra đời

Không có gì nhục nhã và đau lòng cho bằng phải ra đời trong một chuồng súc vật, chẳng những thiếu đủ mọi thứ mà còn dơ bẩn, hôi hám! Thử hỏi: cả 80 triệu dân Việt, một dân tộc hiện đang bị xếp vào loại nghèo khổ nhất thế giới, đã có mấy người phải sinh ra trong cảnh tệ hại như thế? Thế mà Đức Giêsu, Con Thiên Chúa vô cùng cao sang, cũng chính là Vua Vũ Trụ, lại phải sinh ra trong hoàn cảnh như thế! Tuy nhiên, tất cả mọi việc xảy ra đều nằm trong chương trình của Thiên Chúa, đều ứng nghiệm những gì các ngôn sứ đã loan báo mấy trăm năm trước về Đấng Cứu Thế.
Đang khi nhân loại ai cũng tìm sự giàu sang, quyền thế, địa vị, danh dự cho mình và người thân mình, thì Thiên Chúa Cha lại tìm sự nghèo khó, thấp hèn, nhục nhã cho Người Con vô cùng yêu quí của mình. Suốt đời mình, Đức Giêsu cũng hành động tương tự: đang khi nhân loại ai cũng tìm đủ cách đưa mình lên thật cao, thì Đức Giêsu lại tìm đủ cách để tự hạ mình xuống thật thấp. Chính vì con người cứ muốn tự đưa mình lên thật cao và sẵn sàng đè người khác xuống nên nhân loại mới phát sinh ra muôn vàn giống tội và phải chịu biết bao khổ ải. Vì thế, muốn cứu chuộc nhân loại, Đấng Cứu Thế phải hành động ngược lại khuynh hướng tội lỗi ấy là tự hạ mình xuống thật thấp để nâng mọi người lên. Đúng như thánh Phaolô nói: «Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có» (2Cr 8, 9). Để cứu rỗi nhân loại, nếu Thiên Chúa đã phải theo đường lối ấy, thì những kẻ muốn cộng tác với Ngài trong công cuộc cứu rỗi, lẽ nào đi ngược lại đường lối ấy mà lại thành công được? Nghĩa là nếu cứ thích mình được đề cao, thích sống trên đầu trên cổ người khác, thì cứu rỗi được ai?

3. Những kẻ được loan báo về việc giáng sinh của Đức Giêsu

Có sự nghịch lý quá lớn trong việc Con Thiên Chúa vô cùng cao sang lại chấp nhận cảnh vô cùng nghèo hèn để giáng sinh hầu cứu chuộc con người. Tuy nhiên vẫn còn một nghịch lý rất lớn khác trong biến cố này. Khi Ngài sinh ra thì toàn dân Do Thái – kể cả giới lãnh đạo Do Thái giáo (các thượng tế, tư tế, kinh sư, luật sĩ…) – đang trông chờ và mong đợi Đấng Cứu Thế mà các ngôn sứ đã từng loan báo trước đó mấy trăm năm. Mấy trăm năm toàn dân mong đợi, thế mà khi Đấng Cứu Thế đến, Thiên Chúa đã chẳng sai các thiên sứ đến báo tin cho các vị chức sắc cao cấp trong tôn giáo Do Thái cũng như nhà cầm quyền Do Thái, là những người chính thức đại diện cho tuyển dân của Ngài. Mà chỉ báo tin cho các mục đồng, đại diện cho hạng người hèn kém nhất trong tôn giáo và trong xã hội! Quả thật, dưới con mắt loài người, Thiên Chúa tỏ ra «chẳng biết điều» tí nào! Ngài chẳng biết cách xử sự theo kiểu loài người! Tại sao vậy?
Đối với Thiên Chúa, kẻ có giá trị trước mắt Ngài là những tâm hồn đơn sơ chân thành, sẵn sàng đón nhận chân lý, chứ không phải là những người có chức tước trong xã hội hay tôn giáo, dù có cao cấp đến đâu! Hãy thử xét xem thái độ của các mục đồng và những kẻ quyền thế thời đó. Các mục đồng khi được báo tin, thì hối hả đến và thờ lạy Đấng Cứu Thế vừa sinh. Họ có thể tin ngay rằng đứa bé yếu đuối và nghèo nàn kia, được sinh ra trong cái chuồng súc vật của họ, chính là Đấng Cứu Thế muôn dân đang trông đợi. Cho dẫu chính họ, những kẻ thấp hèn nhất trong xã hội và tôn giáo, cũng không bao giờ nỡ sinh con mình ở cái nơi dơ dáy thấp hèn ấy! Tuy nhiên, cảnh thấp hèn ấy không phải là điều cản trở họ tin. Bài Tin Mừng cho biết niềm tin và thái độ của họ sau khi gặp hài nhi Giêsu: «Các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa».
Còn những kẻ quyền thế trong xã hội và tôn giáo thì sao? Họ không thể tin được điều ấy. Não trạng họ rất khác với các mục đồng! Làm sao họ có thể tin và chấp nhận được Đấng Cứu Thế của toàn dân lại sinh ra thấp hèn như vậy! Mà dẫu họ có được báo tin, họ cũng chẳng thèm đến với Đấng Cứu Thế thấp hèn và nghèo nàn ấy làm gì! Người khác phải đến với họ, chứ làm gì có chuyện họ phải đến với người khác, trừ trường hợp người khác đó giàu sang hay có địa vị cao hơn họ! Cứ xem phản ứng của họ thì biết: Khi được các nhà chiêm tinh phương Đông tới báo tin Đấng Cứu Thế đã sinh ra thì vua Hêrôđê và những nhà lãnh đạo tôn giáo đã làm gì? Hêrôđê thì cho quân đi tìm giết con trẻ Giêsu ngay, bất chấp phải giết oan bao đứa trẻ khác. Các vị thượng tế và kinh sư thì cũng chỉ ngồi nhà chờ các nhà chiêm tinh đến cho biết kết quả, mặc dù biết rất rõ Đấng Cứu Thế phải sinh ra tại Bêlem. Và khi các nhà chiêm tinh không trở lại, họ cũng bỏ qua luôn.

