tlvd-36-1

tlvd-39-1

Số 45  Ngày 08.03.2007

Lời Giới Thiệu

Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề..
Một cách cửa đầu tiên hé mở vào thế giới Linh Đạo mênh mông…
Tâm Linh Vào Đời xin phép đặt lại vấn đề Thiên Tính qua câu chuyện
Phật Tánh – Thiên Tính
Trần Duy Nhiên góp ý thêm: Vấn đề không năm ở chỗ CÓ THIÊN TÍNH hay LÀ THIÊN TÍNH
Nhưng  mọi vấn đề đưa ra đều có thể biến thành ‘của ăn’ để mình tiến lên trong đời sống đạo.
Thiên Tính – Một Vấn Đề để mà Suy Tư
Cuối cùng, tác giả Nguyễn Tầm Thường đã kể câu chuyện Khi nào ngày bắt đầu
Như là một minh chứng thật hùng hồn và tuyệt vời cho vấn đề Thiên Tính với quyết tâm mạnh mẽ
Ta phải tìm câu trả lời cho riêng ta.
Trần Mỹ Duyệt cũng thao thức trăn trở khi suy tư về
Cây Vả và Tôi

Phật Tánh Thiên Tính

Lung Linh

Buổi chiều, gió hiu hiu thổi trên đồi thông thơ mộng. Trong một quán café vườn với âm thanh nhè nhẹ của dàn nhạc giao hưởng dịu êm,  mấy anh em ngổi nhâm nhi café Trung Nguyên “khơi nguồn sáng tạo”. Đang nói chuyện trời trăng mây nước, bỗng một anh bạn đột ngột chuyển đề tài.
Mấy tháng nay tớ cứ loay hoay một tư tưởng: Trong Phật giáo, ai cũng có thể thành Phật được, nhưng trong Thiên Chúa Giáo thì người ta không thể thành Chúa được. Tuy nhiên, hiện nay, người ta đang bàn cãi xem người Kitô hữu có thể thành Chúa được không?
Không khí đang vui vẻ liền lắng dịu xuống, nét trầm tư hiện trên mặt mỗi người.
Tôi xung phong tiếp lửa:
Đây là một chủ đề rất thú vị và cũng cực kỳ nóng bỏng. Anh em có ý kiến gì không?
Một anh bạn đã học xong 4 năm Thần học cảm thấy cần phải tỏ cái biết thần học của mình.

Theo như tớ hiểu: Con người là vật được tạo thành – vì thế con người chỉ có nhân tính chứ không thể có Thiên Tính. Thiên Tình chỉ dành riêng cho Chúa mà thôi. Tớ lưu ý một điểm khá quan trọng là Thánh Tôma Aquinô đã định nghĩa thiên tính cùng với nội dung hàm chứa trong đó. Nếu ngày nay mình dùng từ

“thiên tính” đó của ngài, nhưng thay đổi nội dung thì cần phải sáng chế một từ khác cho thích hợp với nội dung mới
Anh bạn Phật Tử tỏ ra đăm chiêu
Tớ không rành Kinh Thánh nhưng tớ nghĩ rằng chắc chắn ở đâu đó có thể trả lời câu hỏi này.
Thế rồi anh ta chỉ ngay vào tôi.
Nghe nói cậu viết báo Tâm Linh Vào Đời gì đó phải không, Cậu thử đưa ra một vài ý kiến xem sao
Nếu các bạn thực sự muốn nghe, tớ xin được chia sẻ theo cái nhìn của riêng tớ như sau:

-0-0-0-

Trước khi đi vào vấn đề, tôi xin kể lại một chuyện nhỏ có thật trong đời làm báo Tâm Linh Vào Đời
THẦN KHÍ
Cách đây khỏang nửa năm, một độc giả đã nêu thắc mắc với Tâm Linh Vào Đời
Tại sao dám dùng từ Thần Khí để nói về Ngôi Ba Thiên Chúa?? Thực là báng bổ Chúa Thánh Thần!!!
Lý do: Trước kia,  trong sách kinh cũng dùng từ đó với nghĩa xấu: thần khí, mất mùa, giặc giã.
Tâm Linh Vào Đời dùng sách Kinh Thánh nào vậy??
Tâm Linh Vào Đời trả lời vắn tắt:
Mỗi thời, người ta hiểu theo nghĩa khác về cùng một từ ngữ..
thần khí trong sách kinh mang nghĩa xấu, nhưng nay người ta lại hiểu theo nghĩa tốt: Thánh Thần, Thánh Linh, Thần Khí, Ngôi Ba Thiên Chúa
Tâm Linh Vào Đời và tất cả người viết khác, kể cả các giám mục và linh mục đều dùng cuốn Kinh Thánh của Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ để dẫn chứng trong các bài viết của mình trên mạng internet.
Thật đáng tiếc, ông ta không chịu nghe và nhất định đòi rút tên khỏi danh sách Tâm Linh Vào Đời!!
Về vấn đề ngữ, nghĩa
Chúng ta đã nghe nói: Nhất tự lục nghì: Một chữ sáu nghĩa
Thực vậy, chỉ một đối tượng, người ta có thể dùng nhiều từ khác nhau để diễn tả.
Ngôi Ba Thiên Chúa: Thánh Thần, Thánh Linh, Thần Khí, Đức Chúa Thánh Thần, Đức Thánh Linh…
Và cùng một từ, xưa kia người ta hiểu khác, ngày nay người ta hiều khác.
Trái đất: Xưa kia, người ta hiểu trái đất thì bẹt, hay vuông. Ngày nay, người ta hiểu trái đất tròn.
Rồi cùng một từ, người này hiểu khác, người kia hiều khác.
Vâng Lời: Người thì cho rằng bề trên bảo sao nghe vậy. Vâng lời tối mặt, không bàn cãi. Người khác lại cho rằng cần phải xét xem có hợp lý không? Nếu không hợp lý, có thể họ không vâng lời.
Thậm chí cùng một từ, trước kia tôi hiểu khác, hiện nay tôi hiều khác.
Thiên Chúa: Trước kia tôi hiểu là một Vị vua cao sang, một cảnh sát chuyên ghi sổ phạt, một người Cha nhân lành, một người bạn quý mến, Đấng thưởng phạt vô cùng..…Nay tôi lại khám phá ra Chúa vốn không hình tướng: Chúa là chân lý, sự sống thần linh, sức mạnh Thần Khí, tình yêu vô biên…
Như vậy, dù người ta đã hiểu theo nghĩa khác, nhưng thiết tưởng người ta không cần phải sáng chế một từ khác cho thích hợp với nội dung mới.”

