Số 43 Ngày 4.02.2007
Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề..
Một cách cửa đầu tiên hé mở vào thế giới Linh Đạo mênh mông…
Tâm Linh Vào Đời tiếp tục đặt vấn đề LỜI CHÚA ỨNG NGHIỆM
Ứng nghiệm Lời Chúa nơi tôi: Lung Linh
Nói lời tình yêu bằng trái tim lửa cháy : Jos Hiền
Tay thả lưới lành nghề trong Chúa: Trần Mỹ Duyệt
Ứng nghiệm nơi sứ mệnh Giáo Hội: Ngô Tôn Huấn
Sống với nhiều thái độ: Linh Kỳ
Mê tín trong Tôn giáo: Xuân Thái
Giêsu ở lại cùng con : Aimy HoàngLung Linh
Trong vấn đề ứng nghiệm có nhiều quan niệm vì thế có nhiều lối giải thich
Quan niệm phàm hèn:
Lời Chúa chỉ ứng nghiệm cho các vĩ nhân như Đức Giêsu, các tông đồ và các Kitô hữu nguyên thủy.. đã được các ngôn sứ báo trước cả mấy trăm năm..còn chúng tôi, tội lỗi đầy mình, yếu đuối, Lời Chúa làm sao có thể ứng nghiệm cho nổi.
Quan niệm thực tế
Thường thường khi gặp thành công hay thất bại, chúng ta thường nói nửa đùa nửa thật: Quả là ý Chúa!! Đúng là ý Chúa.
Một bài báo đã viết rằng:
Phải chăng Giáo hội Tây Phương đang hấp hối như lời cảnh báo của Vị Ðương Kim Giáo Hoàng và nhiều giáo phận tại Hoa Kỳ đang bị phá sản phải bán hàng trăm ngôi thánh đường để bồi thường cho tội lạm dụng tình dục và bao che... đang ứng nghiệm lời sấm của Chúa công bố với vua Salômôn? Giáo hội Công giáo Việt Nam bề ngoài xem ra như đang phục hưng và phát triển, nhưng thực chất, phải chăng Giáo hội chúng ta đang sống trung thành với Tin Mừng của Chúa Kitô cũng như với lời sấm vừa rồi của Thiên Chúa?
Quan niệm cục bộ: Ta tốt - Địch xấu
Trong một cuộc tranh chấp nẫy lửa, cuối cùng cộng đòan ta thắng, cộng đoàn phe kia rút êm. Thế là phe ta hỉ hả với nhau:
Thế là ứng nghiệm Lời Chúa: Đúng là cỏ lùng, cuối cùng cũng bị loại bỏ ra ngoài!!
Quan niệm vâng phục:
Huynh trưởng đại diện cho Chúa nên những gì huynh trưởng làm dễ ứng nghiệm Lời Chúa hơn bè lũ thấp cổ bé miệng của các thành viên tầm thường…
Từ đó, những vị lãnh đạo các cộng đoàn hay sử dụng để chụp mũ các thành viên một cách hết sức thoải mái và tự nhiên, theo một tiêu chuẩn: theo ý lành đạo là theo ý Chúa và dễ ứng nghiệm Lời Chúa hơn!!!Quan niệm Tâm Linh
Theo ánh mắt tâm linh, úng nghiệm được hiểu đơn giản và thực tế ngay trong đời thường của một người Kitô hữu.
Nhưng làm sao tôi biết chắc chắn Lời Chúa ứng nghiệm nơi tôi.
Có một cách vài cách giúp chúng ta khẳng định Lời Chúa ứng nghiệm nơi tôi.
Trước tiên, xin đừng mơ tưởng ứng nghiệm những chuyện vĩ đại qua những biến cố long trời lở đất, lòng người thất kinh…
Chính ứng nghiệm thuộc lãnh vực Tâm linh mới thực sự là những ứng nghiệm quan trọng và cần thiếtChúng ta thử rút kinh nghiệm từ Thày Giêsu
Đức Giêsu đã tuyên bố
Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha,
cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức,
công bố một năm hồng ân của Chúa.
Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống.
Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người.21 Người bắt đầu nói với họ:
"Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe." (Lc 4:18-20)
Đối với Đức Giêsu, qua lời tuyên bố trên, Lời Chúa đã ứng nghiệm ở đỉểm nào?
Có 3 điều đã được ứng nghiệm
- Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,
- để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
- Người đã sai tôi đi công bố
Trong ba điếu này, điều ứng nghiệm quan trọng và nền tảng nhất chính là:
Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,Từ đó, chúng ta thử nhìn lại chính lòng mình
Sau khi đọc Kinh Thánh, tôi đặt vấn đề, suy tư, tìm hiểu, chia sẻ, khám phá…và sống trong tâm tình mình đã khám phá, đã đổi mới quan niệm…
Một lúc nào đó… con mắt tâm linh ta mở ra, Lúc đó tôi cảm nhận rất rõ Lời Chúa
Người mù biết họ được sáng mắt
Lập tức ta vui mừng biết rằng Lời Chúa đã ứng nghiệm nơi tôi
Vì trước đây, tôi mù mờ, đi trong đêm tối…với tư tưởng rất tiêu cực
Chúa cao sang, thánh thiện, sáng láng - Tôi thấp hèn, tội lỗi, mù tối
Nay qua tìm hiều, suy tư và sống Lời Chúa, mắt tôi dần dần sáng ra…cuối cùng tôi nhận ra rằng.
Tôi chính là con yêu dấu của Chúa
Ngay từ trong lòng mẹ, tôi đã được Thần Khí Ngài thánh hiến và sai đi làm ngôn sứ cho muôn dân
Và hiện nay, chúng tôi đang công bố Lời Chúa cho anh em qua nhiều cách thế khác nhau: chia sẻ trong các buổi họp, trong gia đình, bên bàn cafê, trên mạng internet..
Chính lúc này, tôi xác tín một cách rất rõ ràng: Lời Chúa đã ứng nghiệm nơi tôi…Jos Hiền
1. Lời Chúa thường hay gây “dị ứng” :
Lời Chúa là “Lời sáng tạo”, “Lời quyền năng”, “Lời yêu thương”, “Lời an ủi”…nhưng cũng là “Lời thường gây dị ứng”. Thông thường, ai cũng thích gặp được những “lời yêu thương”, “lời an ủi”. Nhất là cứ mỗi độ Tết đến, ai ai cũng mong “bốc” được một câu Lời Chúa đầy khích lệ, an ủi như “Hỡi những ai lao đao vất vả, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho…”, hoặc “Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm sẽ gặp…”, hoặc “Phúc cho biết xót thương vì họ sẽ được thương xót”.V…V…, hoặc ít ra, một Lời khuyến thiện chung chung như “Thầy là đường, sự thật, sự sống ; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. Nhưng nhiều người sợ nhất là “bốc phải” những câu như “Khốn cho các ngươi bọn biệt phái giả hình…”, hoặc “hỡi nòi rắn độc, trốn đâu cho khỏi cơn thịnh nộ sắp đến…”; thậm chí có người sợ những câu có liên hệ tới tài chánh như “Ngươi hãy về bán hết của cải phân phát cho kẻ nghèo rồi hãy đến theo ta”, hoặc dị ứng cả với những câu có liên quan tới việc làm hòa, nhường nhịn, tha thứ : “Ta không bảo phải tha bảy lần mà là bảy mươi lần bảy lần”, “hãy về làm hòa đã rồi đến dâng lễ…”
Tại sao lại sợ những câu Lời Chúa như thế. Đơn giản, vì tin và hiểu rằng : Chúa đã nói thì không thể sai được, và Chúa Phán mà cố tình không thực hiện là mắc lỗi với Chúa, là không toàn tâm toàn ý với Lời Chúa.