4. Hai thái độ khác nhau

Truyền thống Kitô giáo cho rằng Tổng lãnh Thiên thần Luxifer vì không chấp nhận được Con Thiên Chúa nhập thể làm người, nghĩa là Thiên Chúa mà lại sống trong thân phận hèn kém hơn mình, nên đã phản loạn chống lại Thiên Chúa. Não trạng đó cũng là não trạng của rất nhiều người, kể cả các Kitô hữu bình dân và cao cấp! Mặc dù Đức Giêsu làm nhiều phép lạ tỏ tường, được dân chúng tin theo rất đông, nhưng giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái xưa không thể chấp nhận được Ngài là Đấng Cứu Thế. Tại sao? Vì họ thấy Ngài là người nghèo hèn (x. Mt 8,20), thất học (x. Ga 7,15), lại nói và làm rất nhiều điều ngược lại quan niệm của họ, như lỗi luật ngày sábát (x. Mt 12,1-14; Lc 6,6-11; ...), không chịu ăn chay (x. Mt 9,14), ăn không rửa tay (x. Mt 15,1-2; Lc 11,38), giao thiệp với những hạng người tội lỗi (x. Mt 9,10-11; Lc 5,29-30), v.v… Họ cho rằng họ là chân lý, nên ai nói hay hành động khác với họ đều sai. Nếu những người ấy có quyền phép thì đó là quyền phép ma quỷ (x. Mt 9,34; 12,24).
Đối với họ, chỉ những điều mà người có uy quyền trong tôn giáo nói mới là chân lý thôi! Chân lý không thể phát xuất từ môi miệng những hạng bình dân, thấp kém trong xã hội hay tôn giáo được. Do đó, khi các ngôn sứ xuất hiện – thường xuất thân từ giới bình dân, nghèo hèn – thì đều bị họ chê bai và ném đá vì những lời nói mà họ cho là ngang ngược (x. Mt 23,37; Lc 6,23). Họ chỉ ca tụng và ưu đãi những ngôn sứ giả là những người có uy quyền, lại nói vừa lòng họ, lọt lỗ tai họ (x. Lc 6,26). Cũng vậy, khi Đức Giêsu đến, những mặc khải mới về chân lý của Ngài không sao lọt tai họ được, nên họ phải tìm cách trừ khử cho bằng được!
Ngày nay, con người – kể cả các tín đồ trong mọi tôn giáo – vẫn thường có não trạng như thế. Người có thế giá trong tôn giáo nói bất cứ điều gì cũng được họ cho là đúng, là có giá trị, cho dù họ thấy có gì đó không hợp lý. Cũng có khi họ mù quáng đến độ không thể thấy được sự bất hợp lý trong những lời nói đó. Còn những người bình dân, thấp hèn mà nói, thì dù có hợp lý đến đâu, cũng đều vô giá trị. Chính vì thế, nếu thời nay những ngôn sứ của Thiên Chúa có đến, chắc chắn cũng các vị cũng phải đồng số phận hẩm hiu với những ngôn sứ các thời đại trước thôi! Và dẫu chính Đức Giêsu có đến lần nữa, Ngài cũng sẽ bị đối xử tương tự. Ngài lúc nào cũng vẫn là «viên đá vấp phạm» (x. Rm 9,33; 1Pr 2,8) cho nhiều người. Nhưng phúc thay những ai không vấp phạm vì Ngài! (x. Mt 11,6; Lc 7,23)
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin cho con nhận thức rằng người được Thiên Chúa sai đến, dù có thấp hèn đến đâu cũng vẫn là người của Thiên Chúa. Xin cho con ý thức được rằng chân lý dù được phát biểu bởi trẻ con hay người thấp hèn dốt nát cũng vẫn là chân lý. Còn sai lầm dù được phát biểu bởi kẻ cao sang quyền thế cũng vẫn là sai lầm. Đừng để con đồng hóa lý của kẻ mạnh, kẻ có quyền với chính chân lý. Để nhờ đó, con có thể nhận ra Cha nơi những anh em nghèo hèn chung quanh con, và nhận ra chân lý dẫu được phát biểu bởi những người mà con cho thấp kém.