Tôi xin mạn phép đưa ra một số vấn đề cũng khá tế nhị, nhưng cũng hết sức bức thiết với những bảng so sánh của hai lối nhìn mà tôi xin phép tạm gọi là:
Quan niệm A (quan niệm trước đây của tôi)
và Quan niệm B (quan niệm của tôi sau khi tôi khám phá ra Chúa thực sự sống trong mình, Chúa là nguồn sống, nguồn sức mạnh tâm linh của mình)

Thiên đàng

 

Quan niệm A

Quan niệm B

Không gian

Có một nơi trên trời cao để chúng ta có thể LÊN, có thể VÀO.
Xin cho các linh hồn ĐƯỢC LÊN chốn nghỉ ngơi.

Không thể nói ở đây hay ở kia.
Thiên đàng ở giũa chúng ta, đặc biệt là ở ngay trong tâm mình

Thời gian

Đời sau

Ngay tại đời nay và ngay lúc này đây

Ý nghĩa

Thiên đàng vừa là phần thưởng vừa là mục đích của cuộc đời giữ đạo: lập công đền tội triền miên.

Thiên đàng chỉ là kết quả đương nhiên của việc khám phá ra Chúa và sống với Chúa ngay trong tâm mình. (Sống Đạo – chứ không phải giữ đạo)

Theo lối nhìn B,  rõ ràng nội dung mới của THIÊN ĐÀNG đã thay đổi – đối với nội dung cũ..nhưng thiết tưởng đâu cần phải sáng chế một từ khác làm chi cho rắc rối!!

Được sinh ra

 

Quan niệm A

Quan niệm B

Phát xuất

Chỉ duy nhất một mình Đức Giêsu là con yêu dấu của Chúa.
Con người là vật được tạo thành

Con người được sinh ra bởi chính Thiên Chúa (Ga 1:13a)
Chúng ta được gọi là con Thiên Chúa
-mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa.(1Ga 3:1)

Thuộc tính

Phàm hèn, yếu đuối, tội lỗi, xấu xa

Con yêu dấu của Chúa, là hình ảnh Thiên Chúa, tràn đầy Thần Khí Ngài vì thế con người vốn Thánh thiện, tốt đẹp, sáng láng

Cơn cám dỗ

Cơn cám đỗ thật mãnh liệt
Con người chiến đấu rất vất vả

Cơn cám dỗ không còn mãnh liệt
Con người vượt qua khá dễ dàng nhờ Thần Khí sức mạnh mà Thiên Chúa đã ban cho mình ngay từ trong lòng mẹ. (Gr 1:5)

Theo lối nhìn B,  rõ ràng nội dung mới của ĐƯỢC SINH RA đã thay đổi – đối với nội dung cũ..nhưng thiết tưởng đâu cần phải sáng chế một từ khác làm chi cho rắc rối!!

Thánh Thiện

 

Quan niệm A

Quan niệm B

Đối tượng

Chỉ dành riêng cho Chúa, Đấng nghìn trùng thánh đức.
Giáo hội cũng được hưởng một phần thánh thiện của Chúa với những từ ngữ quen thuộc: hội thánh, đền thánh, chức thánh, thánh lễ, bàn thánh, chén thánh, khăn thánh…

Áp dụng cho tất cả nhũng người Kitô hữu
Đức Giê-su bảo họ : “Trong Lề Luật các ông, đã chẳng có chép lời này sao : ‘Ta đã phán : các ngươi là những bậc thần thánh’ ? (Ga 10:34 ) 

Chứng minh

Giáo hội dạy
Chỉ có Chúa là đấng chí thiện
Loài người tội lỗi. yếu đuối, phàm hèn

Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân." (Gr 1:5)
Trong Đức Ki-tô,
Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người,
ta trở nên tinh tuyền thánh thiện,
nhờ tình thương của Người. (Ep 1:4)

Theo lối nhìn B,  rõ ràng nội dung mới của THÁNH THIỆN đã thay đổi – đối với nội dung cũ..nhưng thiết tưởng đâu cần phải sáng chế một từ khác làm chi cho rắc rối!!

Thiên tính
Quan niệm A Trước kia, tôi cũng tin rằng: “Tôi chỉ có nhân tính, chứ không có thiên tính, vì thiên tính chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa mà thôi”
Quan niệm B: So sánh Đức Giêsu và người Kitô hữu để chứng tỏ người Kitô hữu cũng có Thiên Tính

Đức Giêsu

Người Kitô hữu

Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình,
là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, (Cl 1:15)                                                                                                                                 

Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình,
Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, (St 1: 27)

Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người (Rm 8:29)
Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. (Dt 1:3)

để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. (Rm 8:29)

Cha ở trong con và con ở trong Cha (Ga 17:21)

Con ở trong họ và Cha ở trong con (Ga 17: 21)
để họ được nên một như chúng ta là một (Ga 17:22)

Chúng ta cùng nhau nhìn lại một vài tư tưởng chính yếu

Hình ảnh
Thiên Chúa:
Có bao giờ chúng ta mang hình ảnh Thiên Chúa mà lại không mang theo bản tính – thiên tính của Ngài không?
Hay là chúng ta chỉ mang cái hình thức của hình ảnh Thiên Chúa còn cái nội dung là bản thể Thiên Chúa – Thiên Tính, chúng ta lại hòan tòan không có!!! Một hình ảnh vô hồn, vô nghĩa, trống không, !!!