Trích đoạn Tin Mừng thánh Luca liên tiếp hai Chúa Nhật, vừa rồi và hôm nay, đã cho thấy rõ hai thái độ của dân Na-da-rét trước Lời Chúa. Vừa nghe Chúa công bố lời của Ngon sứ I-sa-ia “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó…” họ liền phấn khởi “tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người”. Nhưng sau đó, khi nghe chính những Lời của Đấng là “Ngôn sứ trên mọi sứ ngôn” phán “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình…vào thời ngôn sứ Ê-li-sa, thiếu gì người phung hủi ở trong nước Ít-ra-en, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Na-a-man, người xứ Sy-ri thôi”, thì “mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ”, đến độ muốn thủ tiêu Người bằng cách xô xuống núi.
Quả thật, Lời Chúa thường hay gây dị ứng là thế.
Cho nên bài học đầu tiên của “chương trình lời Chúa” hôm nay đó chính là : xin cho con thành tâm đón nhận Lời Chúa, cho dù Lời đó có gây dị ứng, có làm “trầy vi tróc vảy”, có kết án con, có bôi nhọ con, có làm cho con bầm dập, có khiến con hổ ngươi… đúng như lời trong thư Do Thái đã dạy :
Lời Thiên Chúa là Lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi : xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người” (Dt 4,12).
Để có được một thái độ như thế trước Lời Chúa không phải là chuyện của một sớm một chiều, mà là một cuộc “trường chinh” của nguyện cầu và cố gắng, và trên hết, là thái độ khiêm hạ. Khiêm hạ tự nhận sự yếu đuối, tội lỗi, bất toàn trước Lời Chúa, như người trộm lành thuở xưa : “Chúng ta chịu như thế nầy là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông nầy đâu có làm điều gì trái” (Lc 23,41). Chỉ với thái độ đó, Lời Chúa sẽ đưa chúng ta đến ngưỡng cửa của sự giải thoát đích thực, của hạnh phúc vĩnh hằng : “Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên thiên đường” (Lc 23,43).2. Không tránh né sứ vụ “mang lời Chúa”.
Chính vì “Lời Chúa hay gây dị ứng cho người nghe” như thế, nên, không ít người đã thoái thác nghĩa vụ mang lời Chúa, tránh né “sứ vụ ngôn sứ”. Chuyện nầy đã từng xảy ra với các vị đại ngôn sứ như Mô-sê : “Con là ai mà dám đến với vua Pha-ra-ô…” (Xh 3,11), như Ê-li-a xin cho được chết “Lạy chúa, đủ rồi ! Bấy giờ xin Chúa lấy mạng con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông con” (1 V 19,4), như Giê-rê-mi-a : “Ôi lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói” (Gr 1,6), và đặc biệt như trường hợp Giô-na : Chúa bảo “mang Lời Chúa tuyên rao” ở đi Ni-ni-vê, ông ta đã trốn đi lối khác : “Ông Giô-na đứng dậy nhưng là là để trốn đi Tác-sít, tránh nhan Đức Chúa” (Gn 1,3)
Đức Kitô trong Tin Mừng vừa được công bố, không dừng lại ở “khoản” dân chúng thán phục, hoan hô để tận hưởng cái “thành công ban đầu tại quê hương” trong sứ vụ ngôn sứ vừa mới khởi sự ; mà Ngài đã “tới luôn bác tài”, sẵn sàng vạch trần thói xấu của dân chúng đồng hương Na-da-rét, cái thói “coi mặt mà bắt hình dong”, đánh giá con người chỉ bằng cái mã hình thức và coi thường những thân phận thấp cổ bé miệng. “Ông nầy không phải là con ông Giu-se đó sao ?”. Và dĩ nhiên, cái cung cách hành xử sứ vụ ngôn sứ như thế, hầu hết đều dẫn tới “thiệt thân”. Nhẹ là bị săn đuổi như Ê-li-a, Giê-rê-mia…nặng là “đi đứt cuộc đời” như Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu, mục sư Luther King, Đức Giám mục Rômêrô…
Và như thế bài học thứ hai trong “câu chuyện Lời Chúa” hôm nay đó chính là hãy can đảm “mang lấy Lời Chúa và tuyên rao” cách thành tâm, can đảm. Dĩ nhiên, không đợi đến lúc có được quyền cao chức trọng mới thi hành hiệu quả sứ vụ nầy, mà mỗi một cuộc đời đều là một cuộc lên đường thi hành sứ vụ ngôn sứ.3. Nói Lời Chúa làm sao cho thuyết phục :
Còn nếu hỏi : Phải rao giảng Lời Chúa làm sao, phải thể hiện sứ vụ ngôn sứ thế nào ? thì Bài Đọc II hôm nay với chủ đề “Bài ca Đức Mến” trong thư của thánh Phaolô gởi giáo đoàn Cô-rin-tô là một câu trả lời tuyệt vời nhất :
“Giả như tôi nói được các thứ tiếng của loài người, và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì…” (1Cr 13,1-2)
Hình như có một điệp khúc trong một bài ca của nhạc sĩ Trần Tiến đó là “hãy hát lời tình yêu bằng trái tim lửa cháy, háy hát lời lửa cháy bằng trái tim tình yêu…”. Vâng, làm ngôn sứ, thi hành sứ vụ rao giảng Lời Chúa đó chính là “nói lời tình yêu bằng trái tim lửa cháy”. Nếu lời Chúa không được chuyển tải bằng ngôn ngữ của tình yêu, một tình yêu đã được cảm nghiệm, đã được sống, thì chỉ là một cuộc “tuyên truyền, một cuộc vận động chính trị, một cuộc ba hoa quảng cáo…” của trường phái “mồm loa mép dãi”, chứ không bao giờ là thuộc trường học của Chúa Giêsu, của Tin Mừng. Mà để “nói lời tình yêu” như thế, thì người mẹ người cha nào không nói được với con cái trong mái ấm gia đình của mình, người chồng người vợ nào không nói được với nhau trong cuộc sống lứa đôi ? Anh chị em ruột thịt lẽ nào không nói được hai tiếng thương nhau, bạn bè cùng trang lứa, cùng học hành, cùng nghề nghiệp, cùng cảnh ngộ…lẽ nào không trao cho nhau được một ánh mắt thân thiện, một tiếng nói chân tình? Những người chưa một lần được nghe nói đến giới luật tình yêu, chưa một lần nhìn thấy cây Thánh giá với một con người bị chết trần truồng vì yêu…thì có thể ngập ngừng với hai tiếng “yêu thương”, chứ chúng ta, những người Kitô hữu, chúng ta đã được đào tạo, trui rèn trong cái trường dạy yêu thương từ Bê-lem đến Đồi Sọ, từ cái dấu chỉ Thánh giá đơn sơ nhất được vẽ trên mình đến cả 365 ngày cử hành hy lễ tình yêu, thì không thuộc được hai chữ “yêu thương” mới là lạ.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau đừng để hôm nay “Chúa Giêsu băng qua giữa chúng ta mà đi” như một người khách lạ, nhưng xin Người hãy ở lại trong tâm hồn mỗi người chúng ta để dạy bảo chúng ta học thuộc ngôn ngữ tình yêu của chính Ngài, hầu ra đi mang Lời Chúa chia sẻ cho anh em chung quanh bằng chính cuộc sống thấm tràn Đức Mến. Amen.Trần Mỹ Duyệt
“Vâng lời thầy, tôi thả lưới” (Luc 5:5). Câu trả lời nghe sao có vẻ miễn cưỡng quá. Nhưng chúng ta cần phải đọc lại toàn thể câu truyện đối đáp giữa Chúa Giêsu và Phêrô mới thấy rằng để làm công việc “thả lưới” lần này, Phêrô đã phải cố gắng lắm lắm. Phải chiến đấu với tính tự ái và lý trí tự nhiên của mình, và sự cố gắng tâm lý này có khi còn hơn suốt một đêm canh thức và chài lưới mệt nhọc: “Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà chẳng bắt được một con cá nào. Vậy, vâng lời thầy, tôi thả lưới” (Luc 5:5). Có nghĩa là chỉ vì vâng lời thôi, còn suy luận tự nhiên và kinh nghiệm nghề nghiệp thì thả lưới kiểu này không bảo đảm bắt được cá!
Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Phêrô có thể diễn tả một cách rất tự nhiên là Chúa Giêsu một anh thợ mộc trẻ, con ông phó một Giuse quê làng Nagiaréth. Còn Phêrô là một tay già đầu và chuyên nghiệp về nghề chài lưới sống gần biển hồ Têbêria. Một dân chuyên nghiệp đã vất vả suốt đêm không được một con cá nào, nay phải nghe lời một anh thợ mộc trẻ hướng dẫn về nghề nghiệp của mình. Đó mới là lý do tại sao trước khi nói: “Vâng lời thầy, tôi thả lưới” (Luc 5:5), Phêrô đã phải trút bỏ phần nào cái ngờ vực, cái bực bội, và cái khó hiểu trong đầu ông bằng một câu nói rất thẳng thừng, rất bộc trực: “Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà chẳng được gì”.
Nhưng chúng ta có nghĩ rằng đây là mẻ cá mà chính Chúa Giêsu đã qua tay Phêrô buông lưới để bắt không? Và chúng ta có bao giờ nghĩ đến rằng qua hình ảnh mẻ cá đó, Chúa Giêsu muốn giới thiệu với chúng ta một hình ảnh của nước Trời, và về sự tham dự của mỗi Kitô hữu trong sứ mạng đem các linh hồn về cho ngài không: “Từ nay anh sẽ trở thành tay chài lưới người” (Lc 5:10).
Những con cá của mẻ lưới nước Trời:
Bằng cặp mắt Đức Tin, chúng ta phải nhìn nhận rằng chúng ta là những kết quả thực tiễn của Chương Trình Cứu Độ mà Chúa Giêsu đã thực hiện. Sứ mệnh của ngài khi xuống trần gian không gì hơn là để đem mọi người về với vĩnh hằng. Biến đổi tình trạng thù nghịch, tội lỗi của chúng ta thành thân thiện và tốt lành đối với Thiên Chúa. Và do đó, chúng ta chính là những con cá mà ngài muốn buông lưới để bắt.
Thật vậy, những con cá không được mẻ lưới lạ lùng này, mẻ lưới Tin Mừng bắt lấy là những con cá sẽ bị chết dưới lòng đại dương trần gian tội lỗi, và là mồi ngon cho thủy quái tức là ma quỉ. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh người ngư phủ thả lưới bắt cá làm nền tảng cho mẻ cá mà chính ngài là ngư phủ buông lưới. Phêrô thả lưới, nhưng Chúa mới chính là ngư phủ của mẻ lưới lạ lùng này. Những con cá mà Phêrô và các bạn chài kéo lên chính là hình ảnh các linh hồn mà Chúa Giêsu và các tông đồ, các nhà truyền giáo đem về cho Chúa Cha.
Nhưng như những con cá được Phêrô và các bạn chài mang lên thuyền, đòi phải bỏ lại phần biển quen thuộc của mình. Phải được kéo lên thuyền, và phải qua một cuộc chuyển đời. Những Kitô hữu được Chúa kéo lên thuyền Giáo Hội từ biển trần gian khổ ải cũng vậy. Họ cũng phải bỏ lại quá khứ của mình. Phải dễ dãi để Chúa đem lên thuyền. Bỏ lại quá khứ tội lỗi. Chấp nhận và sống cuộc đời đổi mới là điều cần thiết mà mỗi Kitô hữu chúng ta phải làm khi nghĩ về ơn gọi Kitô hữu của mình.
Những tay chài lưới nước Trời:
Không như những con cá được kéo lên bởi Phêrô và các bạn chài, những Kitô hữu một khi được Chúa kéo lên khỏi biển trần gian và đem lên thuyền của Giáo Hội, còn phải trở thành những bạn chài giúp Chúa tiếp tục buông lưới: “Từ nay anh sẽ trở thành những kẻ chài lưới người” (Luc 5:10).
Người Kitô hữu khi được Chúa kéo lên từ biển trần và đưa vào thuyền Giáo Hội qua Bí Tích Thánh Tẩy, cùng một lúc ngài cũng biến họ thành “những tay chài lưới người”. Qua Bí Tích Thánh Tẩy, mỗi Kitô hữu đều được trao phó ba vai trò gồm tiên tri, tư tế, và vương giả.
Vương giả, vì nhờ Bí Tích Thánh Tẩy chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, là công chúa và hoàng tử của nước Trời. Thuộc đại gia đình Thánh. Đời sống Kitô hữu chúng ta phải làm rạng danh dòng tộc của mình.
Tư tế, vì chúng ta tất cả đều được thông quyền Thượng Tế tối cao của Chúa Giêsu để tế lễ và tham dự tế lễ Thiên Chúa. Chúng ta được thừa hưởng bàn tiệc Nước Trời ngay từ đời này qua việc dâng lễ và hiệp lễ mỗi ngày. Ngoài ra, bàn tiệc tình thương ấy còn được biểu lộ qua đức ái thực hành mà mỗi người chúng ta phải cố thực hành để đem lại bình an, thương yêu, và hạnh phúc cho nhau như những người anh em ruột thịt.
Và tiên tri, vì tất cả chúng ta đều được xức dầu và sai đi. Thánh Thần Thiên Chúa đã ngự xuống và thánh hiến chúng ta trong ngày chúng ta lĩnh phép Thánh Tẩy, và ngài cũng đã sai chúng ta vào lòng đời.
Như Chúa Giêsu đã bảo Phêrô và các bạn ông chèo thuyền ra khơi để thả lưới. Kitô hữu chúng ta cũng được ngài sai đi vào lòng đời bằng tinh thần Tin Mừng của Phúc Âm để đem các linh hồn về với Chúa. Tức là phải trở thành những kẻ chài lưới người.
Sứ mạng những tay chài lưới nước Trời:
Do vai trò và sứ mạng là những tay chài lưới người, Kitô hữu chúng ta cần phải hiểu rằng, các linh hồn, tức là những con cá của nước trời không giống như những con cá mà Phêrô và các bạn chài của ông kéo lên thuyền. Chúng vô tư và không biết gì. Nhưng cá nước Trời, những con người mà chúng ta cần đem về cho Chúa thì khác. Họ có tự do, có tư tưởng, có suy nghĩ, có tất cả những gì mà một con cá bình thường không có. Do đó, việc chinh phục hẳn phải gắng sức và đòi hỏi nhiều nỗ lực. Mà nỗ lực chính là cuộc sống chứng nhân của mỗi Kitô hữu chúng ta. Ý nghĩa của hành động: “Hãy chèo thuyền ra chỗ nước sâu” (Luc 5:4) là vậy.
Chèo thuyền ra chỗ nước sâu, tức là phải đối diện với sóng gió và với nguy hiểm. Nhưng như Chúa Giêsu đã minh chứng với Phêrô và các bạn của ông là ở chỗ nước sâu, thì mới có nhiều cá. Đời sống và những hoạt động tông đồ của chúng ta cũng không đi ra ngoài định luật này. Chúng ta phải vượt ra khỏi nhà thờ, vượt ra khỏi khuôn viên nhà thờ, và phải dấn thân đi vào những môi trường mới, sẵn sàng với những thử thách mới, lúc đó chúng ta mới mong có dịp gặp gỡ và tiếp xúc với nhiều người, và mới có cơ hội đem họ trở về với con thuyền Giáo Hội. Đem họ về nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã làm gương về điều này. Ngày đã len lỏi vào mọi tầng lớp xã hội, kết thân với mọi người, đón nhận mọi người từ Phêrô, Mátthêu, Giakêu, Mađalêna, các người cùi, người mù, người điếc, người què. Cả đến những Pharisiêu, ký lục, luật sỹ và các thượng tế. Chúa cũng tiếp đón, trao đổi, và giao thiệp với họ.