Lời giới thiệu

Giáng sinh và những Vì Sao lạ


tlvd-40-2Linh Kỳ

BAaaaa ... hớiiiiii .... hớiiiiii .... hớiiiiiii !
Đang chăm chú nhìn người ta đi qua lại trong Mall, tiếng hét của con bé làm tôi giật mình. Đứa con gái chưa đầy hai tuổi vừa chỉ tay vừa tụt vội xuống chiếc xe đẩy, đôi mắt không màng nhìn chuyện khác, hăm hở tiến về cây Noel với ngôi sao thật lớn trên đỉnh như một điều vừa lạ, vừa kỳ thú đối với nó.
Và trong Mall, không khí náo nhiệt, tưng bừng của một mùa Giáng Sinh đã gần kề. Nhiều cửa tiệm được trang hoàng thật lộng lẫy như muốn chào đón mọi người trong không khí vui vẻ và an bình.

I. Chúa Giáng Sinh Và Vì Sao Lạ Ở Đông Phương

Là một giáo dân Công Giáo, chắc hẳn chúng ta không lạ gì những mẩu chuyện trong Thánh Kinh, những màn kịch Giáng Sinh, và sự xuất hiện của vì sao lạ khi Chúa Giê Su vừa mới chào đời.
Trong lịch sử, vì lý do thời gian và vì thời đó chữ viết, giấy mực, và các phương thức ghi chép tài liệu không hoàn chỉnh, hầu như các nhà sử gia đều có một nhận định rằng: khó mà khẳng định một cách chính xác theo khoa học Chúa Giê Su chào đời, và vì sao lạ đã xuất hiện vào năm nào.
Một số nhà nghiên cứu Thánh Kinh cho rằng: "vì sao lạ xuất hiện vào thời đại của Herod Cả" (Herod the Great); người mà một số sử liệu cho biết là qua đời vào năm 4 BC. Nhưng trong khi đó, thánh sử Luca có ghi chép thật rõ trong Luca 2:1-3 rằng: "Chúa GiêSu chào đời vào thời của cuộc kiểm tra dân số của hoàng đế Caesar Augustus vào năm 6 AD. "
Ngày 17 tháng 12 năm 1963, nhà thiên văn học Đức John Kepler đã quan sát và suy đoán rằng: "vì sao lạ đó chính là sự xuất hiện trùng hợp của Mộc Tinh và Thổ Tinh xảy ra vào năm 7 BC. Và Kepler suy luận rằng: việc này có thể xảy ra vào lúc Chúa Giê Su chào đời" [1].
Bảy mươi chín năm sau, nhà thiên văn học Anh Edmund Halley đã phát hiện và tính ra rằng: "sao chổi Halley có thể xuất hiện vào năm 12 BC." Và kể từ đó đến nay, nhiều nhà thiên văn học của các trung tâm nghiên cứu vũ trụ khác như David Clark, John Parkinson, Richard Stephenson đều cho ra đời những suy đoán mới về vì sao lạ đã xuất hiện vào đêm Giáng Sinh [1].
Riêng tại Trung Hoa và Việt Nam, cũng có một số nhà thiên văn học Á Đông nhìn nhận rằng: "vì sao lạ đó chính là sự bùng nổ của một vì sao đã sáng rực trên bầu trời trong hơn 70 ngày xảy ra vào đời nhà Hán, tức là vào khoảng năm thứ 5 BC" [1].
Và riêng với dân Do Thái và loài người trong thời đại đó, sự xuất hiện của Chúa Giê Su và giáo lý "Tình Yêu" của ngài chính là những điều mới mẻ, dị biệt đối với sự tin tưởng của họ về những thiên tính của Thiên Chúa và những gì đã ghi chép trong Cựu Ước; và họ xem đó chẳng khác nào những vì sao lạ.