Đồng hình đồng dạng:

Chúng ta đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu
mà Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. (Dt 1:3)
Vậy chúng ta tất nhiên cũng là hình ảnh của bản thể Thiên Chúa..tuy nhiên mức độ trung thực thì còn tủy mỗi người. Ai càng sống kết hiệp nên một với Chúa bao nhiêu thì mức độ sẽ càng trung thực bấy nhiêu… Ai không sống trong Chúa thì hình ảnh sẽ méo mó đến nỗi không thể nhận ra được, thậm chí nó tối thui!!!

Hiệp nhất
Con ở trong họ và Cha ở trong con
Suy ra Cha cũng ở trong chúng ta
Mà Cha đã ở trong chúng ta, Cha chính là Thiên Tính - bản thể Thiên Chúa (Dt 1:3)
Chắc chắn chúng ta phải mang Thiên Tính chứ.
Theo lối nhìn B,  rõ ràng nội dung mới của THIÊN TÍNH đã thay đổi – đối với nội dung cũ..nhưng thiết tưởng đâu cần phải sáng chế một từ khác làm chi cho rắc rối!!

Nghe tới đây, nhà Thần học có vẻ vẫn chưa tâm phục khẩu phục, bèn vặn lại
Cậu nên nhớ rằng : “Là thần tínhrất khác với có thần tính. Thiên Chúa vốn là thần tính, còn con người có thể có thần tính do được thông phần vào Thiên Tính của Chúa.”
Đó chỉ là lý luận theo lý thuyết, chắc chắn bạn còn nhớ câu nói nổi tiếng của Phaolô: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.(Gl 2:20).  Theo bạn, theo cảm nghiệm sống động động này, Phaolô có thiên tính hay là thiên tính?
Nhà thần học tự nhiên rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan
Nếu trả lời có Thiên tính thì rõ ràng không ổn vì chủ thể Phaolô đã tan biến: không còn phải là tôi  thì lấy ai để làm sở hữu chủ cái Thiên Tính .. để mà có với chẳng có?
Nếu trả lời Là Thiên tính thì e rằng lạc đạo vì bấy lâu nay vẫn cứ đinh ninh rằngThiên Chúa vốn là Thiên tính, còn con người có thể có Thiên tính do được thông phần vào Thiên Tính của Chúa.”
Thấy nhà thần học của tôi có vẻ bối rối, tôi bèn mạn phép kết luận.
Nếu cứ tranh luận với nhau về Thiên tính thì sẽ không đi đến đâu vì mỗi người đều cho ý kiến của mình là đúng nhất, là theo truyền thống của Giáo hội - dù rằng có những lúc cảm thấy không ổn. Tuy nhiên, nhân cơ hội anh bạn Phật tử của nhóm mình đặt vấn đề thì chúng ta cũng nên lợi dụng cơ hội mà suy tư, kiếm tìm và cuối cùng quan trọng nhất là sống với những điều chính mình đã khám phá.
Tóm lại, nói cho cùng vấn nạn Thiên tính chỉ là cái cớ để mỗi người trong chúng ta khánm phá ra Chúa hiện diện trong tâm mình để rồi ai cũng nói được như Phaolô: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.(Gl 2:20).  
Tới lúc đó, chúng ta sẽ hiểu rất rõ mình có Thiên Tính hay mình chính là Thiên Tính. Tất nhiên cái Mình ở đây không phải là cái Mình thân xác - mà là cái Mình đích thực: mang ảnh Thiên Chúa, tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa.

Lời giới Thiệu

Thiên Tính – Một Vấn Đề để mà Suy Tư

Trần Duy Nhiên

khongnhuan viết:
"...Tuy nhiên, nhân cơ hội anh bạn Phật tử của nhóm mình đặt vấn đề thì chúng ta cũng nên lợi dụng cơ hội mà suy tư, kiếm tìm và cuối cùng quan trọng nhất là sống với những điều chính mình đã khám phá..."

Tôi không phải là một Phật tử nên tôi không dám lạm bàn về ‘Phật tại tâm’, điều mà hẳn những vị ‘giác ngộ’ phải bỏ một đời để mà cảm nghiệm... và ngay cả phật tử cũng phải sống cả đời để mà hiểu, vì thế tôi không dám lấy điều mình nghe thấy trong đạo Phật để mà so sánh với phạm trù ‘Thiên Tính’ trong Kitô giáo.

Tôi chỉ muốn nói về ngôn ngữ. Một danh từ hay một phạm trù đặt ra là để cho mọi người căn cứ vào đó mà giao tiếp. Từ những danh từ bình thường, như bàn, ghế, tủ... cho đến những khái niệm trừu tượng như tình yêu, niềm hy vọng hay tâm, Phật tánh, Thiên tính...

Cùng một từ ‘hòm’ thì người Bắc chỉ định cái khác, người Nam chỉ định cái khác. Và với hai từ khác nhau, người Nam và người Bắc chỉ định cùng một cái, ví dụ : mùng/màn - mền/ chăn. (trong khi đó, ‘màn/chăn’ ở miền nam lại chỉ định những cái hoàn toàn khác với miền bắc). Như thế, vấn đề quan trọng trong vấn đề KN đặt ra, có lẽ không phải là tìm xem con người CÓ hay KHÔNG CÓ thần tính, mà xem ‘thần tính’ chỉ ‘cái gì’!