Người tông đồ, người ngư phủ của nước Trời mà chỉ luẩn quẩn quanh bờ, sợ sóng gió, sợ chỗ nước sâu thì cũng giống như những linh mục, những Kitô hữu chỉ luẩn quẩn bên trong hoặc bên ngoài nhà thờ, chắc chắn là không bắt được cá, và cũng không có cá lớn. Cá lớn thì ở xa bờ, mà xa bờ thì biển sâu, và biển sâu thì sóng to và gió lớn nguy hiểm. Nhưng đó là sứ mạng của người Kitô hữu đích danh. Không ngại nguy hiểm, gian nan và vất vả. Lòng yêu mến Thiên Chúa, và nhiệt tình đối với các linh hồn chính là động lực tạo nên sức mạnh và lòng can đảm để chấp nhận hy sinh, thử thách. Nhưng cốt lõi vẫn chính là lòng tín thác và tin vào quyền năng của Thiên Chúa, như Phêrô đã vất vả suốt đêm nhưng rồi “vâng lời thầy, tôi thả lưới”. Chúng ta hãy tạo cơ hội cho Chúa Giêsu dùng chúng ta để thả lưới bắt cá các tâm hồn.
Thực vậy, nêu tôi nhận ra Chúa đang hiện diện và thực sự sống trong tôi để rồi trong niềm vui chan hòa tôi thả những tấm luới niềm vui Loan báo Tin Mừng ..Đó cũng chính là lúc tôi nhận ra Lời Chúa đang ứng nghiệm nơi tôi. Tôi đã trở thành tay lưới người lành nghề trong Chúa.
Lời Giới ThiệuPhanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Tin Mừng Chúa Nhật thứ 3 Mùa Thường Niên hôm nay thuật lại cho chúng ta Ngày khai mạc Sứ Vụ Cưú Thế của Chúa Giêsu cách nay trên 2000 năm.
Sứ Vụ đó đã được Ngôn sứ Isaia loan báo từ 8 thế kỷ trước đó như sau:
‘Thánh Thần Chúa ngự trên tôi,
sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó
loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm
cho người mù được thấy,
trả tự do cho người bị áp bức,
công bố năm hồng ân của Thiên Chúa”.
Sau khi đọc đoạn Sách Thánh trên trong hội đường, Chúa Giêsu đã long trọng tuyên bố : “ Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh các ông vừa nghe.”
Lời loan báo này hẳn đã làm kinh ngạc những người Do Thái đang có mặt trong hội đường lúc đó, vì chắc chắn họ đã tự hỏi ; Ông này là ai mà dám nhân lời Kinh Thánh nói trên ứng nghiệm cho mình? Phải chăng Ông là Đấng Messia mà các ngôn sứ đã loan báo từ lâu ? Đúng, Chúa Giêsu chính là Đấng Messia, tức Chúa Cứu Thế đã giáng sinh trong hang bò lừa mà các thủ lãnh cũng như hầu hết dân Do Thái đã không nhận ra và đón tiếp khi Người nằm trong máng cỏ 30 năm trước đó. Người đến để thi hành Sứ Mệnh cưú chuộc nhân loại của Thiên Chúa và đã hoàn tất Sứ Mệnh ấy qua hành trình thập giá, chết, sống lại và lên trời. Tuy nhiên, Sứ Mệnh ấy vẵn còn được tiếp tục thi hành trong Giáo Hội từ đó đến nay và còn mãi về sau cho đến hết thời gian để mang ơn cứu độ đến cho nhiều người.
Phải chăng đây cũng là lúc thuận tiện để chúng ta suy niệm đôi điều về Sứ mệnh mà Chúa Kitô đã hoàn tất và trao phó lại cho Giáo Hội trước ngày Người về trời : “ anh em hay đi khắp nơi và làm cho muôn dân thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em…”(Mt 28:19-20)
Với mệnh lệnh trên của Chúa Kitô, những ai đang có sứ mạng rao giảng và phục vu cho Tin Mừng, cần nhìn lại những gì mình đã và đang làm để xem có trung thực với sứ mạng ấy trong hoàn cảnh thế giới ngày nay hay không.
Thật vậy, chúng ta hãy cùng nhìn lại những việc Chúa Giêsu đã làm và lời Người đã nói trong khi thi hành sứ mạng cưú thế mà ngôn sứ Isaia đã được linh ứng để viết ra trên đây.
Trước hết, khi sinh ra, Người đã không chọn cho mình một nơi xứng đáng với địa vị Thiên Tử -mà ngược lại- đã để cho Mẹ Maria “ lấy tã bọc con, rồi đặt trong máng cỏ vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.”(Lc 2:7).
Lớn lên khi đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Người đã lang thang như kẻ vô gia cư, vì : “ con chồn có hang, chim trời có tổ , nhưng Con Người không có chỗ dựa đầu”(Mt 8:20). Mặt khác, Người cũng đặc biệt căn dặn các Tông Đồ : “ Đừng sắm vàng bạc, hay tiền đồng để giắt lưng” ( Mt 10:9).
Sau hết, khi chết, Người không có chỗ để chôn, nên ông Giô-xép phải cho mượn ngôi mộ trống chưa dùng “đục sẵn trong núi đá” để Người nằm tạm trong 3 ngày .
Như vậy, thử hỏi Chúa Giêsu có đóng kịch khó nghèo để “mị dân” hay lừa dối ai không, hay thực sự đó là tất cả đời sống của Người khi thi hành sứ mệnh của Đấng Thiên Sai trong trần thế cách nay trên 2000 năm?
Vậy tiếp tục sứ mệnh của Người ngày nay trong Giáo Hội và thế giới, người tông đồ
có cần nêu cao tinh thần khó nghèo đó để không chạy theo những quyến rũ trần thế mà đi tìm tiền của, địa vị., chức quyền, danh vọng trái ngược với gương thanh bần mà Chúa Giêsu đã sống và để lại cho chúng ta hay không ?
Nếu có thì tại sao vẫn còn gương xấu về tình trạng đua nhau đi kiếm đôla, công khai buôn thần bán thánh (simonia) bằng cách rao bán “lễ đời đời, mua hậu” để vơ vét sai trái tiền bạc của giáo dân nhẹ dạ, không am hiểu giáo lý về giá trị cứu rỗi của Thánh Lễ?
Và nếu thực sự muốn sống tinh thần khó nghèo của Chúa, thì người tông đồ có được đòi bổng lễ cao hơn mức qui định của giáo quyền, hay từ chối dâng lễ vì chê ít tiền hay không ?
Chúa Giêsu đã nghèo đến nỗi “không có chỗ tựa đầu” lúc đi nghỉ về đêm, vậy có cần xây nhà thờ cho sang cho đẹp, xây nhà xứ, toà Giám mục cho lộng lẫy với mọi tiện nghi đến nỗi phải chậy đôn đáo khắp nơi để tìm tiền về phung phí hay không ?
Mặt khác, Chúa đến để “loan báo tin vui cho người nghèo khó, trả tự do cho người bị áp bức”, thì người tông đồ trung tín có được phép bợ đỡ, làm tay sai cho thế quyền, làm “ăng-ten” để cầu danh, kiếm lợi cho cá nhân mình và nhắm mắt, bịt tai trước mọi bất công xã hội, dưng dưng trước mọi đau khổ nghèo đói của bao người kém may mắn, cũng như làm ngơ trước tình trạng băng hoại nghiêm trọng về luân lý, đạo đức ?Sau hết, Chúa đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn dân.
Cho nên, Người đã dạy các môn đệ xưa kia : “ Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.” (Mt20:26-27).
Vậy, muốn làm lớn, đứng đầu để làm đầy tớ anh em theo gương Chúa đã cúi mình rửa chân cho các Tông Đồ trước khi thọ nạn thì có cần phải kéo phe, kéo cánh, mua chuộc chỗ này, luồn lọt cửa kia để đưa người của phe nhóm mình lên nắm giữ các chức vụ lãnh đạo, bất chấp tiêu chuẩn khách quan về khả năng, đức độ và uy tín quần chúng ?