II. Giáo Hội Và Những Vì Sao Lạ

Trong Giáo Hội Công Giáo, chúng ta thường có thói quen nhìn những con người với tư tưởng khác mình như những điều mới mẻ, dị biệt chẳng khác nào những vì sao lạ. Và vì lẽ đó, người ta thường có thói quen là chê trách hay cảm thấy thú vị với những điều thật lạ.
Là một người Việt Nam, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng quen thuộc với những mẩu chuyện của những vì sao định mệnh, điển hình như vì sao định mệnh của một thiên tài vào thời Tam Quốc, Gia Cát Khổng Minh. Và mỗi khi nhìn lên bầu trời với ý tưởng này, tôi thường cố gắng tìm hay mường tượng vì sao định mệnh của mình sẽ nhìn ra sao ?
Một mùa Giáng Sinh lại đến; trong khi con cái Chúa đang tản mác khắp nơi với nhiều tư tưởng dị biệt. Cùng lúc đó, ngoài Giáo Hội Công Giáo, vẫn tồn tại những người không cùng niềm tin với chúng ta, hoặc ngay cả những người vẫn thường khích bác hay chống đối Giáo Hội.
Một mùa Giáng Sinh lại đến; trong lúc nhiều người trong chúng ta vẫn miệt mài lên án cuộc chiến đang xảy ra tại Irag, lên án một Giáo Hội đầy chia rẽ, khoảng cách, thậm chí là hận thù giữa đoàn con cái của Thiên Chúa, hay giữa những tạo vật do chính Thiên Chúa tạo nên: loài người.
Một mùa Giáng Sinh lại đến; trong lúc chức sắc Công Giáo, các bậc giảng dạy, hay các bậc phụ huynh trong Giáo Hội đang âm thầm lo lắng nhìn đoàn con cái mình đang theo đuổi những tư tưởng sống đạo mới như: quan hệ tình dục trước đám cưới, ngừa thai, bỏ đọc kinh tối sáng, không chăm đi nhà thờ, vv.
Và chính trong mùa Noel này; lời cầu chúc cho một Giáng Sinh vui vẻ và an bình đã khiến cho chúng ta phải quan sát và để mắt nhìn vào những tư tưởng mới như những vì sao lạ. Điển hình như những tư tưởng của Cha Thomas Rausch (San Jose); Sư Huynh Brian Grenier cho rằng:

  1. Tất cả những Giáo Dân hay ai trong Giáo Hội, cho dù là bất đồng ý kiến hoặc không thực thi những huấn quyền, lề luật của Giáo Hội, đều là con cái Chúa; và nói cho cùng đều là con cái của Giáo Hội được phân bố trong mô hình của một quang phổ mà trong đó:

a. Những ai tuân thủ mọi lời giảng dạy của Giáo Hội thuộc về "Phe Bảo Thủ" nằm về phía tay phải của quang phổ;
b. Những ai sống theo những phương thức sống đạo mới, và không tuân thủ giáo lý và huấn quyền Giáo Hội trong một số vấn đề luân lý đều thuộc về "Phe Tự Do" nằm về phía trái của quang phổ;
c. Những người còn lại được phân bố rải rác khắp chiều dài của quang phổ. [2]
Mô hình quang phổ này được một số các linh mục như Lm. Ray Ryland đồng tình và cho rằng: Giáo Hội không có ngăn cách chia rẽ, và luôn là 1 Giáo Hội đúng như Tuyên Ngôn "Decree on Ecumenism" của Công Đồng Vatican II và thơ mục vụ của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II, Novo Millennio Ineunte, viết vào năm 2001. [3

  1. Lm. John Thornhill trong Question Catholic Ask In A Time of Change cho rằng: "Giáo Hội Công Giáo cần có những thay đổi trong phương thức sinh hoạt, những nghi thức trong thánh lễ, và cả những quan niệm về luân lý cho những Giáo Dân, hay chức sắc Công Giáo." Lm. Thornhill còn cho rằng: "những người đang giữ vững những truyền thống Công Giáo và những vấn đề nhức nhối này điều khiến cho những người khác trong Giáo Hội có cảm tưởng rằng: họ không thiên về lý trí " [4]. Và Lm. Thornhill cũng có lần phát biểu một câu nói gây nhiều dư luận rằng:

- Giáo Hội đã sai lầm khi đem Lề Luật đến Úc mà không đem theo lời Chúa.

  1. Và rải rác trong suốt chiều dài của quang phổ Giáo Hội Công Giáo, đã xuất hiện nhiều tư tưởng, hành động tưởng chừng như mới mẻ, dị biệt chẳng khác nào những vì sao lạ.