Nếu chúng ta đồng ý với nhau rằng ‘thần tính’ có nghĩa là bản tính Thiên Chúa - ‘bản tính’ theo nghĩa ‘yếu tính’ ‘cái xác định mình là mình’ - thì con người không có và cũng không là Thiên Tính; bởi lẽ nếu chúng ta có hay chúng ta là thiên tính thì chúng ta chính là Thiên Chúa. Mà điều này thì không thể được, vì chúng ta không phải là Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng tạo dựng, và chúng ta là thọ tạo. Thiên Chúa tự hữu, không giới hạn trong thời gian và không gian; chúng ta được tạo thành, có một khởi đầu và một kết thúc... (kết thúc cuộc sống trong vũ trụ của thời gian).

Nếu ngược lại, ta đồng ý với nhau rằng ‘thần tính’ có nghĩ là một ‘tính chất’ ‘một ‘thuộc tính’ của Thiên Chúa, thì đương nhiên chúng ta có thần tính, vì khi tạo dựng con người, Ngài đã ‘thổi hơi’ vào vật chất, và ‘sự sống’ chính là một ‘thuộc tính’ của Thiên Chúa.

Vì thế, vấn đề KN đề ra có thể tiếp cận ở hai mặt: tích cực hoặc tiêu cực.

1. Tích cực: khi ta biết được rằng thần tính ở trong chúng ta (dù hiểu nghĩa nào đi nữa) thì chúng ta mới mong thể hiện đúng cuộc sống hướng về vô biên, còn nếu không ý thức được thì ta chỉ múa may quay cuồng trong cái thế giới (thể lý và tâm linh) gò bó của mình như con phượng hoàng sống kiếp gà trong ngụ ngôn sau đây:

CHIM PHƯỢNG HOÀNG CÓ ĐÔI CÁNH VÀNG.

Có một người tìm được một quả trứng phượng hoàng và đã để trong ổ gà mái. Ngày kia, một chú phượng hoàng con đã nở ra và lớn lên với bầy gà con.

Suốt đời, chim phượng hoàng sống như bầy gà vì cứ tưởng rằng mình là một chú gà: nó bươi đất để kiếm trùng giun; nó cục tác và đập cánh bay vài bước trên mặt đất, như những chú gà khác.

Năm tháng trôi qua và phượng hoàng trở nên già nua. Một hôm, nó nhìn thấy một con chim oai phong lẫm liệt bay lượn cao vút trên trời xanh, không chút gợn mây. Chim đó lượn qua lượn lại một cách duyên dáng và oai phong ngược dòng các cơn gió lùa dũng mảnh mà chỉ khẽ rung đôi cánh màu vàng rực rỡ. Chim phượng hoàng già nua từ dưới mặt đất nhìn lên không trung, rất đỗi ngạc nhiên. Nó hỏi con gà bên cạnh: "Con chim gì thế?"
Gà trả lời: "Đó là phượng hoàng, chúa tể của các loài chim. Thôi đừng nghĩ ngợi gì mất công: chúng ta rất khác xa với giống chim đó."

Và chim phượng hoàng không thắc mắc gì nữa. Cuối cùng nó đã chết mà cứ luôn luôn ngỡ rằng mình là một con gà lẹt đẹt trong sân.

Anthony de Mello (The Song of the Bird)

2. Tiêu cực: Nhưng tranh luận về Thần Tính để làm cho ra lẽ về khái niệm của một từ thì chỉ là một trò chơi vô bổ, và không đi đến đâu. Chúng ta sẽ giống như những người mù sờ voi, vì không ai trong chúng ta biết được cái thực chất nằm tiềm tàng dưới chữ Thần Tính, vì thần tính là một cái gì thuộc về Thiên Chúa và ta không thể nào lấy một khái niệm con người mà chuyển tải một cái gì vượt khả năng con người. (1) Vấn đề là ‘thiên tính’ trong chúng ta giúp mỗi người làm gì với cuộc sống hiện tại của mình.

Có một số học giả nghĩ rằng mình đã ‘làm’ rồi khi nói rõ ràng phải làm cái gì để cho một công việc đi đến kết quả. (Điều rất thường xảy ra trong số các nhà chính trị salon). Có một số Kitô hữu (và thậm chí những nhà thần học) nghĩ rằng mình đã giải quyết được vấn đề sống đạo của mình, khi nói lên được một số chân lý mà mình khám phá, mà không để ý rằng đó chỉ là lời nói, mà lời nói thì gió bay....

Thế nhưng khởi điểm của Kitô giáo là : Lời đã trở thành xác thịt, và cư ngụ giữa chúng ta...

Lời, muốn trở thành sức sống, thì phải nhập thể trong cuộc sống thực tế của một con người, nếu không thì cũng chỉ là những trò chơi ‘trí thức’ để mua vui một vài trống canh.

Và đó là điều tôi suy nghĩ liên quan đến vấn đề 'Thần Tính - Thiên Tính’ mà Khổng Nhuận đề ra, cũng như về những phạm trù công giáo khác. Chúng ta có thể có thái độ tích cực hay tiêu cực đối với mọi vấn đề mình tranh luận. Nghĩa là mọi vấn đề đưa ra đều có thể biến thành ‘của ăn’ để mình tiến lên trong đời sống đạo, hoặc chỉ là những trò tranh luận của kẻ vô công rỗi nghề.