Nếu không thì tại sao người ta đã rỉ tai nhau câu nói châm biếm này : Khi chọn giám mục, người ta mời Chúa Thánh Thần đi nghỉ hè, hay không cấp visa cho Ngài vào dự. Khi nào chọn xong, người ta mới mời Ngài về để hợp thức hoá !
Như vậy còn gì là tính siêu việt của Giáo Hội nữa ?
Còn gì là sứ mạng tiếp tục loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó và bị áp bức, cũng như phục vụ vì muốn làm tôi tớ chứ không vì tham vọng cá nhân và bè phái để xênh xang hư danh trần thế ?Linh Kỳ
Nhạc sĩ Diệu Hương có một bài hát thật hay:
"Không cần biết, anh từ đâu"
"Không cần biết, anh là ai"
"Không cần biết, ta ngày sau"
điều gì cũng không cần biết vì YÊU CHỈ LÀ YÊU (đơn sơ và tuyệt đối),
để rồi từ đó: "Ta yêu anh không ngại ngần"
để rồi từ đó: "mang nỗi buồn vô biên".
Rất thường tình, rất chí lý, nhưng "nỗi buồn vô biên" chính là kết quả đáng sợ của một tình yêu chỉ là yêu (đơn sơ và tuyệt đối).
Yêu không ngại ngần; yêu không cần biết, để rồi vì tình yêu đó mà phải buồn vô biên chính cái hậu quả khiến con cái của Đạo Chúa Ki Tô trở nên khôn ngoan. Khôn ngoan để trở thành những người phải sống với hai hay nhiều thái độ:
(i) Một dạng sống với hai thái độ chính là vừa yêu vừa thủ (thủ sẵn những điều kiện), để rồi cuộc tình trở nên một cuộc tình bình thường, rất thường tình ở thế gian:
trong đôi mắt em, tình yêu có gì lạ thường
trong cơn ngất say, nụ hôn có gì ngại ngùng
giờ anh đã hiểu: cuộc tình với những vấn vương
giờ trên biển vắng: bước chân chợt mãi không ngừng (Chút Tình)
Tình Yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại, nếu phải có điều kiện - đã không còn ý nghĩa.
Tình Yêu của con người dành cho sự thánh thiện, nếu còn tự chấp nhận những ràng buộc - sự thánh thiện đã bị giới hạn.
(ii) Trong tôn giáo, việc sống với hai thái độ chính là sự mập mờ giữa giữa hai làn ranh: Trắng và Đen.
tốt thì khoe
xấu thì che
Giáo Hội Công Giáo bị kiện và bị mất uy tín cũng chính vì các lãnh tụ Giáo Hội sống mập mờ giữa hai thái độ Trắng và Đen này. Một hình thức khôn ngoan rất thường tình, rất trần thế.
Sự sống đầy khôn ngoan này là điển hình cho việc sự thánh thiện của nhiều lãnh tụ Công Giáo bị giới hạn. "Người Báo Động Thổi Còi" bị giới hạn bởi môn quy, sự vâng phục, vòng đai "XẤU CHE" sắt đá của tôn giáo. Để rồi, chính họ trở thành TÔI HAI CHỦ:
chủ thứ nhất là sự thánh thiện;
chủ thứ nhì chính là quan hệ tôn giáo mật thiết đó. Từ đó: sự thánh thiện bị giới hạn.
Bạn đang sống với hai hay nhiều thái độ? Bạn có bị phân chia giữa bộ mặt này và bộ mặt khác của chính mình?
Sống ở đời này là vậy đó!!
Dấn thân một cách ngại ngần, thận trọng tránh cho ta khỏi bị tổn thương
Nhưng bất chấp dấn thân cuồng nhiệt, không ngại ngần thì là dại dột
Phải làm thế nào?
Đơn Sơ Và Tuyệt Đối
Rất nhiều người trong chúng ta đã có mối tình đầu.
Đối một người đã từng trải: mối tình đầu đáng ghi nhớ vì nó thật đẹp – đẹp đến đơn sơ và tuyệt đối. Người ta sẵn sàng dâng hết những gì mình cótrong mối tình đầu. Người ta yêu một cách cuồng nhiệt, yêu đến quên cả lối về, ... để rồi, khi đã trải qua kinh nghiệm của nỗi đau, họ cảm thấy mình còn quá ngây thơ trong tình yêu. Để rồi từ đó, mang nỗi buồn vô biên (chỉ vì đã YÊU chỉ là yêu, đã yêu nhau không ngại ngần, đã yêu bất kể)
Lần yêu sau, cái đơn sơ và tuyệt đối bắt đầu được đánh đổi bằng kinh nghiệm của sự đổi chác, của việc cho đi và nhận lại, và của những điều kiện. Người càng nhiều kinh nghiệm, càng từng trải, càng yêu nhiều, thì nay lại càng có nhiều điều kiện.
Tôn giáo cũng thế. Kinh nghiệm đau thương của những lần yêu không điều kiện đã được đánh đổi bằng một bộ giáo lý dày cộm của những điều kiện, để rồi: (i) Yêu không còn chỉ là yêu. Thiên Chúa trở thành đấng tối cao với muôn ngàn điều kiện, muôn ngàn lý do ngăn trở Thiên Chúa và Nhân Loại, thế giới thực và thế giới tâm linh.
Sự thánh thiện cũng thế. Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng. Cũng chính việc thề hứa trung can với những tổ chức tôn giáo để rồi sự thánh thiện đã bị giới hạn bởi những ràng buộc LỢI ÍCH của cá nhân, của tình cảm, của đoàn thể, và của cả tôn giáo. Sự thánh thiện đã bị giới hạn.
Thí Dụ: Những Con Sâu Làm Rầu Nồi Canh
Chỉ cái tựa đề đã nói hết cả vấn đề. Cũng thí dụ ở trên đặt trên mặt bàn. Tại sao Giáo Hội Công Giáo lại thiếu vắng hình bóng của những "Người Thổi Còi Báo Động" trước tình thạng thoái hóa tình dục của nhiều linh mục, nhiều lãnh tụ tinh thần Công Giáo?
Những con sâu chui rúc ở mọi nơi: mặt trước, mặt sau, cuộn mình trong xóm lá, lập lờ trong màu trong mờ của nước. Nhưng con sâu không trốn được nơi nó đang sinh sống: lá và nước.
Thì thử hỏi xem: tại sao lá và nước lại không hiểu con sâu - những con sâu làm rầu nồi canh?
Suy Niệm: Bản thân của nồi canh, lá và nước đều rất rõ ràng – Sự Thánh Thiện còn nhiều ràng buộc, những ràng buộc từ những sợi dây vô hình của tình thân, của mối quan hệ sâu xa thầm kín của những ích lợi trần gian của một tôn giáo.
Và vì những ràng buộc đó, tình yêu đã không đơn sơ và tuyệt đối.
Sự dâng hiến cho thánh thiện đã bị phân chia.
Phân Tích: Trong thí dụ nồi canh và những con sâu, cả nồi canh có những người đã thấy rất rõ, nhưng vẫn KHÔNG NÓI ĐƯỢC.
Đúng, họ không thể nói, vì họ là những người từng trải, từng kinh nghiệm, và cần có quá nhiều điều kiện. Những điều kiện lợi ích cho chính bản thân, cho chính tôn giáo và đoàn thể, cho nồi canh. Rồi cũng như một kẻ đã từng yêu - họ không thể để mình bị đau như thế một lần nữa, để rồi: tình yêu dâng hiến cho sự thánh thiện đã không còn đơn sơ và tuyệt đối.
Qua kinh nghiệm và sự từng trải:
Người từng yêu ngây thơ như con trẻ nay đã trở thành người yêu với nhiều điều kiện. Tình yêu của họ, vô hình dung đã LÀM TÔI HAI CHỦ: (i) một là yêu; (ii) hai là những điều kiện cần phải có mới yêu.