III. Một Vài Suy Tưởng Cá Nhân

Đường về nhà hôm nay thật đẹp. Những kiểu trang trí Noel lần lượt xuất hiện với những cử chỉ hoan hỉ, những lời trầm trồ của đứa con gái lần đầu tiên hiểu được phần nào những trang trí thật mới mẻ của một mùa Giáng Sinh. Mặc dù con bé chưa biết nói rành lắm, nhưng tôi có cảm tưởng đôi mắt và những cử chỉ của nó như đang hát lên thật giống lời ca sĩ Nguyên Khang đã hát trong cuốn DVD của trung tâm Asia tôi vừa xem vài tuần trước:
- Tôi đã thấy, những điều kỳ lạ.
Và đây đó, tôi như đã nhìn thấy những hang đá với Chúa Hài Đồng đang giơ đôi cánh tay nhỏ bé của mình như muốn ôm chầm cả cái bầu trời bao la đang chứa đựng tất cả những vì sao lạ.
Mùa Giáng Sinh lại đến; và hang đá vẫn lần lượt xuất hiện như thưở tôi còn bé. Và trong đó, những tượng Chúa Hài Đồng vẫn lần lượt xuất hiện với những đôi cánh tay xinh xinh, dễ thương, nhỏ bé, tựa như những nỗ lực cố gắng tìm kiếm loài người trong tình thương của nhân loại.

Tài Liệu Tham Khảo

[1] Jesus: The Evidence, Ian Wilson, Harper & Row, Publishsers, San Franciscọ
[2] "Reconciling Faith and Reason (in a Divided Church)", Fr Thomas P Rausch SJ, The Liturgical Press.
[3] "Faithful Dissenters Try To Refashion The Church", Catholic Culture, September 4, 2002.
[4] Question Catholic Ask In A Time of Change, John Thornhill,