Ghi chú:
(1) Ngay cả từ ngữ “Thiên Chúa’ mà người công giáo dùng để chỉ Đấng mình tôn thờ thì cũng không chính xác. Trong tiếng Việt Nam, không có một phạm trù nào có thể dịch được chữ Theos/ Deus, God, Dieu... Những chữ có sẵn để nói lên ý niệm về đấng tối cao là: Ông Trời, Thượng Đế, Ngọc Hoàng thì không chuyển tải được tất cả những gì mà Giáo Hội đặt trong chữ Deus. Vì thế,.các thừa sai Pháp (MEP) đành phải nêu danh Người là 'Chúa Diéu, rồi người Việt gọi là 'Chúa Diêu'. Sau này, Giáo Hội Việt Nam đành trở về với cách nêu danh của các thừa sai Bổ Đào Nha vào thế kỷ XVII, nghĩa là dùng một ‘thuộc tính’, một ‘chức năng’ của Deus thay cho danh Đấng ấy mà truyền giảng cho người Á Châu: Đức Chúa Trời - Thiên Chúa (dạng tắt của Chúa Thật Trời Đất - Thiên Địa Chân Chúa). Như vậy, ngay cả chữ 'Thiên Chua' mà còn chưa nói lên chính xác về một thực thể thì nói gì đến những phạm trù trựu tượng như ‘thiên tính, thần tính’. Ta có thể thấy điều đó qua bức thư của cha dòng Tên André Palmeiro gửi bề trên của mình, viết tại Macao ngày 8 tháng 5 năm 1632:

“,,,trong ba ngôn ngữ này [Việt - Hoa - Nhật], không có một từ duy nhất nào để dịch danh của Chúa mà không sợ sai lệch; vì vậy chúng con dịch ‘Deus’ theo chức năng của Người, ấy là Đấng Chủ Tể duy nhất của trời đất; như thế chúng con theo [gương] Chúa Kitô, Đấng đã nói: “Con tạ ơn Cha là Chúa trời đất” (Phúc âm thánh Matthêu, 11), và thánh Phaolô đã từng noi theo: “Vì Người là Chúa trời đất v.v” (Công Vụ 17). Đấy là cách mà chúng con đã loan báo Chúa thật của trời và đất, nhất là tại An-nam, và do đó chúng con dịch danh của Chúa bằng bốn chữ Hán[Thiên Địa Chân Chúa], tương đương với danh không thể diễn dạt bằng lời của 4 chữ [Do Thái: YHWH] »

Lời giới Thiệu

 KHI NÀO NGÀY BẮT ĐẦU ?  