Người tùy nguyện dâng hiến cuộc đời cho sự thánh thiện đã bị ràng buộc bởi chính hội đoàn, tôn giáo với ước nguyện thánh thiện mà họ đang theo đuổi. Sự thánh thiện của họ, vô hình dung cũng đã LÀM TÔI HAI CHỦ: (i) một là sự thánh thiện; (ii) hai là LỢI ÍCH của một tôn giáo với ước nguyện thánh thiện.Làm thế nào để khỏi LÀM TÔI HAI CHỦ? NHIỀU CHỦ?
Sống Là Một Người
Sự Tỉnh Thức và Chân Tình
Chỉ cần có tỉnh thức và tình yêu đơn sơ và tuyệt đối, con người sẽ thôi bị phân chia. Họ sẽ không còn là người sống với nhiều thái độ, hay làm
TÔI NHIỀU CHỦ. Sự tỉnh thức giúp chúng ta nhận ra những thiếu xót nơi mình và nơi người khác.
Trong tình yêu, sự tỉnh thức nếu được xử dụng để trách móc, và tự hối - sẽ dẫn đến ly dị và hết yêu. Nhưng trong tình yêu, tỉnh thức không phải để là né tránh. Sự tỉnh thức và chân tình sẽ giúp chúng ta vượt qua tất cả. Tình yêu đơn sơ và tuyệt đối giúp chúng ta ở lại đối đầu với nghịch cảnh với năng lượng bền bỉ và phi thường. Sự tỉnh thức biến năng lượng tình yêu bất kể trở thành sự cảm hóa vô biên với những thiếu xót nơi mình và người khác.
Trong tôn giáo, tỉnh thức giúp người tu học tránh khỏi những thiếu xót của bản thân và nơi người khác. Lại cũng thế, tỉnh thức không phải là né tránh. Khi chúng ta mang nguyện ước tìm đến chân thiện mỹ thì sự thánh thiện đơn sơ và tuyệt đối sẽ là mục tiêu chúng ta nhắm đến. Và như thế, sự tỉnh thức và nguyện ước thánh thiện đơn sơ và tuyệt đối sẽ là năng lực TÁI SINH hàng giờ, hàng ngày, biến đổi và tái tạo chúng ta đến những lãnh vực tâm thức cao hơn.
Làm Thế Nào Để Tỉnh Thức Khi Chọn Lựa?
Sống ở giữa đời này, nhiều khi có những chọn lựa thật phức tạp.
Cũng thí dụ ở trên: làm sao Canh và Nước có thể đem những "Con Sâu" ra ánh sáng?
Cái ràng buộc phức tạp nhất của con người là cảm tình và ràng buộc của ý thức. Rất nhiều khi, sự ràng buộc đó mang tính cách vật chất.
Cũng lắm khi, sự ràng buộc mang tính cách danh dự và địa vị. Lại cũng có khi, nó chính là tất cả thuộc về thế gian này: tài sản, quan hệ, và luôn cả tánh mạng.
Người Nhà Giàu Có Khó Vào Nước Trời? - Mt 19:24
Thầy còn nói cho anh em biết: con lạc đà chui qua lỗ kim, còn khó hơn người giàu vào nước Thiên Chúa.
Người Môn Đệ Phải Bỏ Mọi Sự - Mt 8:20-22
Đức Giê Su trả lời:"Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu".
Một môn đệ khác thưa với Người: "Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã". Đức Giê-su bảo: " Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ."
Làm môn đệ của Giê Su đòi hỏi chúng ta phải TỈNH THỨC trong mọi hoàn cảnh. Trước hết là sự tỉnh thức trước những sai xót, những CON SÂU của bản thân và nơi người khác.
Vậy làm thế nào để có được một chọn lựa hoàn toàn tỉnh thức?
Là những con người đầy giới hạn và ràng buộc: KHÓ LẮM, thật khó lắm. Khó đến nỗi thánh Phê Rô là người sẵn sàng bỏ hết mọi vật ngoạithân: tài sản, vợ con, cuộc sống bình thường để theo chân thầy trong lời mời gọi đầu tiên. Vậy mà khi theo chân Chúa Giê Su đòi hỏi Phê Rô phải tiến lên thêm một bước nữa: phải bỏ luôn cả tánh mạng. Phê Rô là một tảng đá, một người được uỷ thác để chăn chiên mẹ, chiên con, ngài cũng sợ mà bỏ chạy.
III. Lời Tâm Sự Với Bản Thân
Nếu có thể xem sự đam mê những ràng buộc trần thế và thân xác là những thứ rượu, thì không có thứ rượu nào uống vào mà không say. Người giáo dân bình thường thì hầu như thứ rượu nào cũng uống. Người chọn đời sống thánh khiết uống ít loại rượu hơn, nhưng rồi cũng uống và cũng say: (i) say đến quên lối về; (ii) say đến quên mất ước nguyện ban đầu; (iii) say đến quên mất: mình đang sống với nhiều thái độ (có bao nhiêu giáo dân thật sống như thánh? và có bao nhiêu người đi tu thật là "chân tu"?).
Lỗi lầm xưa của thánh Phê Rô, tôi có còn phạm không?
Dạ thưa: vẫn có.
Khi thật lòng bỏ hết mọi sự theo con đường, Chúa và các thánh đã đi qua, tôi sẽ được gì?
Dạ thưa: bởi câu trả lời còn nhiều nghi vấn, những nghi vấn còn trùng trùng nổi cơn sóng gió và gợi nên những mâu thuẫn nơi nội tâm, nơi tận cùng của lý trí nên tôi mới trở thành một kẻ ĐA TÂM - là TÔI NHIỀU CHỦ? Và cứ thế, tôi là một người sống với nhiều thái độ. Vào nhà thờ là thì là tâm thánh thiện, ra ngoài đường là tâm thay đổi: phải giành giựt mới là LẼ SỐNG (không giỡn).
Nhưng tôi hứa sẽ cố gắng, cố gắng sống lại lời mời gọi đầu tiên của Chúa Giê Su với người đánh cá Phê Rô: "HÃY BỎ HẾT MỌI SỰ MÀ THEO TA". Tôi nhớ lại ước nguyện đầu tiên khi đã trưởng thành: trở nên công chính khi là môn đệ Chúa Giê Su. Và sự tỉnh thức, khi được hỗ trợ bởi chân tình: tình yêu đơn sơ và tuyệt đối, một tình yêu bất kể điều kiện, chính là nguồn năng lực TÁI SINH, là nghị lực bền bỉ phi thường để giáo hóa chính mình và cảm hóa người khác.
Vì thế, tôi thường răn đe chính mình: Đừng Sống Với Nhiều Thái Độ.
Lời Giới ThiệuXuân Thái .
Nói nôm na, mê tín nghĩa là tin sai lầm, tin theo thói quen ai sao tôi vậy. Tin không cần suy nghĩ, tin không cơ sở vào một điều gì đó.
Tôn giáo nào cũng có những yếu tố thần linh, dù không ai chứng minh được thần linh bằng khoa học thực nghiệm, nhưng tôn giáo không phải là mê tín, vì có nhiều cơ sở đủ để tin vào những điều không thể chứng minh.
Nhưng cũng vì tôn giáo mang yếu tố thần linh, nên đã có nhiều điều “ăn theo” tôn giáo, để trở nên buôn thần bán thánh hoặc có những mê tín đáng tiếc. Những điều đáng tiếc này chẳng những không giúp cho đời sống tâm linh phát triển, mà chỉ đóng khung nhận thức và làm sơ cứng các khả năng suy tư của con ngươi. Từ đó, sẽ dẫn đến một cung cách sống đạo theo thói quen, ai sao tôi vậy và không cần suy nghĩ, vì đã có người khác suy nghĩ thay cho rồi.
Điều đáng buồn này không mới, vì thời nào cũng có, nơi nào cũng có và tôn giáo nào cũng có. Sách vở, báo chí và cả kinh sách cũng đã nói đến rất nhiều, nhưng hiệu quả cũng chỉ phần nào, và xem ra vẫn luôn có nhiều hạn chế.