Lời giới thiệu

LỜI CHÚC: THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

Nguyễn Tầm Thường Sj 

- Chúa ở cùng anh chị em.
Dừng lại một chút, ta thấy những nghi thức này trong thánh lễ quá kỳ diệu.
Chúa ở cùng anh chị em là gì? Tại sao linh mục cần nhận lại lời cầu chúc:
- Và ở cùng cha.
* * *
Nhiều lần, nhiều nơi, trong nhiều thánh lễ, khi nói lời cầu chúc này, theo cách thế bên ngoài, thì có linh mục không nói bằng tâm hồn. Nói qua cho xong. Vì linh mục vừa nói, nhưng không đối thoại với giáo dân, thiếu chuẩn bị nên đang bận mở sách. Hoặc vì muốn chóng xong, cắt ngắn thời gian. Không có thời gian đón nhận lời giáo dân cầu chúc: Chúa ở cùng cha. Giáo dân đáp lại cho có lệ. Những lời chúc như thế trong thánh lễ nhạt nhẽo làm sao. Khi họ không tha thiết trong lời cầu chúc, thì làm sao dám nói họ thiết tha trong mong ước Chúa thật sự đến với người họ cầu chúc. Nếu vậy, Chúa ở đâu trong mối tương quan họ với Chúa, với nhau? Thiếu tha thiết trong lời cầu chúc, thì khó mà xác định mình thiết tha Chúa đến với người mình chúc. Từ đó, làm sao định nghĩa đấy là một thánh lễ sốt sáng.
Khi họ không nhận định kỹ “Chúa ở cùng anh chị em” là gì, thì làm sao rõ “Chúa ở cùng chúng ta”, “Chúa ở cùng tôi” quan trọng đến đâu. Họ đánh mất ý nghĩa tên gọi EMMANUEL.
EMMANUEL là tên gọi của Thiên Chúa. Bởi đó, lời cầu chúc trong thánh lễ “Chúa ở cùng anh chị em” là lời rất quan trọng. Và, thánh lễ là gì nếu chúng ta để mất vẻ đẹp: Chúa ở cùng chúng ta?
* * *
EMMANUEL
- Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt. 2:24).
Khởi đầu Phúc Âm, Mátthêu giới thiệu tên của Thiên Chúa là Emmanuel, nghĩa là tên gọi đó được phiên dịch ra: Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Và rất đẹp, hôm nay chúng ta cụ thể hóa tên gọi đó trong lời chào của thánh lễ: “Chúa ở cùng anh chị em.” “Và ở cùng cha.”
Kết thúc Phúc Âm, Mátthêu để chính Ðức Kitô tự nói về mình bằng lời chấm dứt như sau:
- Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (Mt. 28:20).
Mở đầu và kết thúc một cuốn sách là dẫn vào và đưa tới cho người đọc toàn thể cuốn sách đó nói gì. Tư tưởng trọn gói ở đây, tên gọi của Thiên Chúa là ở cùng con người.
* * *
TÌNH YÊU VÀ Ở CÙNG
Thiên Chúa không yêu thương con người bằng cách từ trên cao nhìn xuống.
Thiên Chúa không cứu chuộc con người bằng cách ở trên cao vớt con người lên.
Thiên Chúa xuống thế làm người. Thiên Chúa ở cùng.
Trong cuộc sống nhân loại, con người thường cứu nhau bằng sức mạnh của kẻ hơn. Kẻ có sức mạnh hơn, nhìn xuống kẻ yếu. Tôi giàu có hơn, tôi giúp đỡ anh. Tôi khỏe mạnh hơn, tôi vớt anh lên.
Màu nhiệm tình yêu Thiên Chúa lại không như thế. Mà là một tình yêu ở cùng. Kinh Thánh chỉ định, tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng.
Tại sao tình yêu lại hệ tại ở cùng mà không phải ở trên thương xuống?
Tại sao tình yêu lại không là nhìn xuống để vớt lên mà lại là cùng xuống để nhìn?
Người môn sinh ưu tư với những băn khoăn.
Nắng trong vườn đã ngả dạt qua bờ dậu. Ráng chiều hoàng hôn rũ xuống lòng người môn sinh trẻ đang tầm thầy học đạo. Anh đã viết về tình yêu, đã nghe về tình yêu. Nhưng tình yêu vẫn là một huyền nhiệm. Tình yêu là gì?
Người môn sinh nhớ câu chuyện xa xưa:
- Bạch thầy, chúng con không chấp nhận nó được, nó ăn cắp, nó láu cá, nó làm biếng. Xin thầy đuổi nó về.
Mấy chú đệ tử nhỏ báo cáo với thầy. Và vị thiền sư đã bảo:
- Nó không biết phải, không biết trái nên mới cần ở với thầy. . .
Phêrô cũng thế, đã có lần Ðức Kitô gọi Phêrô là Satan. Nhưng Ngài không đuổi Phêrô. Ngài bảo: “Lui lại đàng sau Thầy.” Lui lại phía sau, chứ không là đuổi đi xa. Vì Satan đang ở trong con, nên con cần ở cùng Thầy.
Ðời người là những chặng đường kiếm tìm. Huyền nhiệm cuộc sống mở ra như những cánh hoa. Một ngày không tìm kiếm là một ngày chết ủ. Cánh hoa phải mở ra, bật lên thành màu. Bấy giờ mới là cánh hoa. Cuộc sống cũng thế, những ấp ủ băn khoăn kia phải bật lên thành màu mới là cuộc sống. Và ta phải tìm kiếm. Tại sao tình yêu lại hệ tại ở cùng? Nhất là tên gọi kia của tình yêu Thiên Chúa. Tại sao lại là Thiên Chúa ở cùng chúng ta? Ðể giúp người học trò tìm kiếm. Nhà đạo sĩ hỏi người học trò:
- Ngày con đau, mẹ con không là thầy thuốc. Bà không có quyền lực cứu con khỏi bệnh. Sao bà cứ đứng bên giường nhìn con, ngay cả khi con ngủ?