Nguyễn Tầm Thường
 
tlvd-45Lúc nào đêm bắt đầu? Khi nào ngày chấm dứt?
Vị đạo sĩ hỏi người học trò:
- Đâu là lằn mức giữa đêm và ngày? Lúc nào ngày bắt đầu? Lúc nào đêm chấm dứt?
Người học trò suy nghĩ. Vị đạo sĩ bảo người học trò vẽ lằn mức mặt trời mọc đến đâu là ngày, chia ranh giới lúc nào là hết đêm.
Im lặng, nhíu thêm đôi mày. Thời gian trôi qua. Không ngờ câu trả lời khó vậy. Người thanh niên thầm nhủ: “Ta nhìn bình minh biết bao lần, thức dậy biết bao buổi sáng, mấy mươi năm trong đời chưa một lần phân biệt: Lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt?”
Khi viết dòng này, tôi cũng mới chợt tỉnh câu hỏi của nhà đạo sĩ. Mấy mươi năm làm người, chưa bao giờ nhìn buổi sáng hỏi chân trời lúc nào gọi là ngày, hỏi lòng mình lúc mặt trời mọc đến đâu là hết đêm. Câu hỏi không dễ trả lời.
*
Tôi đang ở Kanniyakumari, cực nam của miền đất Ấn Độ, cũng gọi là Cape Comorin. Nơi gặp nhau của ba dòng nước lớn, vịnh Bengal, Ấn Độ dương và biển Arabian.
Tôi muốn đến đây vì mỏm đá sau cùng của Ấn Độ để nhìn ba dòng biển ấy gặp nhau và nhìn mặt trời. Nhiều du khách tìm đến đây cũng vì lý do ấy. Đứng quay lưng lại lục địa, trước mặt là Ấn Độ dương, phía trái là vịnh Bengal, phía phải là biển Arabian. Điều đặc biệt nơi đây, khi trăng lên phía Đông ở vịnh Bangal, mặt trời xuống phía tây bên biển Arabian, cả hai đều tròng trành trên biển đối diện nhau. Đây là nét đẹp của biển, của trăng, của mặt trời trên trái đất mà du khách gặp mặt cùng một lúc. Sóng nước dạt dào vô cùng tận. Bên đông trăng lên. Bên tây mặt trời xuống. Dang hai cánh tay, ta sẽ hứng cả trăng và trời.
Lung linh, một quả cầu tròn đỏ ối rực xuống biển cả. Du khách đến đây chiêm ngưỡng mặt trời lặn. Tôi có mặt trong đám người đó chiều ngày mồng 5 tháng 4, năm 2001.
*
Sau thời gian suy nghĩ, người học trò không sao vẽ được lằn mức giữa ngày và đêm. Anh đánh bạo trả lời tôn sư:
- Thưa Thầy, lúc mặt trời cho con đủ ánh sáng phân biệt được con chó khác con mèo, đó là ngày.
Vị đạo sĩ lắc đầu, hỏi người học trò:
- Phân biệt con chó khác con mèo, nhưng đủ ánh sáng để phân biệt cành trúc khác cành tre không?
Người học trò im lặng chưa biết nói gì. Tôn sư anh ta lắc đầu nói tiếp:
- Đấy không phải tiêu chuẩn phân biệt ngày và đêm con ạ. Đủ ánh sáng phân biệt con chó với con mèo, nhưng bao nhiêu ánh sáng mới đủ phân biệt cây trúc với cây tre? Vả lại gần bao nhiêu thì rõ để gọi là chó, xa bao nhiêu là tối để có thể lẫn là mèo.
Sau cùng, người học trò tự thú:
- Thưa Thầy, từ lúc Thầy đặt câu hỏi con mới để ý khi mặt trời mọc. Con không vẽ ranh giới được lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm kết thúc. Con thức giấc mỗi sáng mà không biết lúc nào gọi là ngày, lúc nào hết đêm.
- Con ạ, cuộc đời nhân gian đêm nhiều hơn ánh sáng. Người ta không tỉnh thức nên sống trong đêm tối mà cứ ngỡ ban ngày. Người ta thức dậy mỗi ngày mà không biết ngày bắt đầu lúc nào, làm sao gọi là thức dậy?
Người học trò im lặng trong ý nghĩ riêng tư, hỏi nhà đạo sĩ:
- Thưa Thầy, người ta không quả quyết được lúc nào đêm chấm dứt. Có phải ý Thầy muốn nói, như thế, thức dậy cũng chưa chắc là hết bóng đêm không?
- Đúng thế, con ạ. Thầy muốn dạy con hai điều. Điều thứ nhất, con đã phí phạm biết bao bình minh, mấy mươi năm trong đời nhìn mặt trời mà không biết đâu là ngày, đâu là đêm. Điều thứ hai, ngày tháng còn lại của con, con phải trả lời câu hỏi của Thầy: Lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt?
Bao nhiêu năm thiền niệm trên ngọn núi này, ngày ngày Thầy nhìn mặt trời mọc trên biển tìm câu trả lời. Thầy thức giấc nửa đêm trăn trở vì câu hỏi ấy. Thầy ra ghềnh đá chờ ánh mặt trời, Thầy lấy hết tâm trí nhìn bóng tối lui dần mà không vẽ nổi lằn ranh biên giới lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt. Cho đến một ngày kia...
Nói đến đó nhà đạo sĩ im lặng. Mắt ông ngời sáng, nhìn xa xôi về phía chân trời. Người học trò lắng nghe.
*
Bạn thân mến, có khi nào bạn nhìn mặt trời buổi sáng với câu hỏi của nhà đạo sĩ kia chưa? Mặt trời chưa mọc mà hừng sáng, ta chưa gọi là ngày được, vẫn còn bóng tối, ta bảo đó là hừng đông. Hừng đông là đã có chút áng sáng nên cũng không thể gọi là đêm được nữa. Từ cái mềm mại như ngọn chuối non đến mầu xanh biếc của tàu chuối già, từ cái xanh nhẹ của ngọn mạ đến màu già dặn của lúa, đâu là lằn mức phân biệt? Mặt trời lên dần, vũ trụ ngái ngủ trở mình. Ta chưa gọi là ngày cho đến khi cái ngái ngủ kia thành thức tỉnh. Ánh sáng làm cho cái mềm ẻo của thời gian mơ hồ thành ngày. Nhưng đâu là biên cương giữa ngày và đêm?
Ta thấy trong cuộc đời dường như cũng thế. Đâu là tiếp nối giữa hạnh phúc và đổ vỡ? Bao nhiêu hạnh phúc hôn nhân lúc ban đầu đẹp vậy mà ít năm sau, ta nghe những chuyện buồn, ta ngỡ ngàng thở dài nghe bạn bè cho hay tin, họ ly dị rồi. Đời mỗi người cũng thế. Có khi mình đang đặt sai về những giá trị cuộc sống mà chẳng biết. Đến khi hối tiếc, đã quá muộn màng. Đâu là biên giới của sắp sa ngã và sa ngã?
Không phân biệt được lúc nào ngày bắt đầu, khi nào đêm chấm dứt, làm sao phân biệt được lúc nào ngày chấm dứt và đêm sắp bắt đầu? Thứ đêm và ngày trong ý nghĩa thiêng liêng. Làm sao phân biệt được khi nào hạnh phúc đang phai mờ và đổ vỡ đang đến? Làm sao phân biệt lúc nào giá trị thiêng liêng đang chấm dứt và giá trị trần thế đang lấn chiếm?
Có khi ngày đang hết, đêm xuống dần mà không hay. Ta chần chừ, tưởng đời mình còn dài, trước ngưỡng cửa hoàng hôn mà cứ gọi là ngày.