Người Công giáo trong cộng đồng Việt Nam chỉ là thiểu số từ khoảng 7 đến 8 %. Phật giáo và các tín ngưỡng dân gian là phần đông và luôn chiếm phần đa số. Ta sẽ tự cô lập mình và trở nên lạc lõng ngay trên địa bàn ta đang sống, nếu không hiểu biết, không hoà đồng với xung quanh, một môi trường không có hoặc đang có rất ít Công giáo.
Ngày Xuân đi lễ chùa và hái lộc đầu năm. Hình ảnh truyền thống này thật đẹp đẽ và rất thi vị. Bài thơ Đi lễ chùa Hương của Nguyễn nhược Pháp, nói về cảnh này đã sống trong lòng mọi người qua bao thế hệ. Nhưng đến chùa để xin xăm bói quẻ và đốt vàng mã cho nhiều, thì quả thật, chỉ là những chuyện “ăn theo” nhưng lại được gán cho là của Phật giáo, mà không phải là Phật giáo đích thật.
Xin xăm bói quẻ chỉ là một hình thức của bói toán, mà bói ra ma quét nhà ra rác. Nhiều khi chỉ chuốc lấy lo lắng, và sợ hãi buồn phiền vì xăm quẻ nếu “thầy”đoán quẻ phán những điều bất lợi. Rõ ràng, thày đã vận dụng những lời của Thần Phật để diễn tả theo ý của mình.
Đốt vàng mã cũng thế. Hàng năm trong những dịp này, trên cả nước, bao nhiêu tỷ đồng đã biến thành khói than vì đốt vàng mã thì không ai thống kê cho nổi. Nhưng khổ nỗi, không đốt thì không an tâm. Sợ người thân của mình dưới cõi âm bị túng thiếu khổ sở. Không đốt thì sợ Thần Phật sẽ giận, sẽ không ban phước lộc cho mình và gia đình. Họ làm như Thần linh cũng có thể mua chuộc, cũng có thể lấy lòng và hối lộ bằng vật phẩm và tiền bạc trần gian.
Thật tội nghiệp cho thần linh.
Cũng tội nghiệp cho những niềm tin lầm lạc như vậy .
***
Phải dài giòng như thế, để trông người mà nghĩ đến ta, vì ta cũng có những điều, không phải giống hệt như thế, nhưng cùng phát xuất từ sự lầm lạc. Nói điều này, có thể gây xốc đối với nhiều người, nhưng thật đáng tiếc, đây lại là một thực tế.
Không ít giáo dân đã lầm lạc khi thần thánh hoá linh mục, “bắt” các ngài phải là những con người lý tưởng, nghĩ các ngài phải thế này, phải thế khác. Khi các ngài không giống như mình nghĩ, hoặc có va chạm mâu thuẫn gì đó, thì họ bỏ lễ, hoặc không đi lễ xứ mình. Trầm trọng hơn, nhiều người đã bỏ cả đạo. Con số này tuy không nhiều, nhưng đang là một thực tế đã xảy ra nơi các xứ đạo. Hoặc nếu không bỏ đạo, thì những liên hệ và sự cộng tác với các vị chủ chăn, cũng có những trở ngại và không thuận lợi nhất định nào đó. Những trở ngại đã phát khởi từ việc thần thánh hoá, lý tưởng hoá các bậc chủ chăn.
Từ lâu, người ta đã nói nhiều về những khoảng cách giữa linh mục và giáo dân. Khoảng cách vì nhiều lý do, cả khách quan và chủ quan đều có. Linh mục là người tinh thông mọi sự, vì các ngài học trường lý đoán, La tinh và mang bảy chức thánh. Nhiều giáo dân đã được nghe dạy và vẫn luôn tin như vậy . Các ngài được học 2 năm Triết học và 4 năm Thần học, là những môn học mà ít giáo dân nào đủ thời gian và có điều kiện để học. Đó là một vài lý do, khiến giáo dân thường lý tưởng và thần thánh hoá những người anh em của mình. Điều đó cũng dễ hiểu.
Thực ra, triết học là gì ? nếu không phải là khoa học để dạy về sự khôn ngoan hiểu biết ? Như thế, bao thế hệ cha ông ta, dù chẳng học ngày nào về triết học, nhưng vẫn đầy khôn ngoan hiểu biết và còn lưu truyền mãi đến ngày nay. Có khác chăng, triết học đã giúp ta biết hệ thống, biết sắp xếp các suy nghĩ lý luận và hành vi đời sống để trật tự hơn, nhờ thế, sẽ hạnh phúc hơn cho người và cho mình .
Còn Thần học là gì ? nếu không phải là môn học về Thiên Chúa, là những suy tư dựa trên Lời Chúa và được xây dựng thành hệ thống, nhằm làm sáng sủa hơn, dễ hiểu hơn về một đối tượng vốn trừu tượng khó nhận biết là Thiên Chúa thần linh . Và nếu như vậy, thì mỗi giáo dân đều đã có sẵn thần học tính trong người, khi tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa của mình.
Xem như thế, ai cũng thấy Thần và Triết là những điều gần gũi và cần thiết biết bao đối với mọi người. Gần gũi và quen thuộc, nhưng nói thế nào để không trở thành xa lạ, viết ra sao để không biến thành khó hiểu là điều không phải ai và lúc nào cũng làm được. Vì ngay cả Thần học Kinh Viện cũng đã vướng phải điều này. Thần học Kinh viện với bao nhiêu ngôn từ chuyên môn, và đầy tính bác học của các thuật ngữ mà muốn hiểu rõ phải tra nhiều loại tự điển. Những điều ấy đã khiến nhiều người nản chí, hay ít ra, cũng e ngại khi muốn tiếp cận với loại Thần học này. Giáo Hội đã nhận ra và từng bước, đang có những chấn chỉnh phù hợp.
Đức Giêsu là bậc thày của các bậc thày, khi Ngài nói về những điều cao siêu huyền nhiệm, Ngài đã dùng những hình ảnh của dụ ngôn một cách tuyệt vời, và nhờ thế, đã giúp người nghe có thể hiểu ngay ý Ngài muốn truyền đạt. Dùng lời để diễn ý, dùng hình ảnh để minh hoạ, Ngài muôn đời vẫn là mẫu gương trọn hảo. Chẳng hạn, khi muốn diễn tả sự gắn bó mật thiết giữa con người với Thiên Chúa, Ngài đã nói : “Thầy là cây nho, các con là ngành. Ngành nào kết hợp cùng cây, sẽ trổ sinh hoa trái. Ngành nào lìa cây, sẽ bị héo khô”. Chỉ một câu này thôi, nhưng có nhiều tác giả đã viết thành những tác phẩm dày cả trăm trang.
Một câu nói thật gần gũi vì mang đầy tính dân gian quen thuộc. Nhưng lại đầy tính Triết, đầy tính Thần trong câu nói giản dị này. Còn biết bao những câu nói đơn sơ như thế, đầy rãy trong Kinh Thánh.
Xem như thế, Triết và Thần là những môn cần thiết và hấp dẫn biết bao. Nhưng không hiểu từ lúc nào, nó đã biến thành những gì khô khan khó nuốt và chỉ dành riêng cho một số người nào đó muốn học , hoặc bị học. Ai cũng biết rằng, ngôn ngữ loài người là hạn chế không thể nào nói đủ, nói hết được những thực tại thiêng liêng. Nhưng dù sao đi nữa, nói mà không ai hiểu, thậm chí còn hiểu sai thì đây là một sự thất bại của những ai học Thần và Triết.
Sau cùng, không phải ai học Triết, học Thần cũng đều trở thành các Triết gia hoặc nhà Thần học. Và ngay cả khi đã là các Triết gia và nhà Thần học, cũng chẳng có gì bảo đảm các vị ấy sẽ không sai lầm hoặc sẽ không vấp ngã. Ta đã chẳng thường nghe Giáo hội cảnh báo về các triết gia này chệch hướng, hoặc nhà thần học kia lạc đường đó hay sao ???