- Bạch thầy, vì thương con.
- Bà có chữa con hết bệnh được không?
- Bạch thầy, không.
- Không chữa được, vậy đứng đó làm gì?
Người học trò ngập ngừng.
- Bạch thầy, vì thương con.
- Thương, nhưng không làm sao chữa bệnh cho con được. Vậy thương là gì?
Người học trò bắt đầu hiểu. Tình yêu không cứ là “doing”, mà là “being.” Nghĩa là ở cùng. Thật ra, ở cùng, không phải là không làm gì. Bởi “ở cùng - being” đúng nghĩa là sự hiện hữu trọn gói. Khi linh mục nói “Chúa ở cùng anh chị em”, mà chỉ nói vì công thức cho qua. Như thế, sẽ là có “doing” đó, nhưng vắng mặt của “being.” Khi bà mẹ nhìn con ngủ trong cơn đau. Cứ chốc chốc, bà đến bên giường nhìn con ngủ. Bà không có năng lực chữa bệnh cho con. Bà không “doing” được điều gì theo nghĩa sản xuất. Bà chỉ hiện diện trọn gói tâm hồn bà ở đó. Ðấy là chiều sâu của ngôn ngữ ở cùng, là “being.”
Trong cuộc sống, tôi cần một người nhìn tôi. Nói với tôi là cuộc sống, có họ ở cùng với tôi. Người vợ dọn cơm chiều, chỉ mong chồng về, đến bên cạnh, thầm nói rằng “anh ở cùng em.” Buổi chiều đó có thể trở thành hương hoa. Họ cần cái ở cùng này. Người ta kinh nghiệm trong cuộc sống thực như thế. Không ai chỉ hạnh phúc bởi tấm pay check, có “doing” mà không có “being”. Trong nỗi đau, con người thường kêu:
- Lạy Chúa, xin cất chén đắng này cho con.
Họ muốn Thiên Chúa “doing”. Chúa hãy lấy quyền năng mà hành động. Nếu Chúa không cất nỗi đau cho con mà chỉ “being”, nghĩa là chỉ đau với con thôi thì có ích gì. Người ta lý luận tình yêu thì phải cụ thể bằng hành động. Chúa thương tôi, Chúa phải hành động, xin hãy tặng tôi những món quà tôi xin. Tình yêu Thiên Chúa lại không như thế. Thay vì cứu con người khỏi chết thì lại chết với con người. Thay vì cứu con người khỏi đau thì lại đau với con người. Trong nỗi bực dọc, con người oán trách Thiên Chúa. “Ông không phải là Ðấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với! (Lc. 23:39). Con người thách thức Thiên Chúa, cứu tôi đi, nếu thực sự thương tôi. Rồi tôi sẽ tin. Ðức Kitô không lấy quyền năng để cứu những tiếng kêu này. Ngài cũng không lấy quyền năng thoát khỏi cái chết này.
Tại sao tình yêu không là cứu người mình yêu khỏi chết, mà là chết cùng?
Trước khi tiếp tục đề tài. Vị đạo sĩ nhắc người học trò về một kinh nghiệm:
- Nỗi đau là không có ai đau cùng, chứ chưa hẳn là không có ai cất cho mình nỗi đau. Làm sao con có năng lực làm cho người chết sống lại? Con không cất được nỗi đau đó. Nhưng nếu con đau cùng, “being” bên cạnh người đang đau. Thì nỗi đau kia nhẹ vơi. Làm sao trong tình yêu mà người ta nói: Anh không cất được nỗi đau của em. Rồi người đàn bà đi sanh con một mình. Người đàn ông rất thực tế. Tôi không sanh con thay vợ tôi được. Tôi không “doing” gì được. Ông ở nhà đi câu.
Hạnh phúc và đau khổ không là cứu, là cho, mà là ở cùng.
Thiên Chúa ở cùng.
Người học trò im lặng suy nghĩ. Anh lắng nghe. Trong cái tĩnh mịch, anh mơ hồ nhìn thấy từ vùng im lặng đó, bật lên màu sắc của cuộc sống. Như những cánh mỏng thức giấc dần, bật màu thành bông hoa. Vị tôn sư như sợ người học trò ngần ngại với lời mình. Ông cắt nghĩa thêm:
- Thầy giả sử một vị tổng thống quyền uy, ông chỉ gật đầu, gia nhân của ông sẽ đem những người tỵ nạn vào nước ông. Ðó là cách nhìn xuống. Ðó là cách vớt lên. Nhưng giả sử, vị tổng thống ấy nghe tin còn mấy trăm người tỵ nạn mười mấy năm bơ vơ không quê hương. Nghe tin, ông tội nghiệp. Ông bỏ văn phòng. Ông đến với người tỵ nạn. Ông hỏi người tỵ nạn làm gì kiếm sống qua ngày. Dạ thưa ngài, tôi làm nghề rửa xe. Ðể hiểu, hiểu để thương, ông tổng thống quyền uy kia, mặt mũi lấm lem, quẹt mồ hôi, tóc bù xù dính dầu nhớt xăng, cũng chầu chực rửa xe, cũng ở bến xe, cũng gặm bánh mì. Con có thể hình dung một tổng thống nào dám làm thế không?
Người học trò im lặng hơn. Trong tâm trí anh. Anh không thể hình dung có chuyện đó. Anh hiểu ý vị tôn sư đang muốn nói, Thiên Chúa đã làm như vậy. Ðó là ý nghĩa EMMANUEL, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Khi cho một món quà là cho một phần tài sản. Khi cho chính mình là cho hết. Không thể cho hết khi mình không cùng giống thân phận người đó. Bởi thế, vô cùng tuyệt vời khi Phúc Âm tường thuật về người lính canh như sau:
Ðức Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. (Mc 15: 37).
Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Ðức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói:
Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15: 39).
Hai sự kiện đặc biệt trong cụm từ “Tắt Thở” mà ta phải kiếm tìm.
- Thứ nhất, lúc tạo dựng con người. Thiên Chúa thở hơi, cho Ađam sự sống. Bấy giờ Thiên Chúa chỉ cho một chút hơi thở. Nhưng ở đây, Ngài không cho một chút hơi, mà Tắt Thở. Nghĩa là cho hết không còn hơi để thở. Như thế, tên gọi EMMANUEL, càng ngày theo chiều lịch sử cứu độ càng trở nên rực rỡ. “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, lời tung hô ấy như ngọn pháo bông muôn màu bật tung lên trong thánh lễ.
- Sự kiện thứ hai là viên đội trưởng, lính canh nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa khi Ngài “Tắt Thở”. Tắt thở là giây phút yếu nhất của một đời người. Ðáng nhẽ ông ta phải nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa trong những việc quyền năng, những phép lạ lớn lao. Tại sao lại nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa trong giây phút yếu đuối nhất?
Vị tôn sư nói với người học trò:
- Con ạ, hình ảnh người lính canh ở đây cho chúng ta một chiều sâu thiền niệm mà không biết ngọn núi cao nào, không biết vùng thinh lặng nào mới chỉ bảo cho chúng hết ý nghĩa. Trong giây phút yếu nhất ấy của Chúa Kitô, ông ta nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa. Còn chúng ta, chúng ta quá yếu đuối tâm linh nên không nhìn ra sức mạnh trong sự yếu đuối như người lính canh.
Trời đã vào khuya, hai thầy trò, vị tôn sư và người thanh niên tầm thầy học đạo như thả hồn mình về biến cố hai nghìn năm trước trước mầu nhiệm Tắt Thở của một người. Trong tâm trí anh, anh không thể nào hình dung vị tổng thống kia dám trở nên yếu đuối như một người tỵ nạn được. Anh bắt đầu hiểu hơn, vị tổng thống ấy chỉ có thể thương xót bằng từ trên nhìn xuống, bằng từ trên vớt lên. Ông ta không thể xuống để ở cùng.
Ở cùng là trở nên một thân phận. Ðấy là chiều sâu khó nhất của tình yêu. Khó nhất mà cũng đẹp nhất. Phải trở nên thân phận thì mới hiểu. Hiểu mới có thể thương. Trong ý nghĩa này, thương bao giờ cũng phải là ở cùng.
Người học trò, như vẫn ưu tư. Nếu tình yêu là ở cùng. Tại sao Ðức Kitô lại kêu lên trong giờ sau hết: “Lạy Cha, Cha bỏ con sao đành Cha?”
Vị tôn sư như đọc hết ý nghĩ thầm kín của học trò mình. Ông ôn tồn bảo:
Chiều sâu của tình yêu là ở cùng. Ðêm nay trời đã vào khuya. Con về ngủ đi. Tại sao Chúa Cha không lấy quyền năng như lời Ðức Kitô cầu xin, cất chén đắng này cho con?
Tại sao Chúa Kitô như quá cô đơn vậy?
“Lạy Cha, Cha bỏ con sao đành Cha?” Ðâu là ý nghĩa ở cùng?
Ðây là Tình Yêu và Quyền Năng. Chúng ta sẽ nói tới.
Trời khuya rồi. Ðêm thường nói với chúng ta nhiều ý nghĩa cuộc sống. Ðêm nói về thân phận mù lòa, vất vả đi tìm. Những giờ phút tăm tối cuộc sống, khổ làm sao. Nhưng nhờ đêm mà ta phải khắc khoải. Nhờ khắc khoải tìm kiếm mà hồn ta mới thức giấc. Và con ạ, không bao giờ đêm dài bất tận. Ngày mai có ánh bình minh.
Vị tôn sư đi về am thất. Người học trò vẫn ngồi lại. Anh đang nhìn vào cõi sáng của bóng đêm. Thứ cõi sáng và bóng đêm của riêng anh.
* * *
Từ lời cầu chúc “Chúa ở cùng anh chị em.” “Và ở cùng cha.” Thánh lễ phải là mầu nhiệm diễn tả tên gọi làm người của Thiên Chúa, EMMANUEL, Chúa ở cùng chúng ta. Mỗi thánh lễ, nếu ta trân trọng trong lời chào này, thì thánh lễ quá ngọt ngào. Thánh lễ là một diễn giải tuyệt vời mầu nhiệm Thiên Chúa yêu thương. Chúng ta hạnh phúc nối tiếp bí tích kỳ diệu đó qua những lời chào mang cả một chiều kích thần học rất sâu:
- Chúa ở cùng anh chị em.
- Và ở cùng cha.

NGUYỄN TẦM THƯỜNG
Trích tập suy niệm KẺ ÐI TÌM

Ðầu năm, người ta hay nói đến những lời cầu chúc.
Xin anh chị em tiếp tục cầu chúc cho linh mục chúng tôi: “Chúa ở cùng cha”.
Và cũng đầu năm, xin cầu chúc: “Chúa ở cùng anh chị em.”
Chớ gì chúng ta trân trọng những lời cầu chúc này trong các Thánh Lễ.
Tôi sẽ trở lại đề tài này: TÌNH YÊU VÀ QUYỀN NĂNG để tìm kiếm Lời Chúa trong câu: “Lạy Cha, Cha bỏ con sao đành Cha?”

Lời giới thiệu

____________________________________________