Có khi trước bóng đêm mà ta thản nhiên không phải ngày còn dài mà chỉ vì không phân được khi nào đêm bắt đầu.
Đường thiêng liêng của linh hồn hay những chuyện tình cũng thế thôi. Họ không biết lúc nào vào bóng đêm, vì không biết tâm tình mình đang đi về đâu. Hòang hôn mà ta cứ tưởng là ngày.
*
Đợi người học trò thật yên tĩnh, nhà đạo sĩ nói với môn sinh ông ta:
- Con ạ, thật sự không thể vẽ lằn mức được lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt!
Người học trò như ngạc nhiên, chăm chú lắng nghe. Tôn sư ôn tồn xác định lần nữa câu nói của ông bằng cách cắt nghĩa cho người học trò:
- Không thể phân biệt được biên giới giữa đêm và ngày cũng như không phân biệt được bao nhiêu của cải là hạnh phúc, thiếu bao nhiêu là chưa đủ!
Ngập ngừng đôi giây, vị đạo sĩ nói như lời tâm sự thân tình với học trò mình:
- Thách đố bởi câu hỏi khi nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt. Thầy mải mê đi tìm trong văn chương triết học, trong thần bí niệm tu, cho đến một ngày biết mình không còn sống bao lâu mà vẫn không tìm được câu trả lời. Lúc đó Thầy buồn khôn tả, biết mình nhỏ bé trước biển cả và mặt trời. Thầy cúi đầu xin Thượng Đế cho Thầy được chết bình an. Thầy xin Thượng Đế cất đi câu hỏi đã dằn vặt Thầy. Thầy không còn cách nào trả lời câu hỏi ấy. Trong văn chương triết học, Thầy đã thất vọng, trong thần bí niệm tu, Thầy đã ráng sức cả đời. Càng suy nghĩ càng thấy mình nhỏ bé, sau cùng, Thầy chỉ còn biết xin Thượng Đế thương xót, đừng hỏi nữa cho tâm hồn Thầy thảnh thơi.
Khi nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt?
Không trả lời được con ạ. Đâu ngờ, chính lúc Thầy xin Thượng Đế cất câu hỏi ấy đi, Ngài lại trả lời cho Thầy. Một ánh sáng êm dịu vô ngần nhẹ nhàng đậu xuống linh hồn Thầy, cho Thầy một trí hiểu đơn sơ, một niềm vui kín đáo, một năng lực sống trọn vẹn vì một khám phá: Đời quá đẹp.
Nói tới đó, nhà đạo sĩ như phiêu du vào một vùng trời rất đỗi bình an. Người học trò chăm chú kỹ hơn, lắng nghe.
- Con ạ, Thượng Đế nói trong linh hồn Thầy rằng, lúc nào Thầy nhìn con, thấy bóng dáng Thượng Đế trong con, lúc nào Thầy nhìn ai cũng chỉ thấy là bạn hữu, đó là ngày! Lúc nào Thầy nhìn người tức giận, ghét bỏ, tham lam, thù hận đấy là đêm!
Ánh sáng phân biệt đêm và ngày là lòng từ ái nhân hậu.
Đi giữa ban ngày trong trái tim trĩu nặng, vẫn là đêm, con ạ. Ngày và đêm không thể phân biệt bằng ánh sáng vật lý, chỉ có lòng từ ái bao dung.
Ông nhìn người học trò rất đỗi nhân ái mến yêu. Từ từ nhắm mắt. Im lặng, linh thiêng và bình an, ông lặng lẽ xuôi hồn về thế giới bên kia.
Ông đã chết.
Ông về với ánh sáng, nơi chỉ có ngày, không còn đêm nữa. Ông ra đi, để lại cho người học trò câu trả lời lúc nào là đêm, lúc nào ngày bắt đầu.
*
Người học trò vĩnh viễn xa tôn sư. Vị đạo sĩ chết bình an sau khi để lại cho người học trò ánh sáng mà ông đã kiếm tìm.
Ngày đó anh ta vui mừng vì được câu trả lời không phải vất vả tìm kiếm cả một đời như tôn sư anh. Xa Thầy, người học trò cắp sách vào đời. Chả bao lâu sau khi tôn sư chết, một chiều nọ nhìn mặt trời xuống biển, một sáng kia thấy mặt trời mọc trên đầu núi, nhìn lại câu trả lời của Thầy, anh bất giác nhận thấy đấy chỉ là tìm kiếm của riêng Thầy.
- Đâu là câu trả lời của riêng ta?
Anh tự hỏi vậy. Nếu lòng nhân ái bao dung là ánh sáng phân biệt đêm và ngày, ta có lòng nhân ái không? Câu chuyện hạnh phúc riêng linh hồn ta, ngày đang bắt đầu hay đêm đang bắt đầu?
Nhìn ánh bình minh sắp lên, trên triền núi đá sương đêm đang mờ mờ tan. Lúc nào ngày tâm linh bắt đầu, lúc nào đêm thiêng liêng chấm dứt?
Nghĩ đến câu trả lời của tôn sư: “Ánh sáng phân biệt đêm và ngày là lòng từ ái nhân hậu hay óan thù nhỏ nhen. Đi giữa ban ngày trong trái tim trĩu nặng, vẫn là đêm, con ạ. Ngày và đêm không thể phân biệt bằng ánh sáng vật lý, chỉ có lòng từ ái bao dung.” Anh ta phân vân hỏi lòng:
- Đó là câu trả lời của Thầy. Thầy đã đem một đời tìm câu trả lời ấy. Còn câu chuyện hạnh phúc riêng linh hồn ta, ngày đang bắt đầu hay đêm đang bắt đầu?
Anh tưởng rằng Thầy đã trả lời giùm. Không thể phân biệt được lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt bằng ánh mặt trời, mà bằng bao dung của con tim. Ngày ấy anh chợt vui vì câu trả lời không cần tìm kiếm. Nhưng nỗi nhẹ nhàng của tấm lòng lịm tắt ngay. Thầy hiểu thế trong trái tim và cuộc sống của Thầy. Còn chính ta, lòng ta có bao dung và ngày có bắt đầu? Câu trả lời của Thầy chỉ là gợi ý cho trí hiểu, còn chính ta, đời ta là ngày bắt đầu hay ngày đang chấm dứt?
Ta phải tìm câu trả lời cho riêng ta.
Anh lại trăn trở, câu hỏi ấy không đơn giản, và biết mình sẽ phải đem theo cả đời để trả lời câu hỏi ấy.
Vị đạo sĩ đã bỏ những ngày thách đố chính mình ngồi nhìn hoàng hôn, bỏ những ngày dõi theo ánh bình minh. Ông quay về tìm ánh sáng trong cõi lòng. Tìm được rồi, ông bình an bỏ luôn cõi đời bước vào ngày ngàn thu vĩnh cửu. Nơi chỉ còn ánh sáng không còn đêm.
Rồi tôi cũng từ giã vùng biển Comorin. Trên chuyến xe đò về hướng Bắc tôi sẽ bỏ lại biển cả và mặt trời. Tôi biết ngày mai, rồi tiếp tục ngày mai nữa, thế kỷ nữa và nhiều thế kỷ nữa du khách sẽ kéo nhau ra mỏm đá này nhìn mặt trời. Trong trái tim mỗi đời người, trong chuyện tình cuộc sống của họ, ngày đang bắt đầu hay đêm đang bắt đầu?
Ngày mai tôi lên đường. Đến lúc tôi phải bỏ lại biển cả và mặt trời, bỏ lại ghềnh đá và dòng nước, giữ lại trong tâm tư thôi vì nếu không, làm sao tiếp tục cuộc hành trình.