Và nữa, bảy chức thánh đâu đã phải là thánh. Nhưng 7 chức thánh chỉ để thi hành các tác vụ thánh mà Giáo hội đã tín nhiệm uỷ thác. Vậy thôi, và ngoài những điều này ra, các ngài vẫn là những con người tự nhiên với tất cả những điều tự nhiên bình thường.
Vì thế, xin đừng thần thánh hoá các ngài, kẻo tội nghiệp.
Tội nghiệp cho các ngài, nhưng phải tội nghiệp cho chính mình trước hết, vì mình đã hiểu sai, tin lầm.
Linh mục, dù mang 7 chức thánh nhưng vẫn là con người với đầy đủ các mảng sáng tối như bất cứ ai. Sáng tối nơi thân xác, tối sáng trong tâm hồn và cũng không thiếu cả những linh mục vô tín. Vô tín nghĩa là không tin. Điều này nghe hơi lạ tai. Nhưng ta sẽ hiểu ra ngay, khi biết một tông huấn của Giáo hội đã nói với các chủ chăn đại ý rằng : “ Các con hãy rao giảng điều con tin. Hãy tin lời con rao giảng và thực hành những điều con đang rao giảng”.
Một khi không thực hành chính điều mình đã rao giảng thì đúng là một kẻ vô tín. Khi ấy đã tự biến mình thành những thợ giảng, những kẻ chỉ bán nước bọt nhưng cái giá lại quá cao.
Xin cũng đừng lý tưởng hoá các ngài, đúng hơn phải nói rằng,” bắt” các ngài phải sống một cách lý tưởng như ý mình muốn và theo suy nghĩ của mình. Điều này thật tệ hại và quá xa rời với tinh thần Tin mừng, vì Đức Giêsu luôn tôn trọng mọi người. Với ngay cả kẻ sắp hãm hại mình là Giuđa, Ngài đâu có dùng quyền phép của mình mà thay đổi ông ta, hoặc ép buộc ông ta phải theo ý muốn của Ngài.
Khi đọc Kinh thánh, ai không biết chuyện này, sao Bạn lại quên ?
Thần thánh hoá linh mục là một sai lầm, sai lầm dẫn đến mê tín.
Không đi lễ, bỏ đạo là một cực đoan.
Cộng cả mê tín và cực đoan lại, liệu tâm hồn Bạn có còn sự bình an ?
Hỏi là đã trả lời rồi vậy . Thêm nữa, Giáo hội đâu chỉ có một người, sao không hỏi ý kiến và tham khảo nơi nhiều bậc khôn ngoan và đạo hạnh trong Giáo hội, trước khi đi đến quyết định liên quan đến vận mệnh của cả đời mình ?
****
Những ngày Xuân cũng là những ngày của thăm viếng, chúc tuổi. Đặc biệt, đi thăm viếng chúc tuổi các vị chủ chăn, các cha linh hướng và các vị lãnh đạo là không thể thiếu. Con đến thăm Cha và Cha cũng sẽ đến thăm con.
Nguyện xin, trong các dịp đầy ý nghĩa này, sự cảm thông và yêu mến sẽ nhiều hơn, nhờ đó, những ngày Xuân sẽ có thêm nhiều ý nghĩa mới. Khi không còn những lấn cấn trong lòng vì lầm lạc mê tín, mỗi giáo dân sẽ là những cánh tay nối dài đích thực của các vị chủ chăn. Khi mọi người đã nhận ra nhau là huynh đệ anh em, những cánh tay nối dài kia thực sự sẽ là những người cộng tác, mà không phải là các gia nhân, để thực thi Lời Chúa đã nói trước khi Ngài về Trời :
“ Từ nay, Ta không gọi các con là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc của chủ làm. Nhưng Ta gọi các con là bằng hữu thân tình, vì mọi việc Ta làm, Ta đã tỏ hết cho các con biết”.
Trong tâm tình yêu thương, chúng em xin nguyện rằng:
Anh Giêsu rất thân mến của chúng em ơi !
Chúng em xin tâm tình với Anh về Cha cua chúng mình
Làm bằng hữu thân tình với Cha thì dễ, nên nghe câu này chúng em thấy vui vì có nhiều an ủi. Làm bạn với Cha thì dễ, vì Cha vô hình và nếu có phiền trách con điều gì, Ngài cũng nhẹ nhàng kín đáo nói riêng với chúng em trong lòng. Làm bạn với Cha lại càng dễ hơn, vì Cha chẳng bao giờ gây khó khăn hoặc xúc phạm chúng em bao giờ. Ai mà không mong có được người Bạn tuyệt vời như vậy ?
Nhưng làm bằng hữu thân tình với người khác thì trăm lần khó hơn với Cha nhiều lắm. Vì, trước tiên là chúng em ngại họ và họ cũng ngại chúng em. Ngại vì nhiều thứ, những người hơn chúng em, họ sẽ ngại chúng em làm phiền khi chúng em đến với họ. Những người kém chúng em, chúng em cũng e dè ngại ngùng, sợ họ sẽ làm phiền mình khi họ tìm đến với chúng em. Và còn bao nhiêu điều khác nữa đã làm cho chúng em khó thân với những người khác .
Nhưng ….rồi, chúng em chợt giật mình và nhận ra rằng, nếu không thể thân với anh em mình, cũng là không thể thân với chính Cha và Anh.
Anh Giêsu rất thân mến của chúng em ơi !
Chúng em đã đón bao nhiêu mùa Xuân trong đời, xin hãy giúp chúng em, mùa Xuân này mỗi ngày, chúng em sẽ có thêm nhiều bằng hữu thân tình. Vì chỉ như thế, lòng chúng em mới có được mùa Xuân viên mãn tràn đầy, và nhờ vậy, chúng em sẽ luôn có được nụ cười thanh thản an vui. Chính sự thanh thản an vui này, sẽ lan toả ra xung quanh và làm chứng rằng chúng em đang có Cha và Anh trong lòng.
Amen.
Lời Giới ThiệuAimy Hoàng
Giêsu ở lại cùng con
Giúp con nhớ Chúa trong giòng phù vân
Vì như Chúa quá rõ rằng
Con hằng quên Chúa ôi sao dể dàng.
Giêsu ở lại bên con
Vì con yếu đuối vô cùng Chúa ơi
Con cần sức mạnh nơi Người
Ở bên con mãi Chúa ơi, ĐỪNG VỀ
Giêsu, ở lại cùng con
Chúa là ánh sáng soi đêm mịt mùng
Chúa là lẽ sống muôn trùng
Và là mọi sự con cần Chúa ơi.
Giêsu ở lại với con
Giúp con giải toán lủy thừa niềm đau
Cho con đáp số nhiệm mầu,
Rồi con phụ gánh nổi đau với Ngài.
Chúa ơi, xin hãy đến đây
Sông đời biển thế tuôn đầy đau thương.
Cho con viên thuốc thiên đường
Chữa lành hết mọi oan ương, phiền sầu
Giêsu ơi, đến bên con
Cho con “uống” Chúa thõa lòng khát khao
Chúa là mạch suối tuôn trào
Niềm vui, hạnh phúc ngọt bao ân tình.
Giêsu ơi đến cùng con
Con mong yêu Chúa mãi không đổi dời
Tỉ như sống được ngàn đời
Con nguyền yêu Chúa triệu đời hoặc hơn.
Giêsu hãy đến bên con
Cho con yêu Chúa trọn lòng thủy chung
Cho con yêu Chúa chẳng cùng
Chết ‘ôm’ Chúa xuống tuyền đường để yêu !
GIÊSU ƠI CON “DOẠ” THẾ, CHÚA “SỢ” KHÔNG
MÀ “SỢ”, KỆ CHÚA, CON ÔM ‘NHƯ THƯỜNG’
BỞI DÙ SỐNG CHẾT, CHÚA THƯƠNG
CON HẰNG CẦN CHÚA MÃI LUÔN CHẲNG RỜI
Phần đầu lấy ý & phóng tác theo THƠ NGUYỆN CẦU
Của Cha Thánh Padre Pio