Trích tập NHỮNG TRANG NHẬT KÝ CỦA MỘT LINH MỤC

Lời giới Thiệu

Cây vả và tôi

Trần Mỹ Duyệt

Chủ vườn.
Cây vả.
Người làm vườn.

“Có người trồng một cây vả trong vườn nho mình. Ông đến tìm quả ở cây đó mà không thấy, ông liền bảo người làm vườn rằng: “Kìa, đã ba năm nay ta đến tìm quả  cây vả này mà không thấy có. Anh hãy chặt nó đi, còn để nó choán đất làm gì! Nhưng anh ta đáp rằng: “Thưa ông, xin để cho nó một năm nay nữa. Tôi sẽ đào đất chung quanh và bón phân, may ra nó có quả chăng, bằng không năm tới ông sẽ chặt nó đi” (Luc 13:6-9).

Thiên Chúa.
Con người.
Đức Kitô.

Qua trích đoạn Tin Mừng trên, chúng ta nhận thấy rất rõ ràng về mối tương quan giữa Thiên Chúa, con người, và Đức Kitô. Vai trò trung gian của Đức Kitô được nhận rõ qua hình ảnh người làm vườn vừa siêng năng, vừa có trách nhiệm. Dĩ nhiên, cũng là người làm vườn tốt. Nếu Thiên Chúa là chủ vườn, thì cây vả chính là hình ảnh của nhân loại, và Đức Kitô là người làm vườn.

Như người chủ vườn mặc dù không mấy vui khi thấy cây vả không sinh hoa trái, tuy nhiên, ông vẫn nhẫn nại chờ đợi đến 3 năm. Thiên Chúa hẳn cũng không vui gì khi thấy con người vẫn mải xa ngài, quay lưng lại với ngài, nhất là không sinh hoa trái tốt về đời sống tâm linh.

Cũng như người chủ vườn khi trồng cây vả, ông muốn nó sinh hoa, kết trái. Thiên Chúa khi đưa chúng ta vào đời, ngài cũng muốn chúng ta mang lại những hoa trái thiêng liêng tốt lành. Và cũng như người chủ vường đã cắt đặt một người làm vườn chăm chỉ và siêng năng lo chăm bón cây quý ấy, Thiên Chúa cũng đã sai Con Ngài là Đức Kitô làm công việc giải thoát và cứu con người khỏi những khó khăn và trói buộc của tội lỗi, của đam mê và tính xấu, những cái làm cho thui chột và không đem lại hoa trái tinh thần của đời sống Kitô hữu.

Tình thương.
Thời giờ.
Ơn Cứu Chuộc.

Tuy không còn nghi ngờ gì về tình thương Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta và cho toàn thể nhân loại. Một tình thương bao trùm vũ trụ. Một tình thương không dừng lại ở tội lỗi của con người, như lời Ngài đã thề hứa sau khi con người đầu tiên là Adong và Evà đã sai phạm giới luật. Và mặc dù buồn lòng vì thấy con người phủ nhận tình thương, chối bỏ mối thân tình và quay lưng lại với ngài, Thiên Chúa vẫn không nỡ loại bỏ con người như ngài đã loại bỏ Lucifer. Chúng ta hãy nghe ngài nói với Đức Kitô qua môi miệng người chủ vườn nói với người làm vườn: “Kìa, đã ba năm nay ta đến tìm quả  cây vả này mà không thấy có.” Nhưng khác với người chủ vườn, Thiên Chúa không muốn nói câu: “Hãy chặt nó đi, còn để nó choán đất làm gì!”. 

Và mặc dù không nói “hãy chặt nó đi, còn để nó choán đất làm gì!” nhưng Chúa Giêsu cũng đã hiểu ý và đã đứng ra hòa giải con người tội lỗi chúng ta với Cha ngài. Bởi ngài biết rằng thời gian có mặt trên dương thế của mỗi người, tuy là thời giờ để lập công, để sinh hoa trái tốt, nhưng nó lại rất giới hạn. Nó không phải là một chuỗi ngày dài vô tận để con người lãng phí, và quên sót bổn phận sinh hoa kết trái của chính mình.
 
Thiên Chúa liệu có mất bình tĩnh như ông chủ vườn đã làm đối với cây vả không? Chắc là không. Không như ông chủ tỏ vẻ bất mãn với cây vả và muốn loại bỏ nó, nhưng con người lại là những kẻ bất nhẫn với chính mình. Nó sẽ tự mình tách mình ra khỏi tình yêu Thiên Chúa một khi nhận ra mình đã không trung thành, không sống xứng đáng với ơn gọi cao cả của mình. Và đó là điều tại sao người làm vườn, tức là Đức Kitô phải xin với Cha mình khoan dãn.

Người làm vườn đào đất, tưới bón. Chúa Giêsu thì trở nên chính phân bón cho phần rỗi và ơn cứu chuộc của con người.

Thật vậy, ơn cứu chuộc đã đến với con người và nhân loại qua cái chết của Chúa Giêsu trên thập tự giá. Không phải là phân bón. Không phải là nước. Chúa Giêsu đã hy sinh chính mạng sống mình và trở thành phân bón cho cây phần rỗi chúng ta. Và máu ngài đổ ra trên thập tự giá là dòng nước mát tưới vào những gốc cây khô cằn của mỗi tâm hồn. 

Thánh ký không nói đến mùa vả tới, và đây chính lại là một mầu nhiệm mà chúng ta cần phải tự mình suy nghĩ. Và đó cũng là câu hỏi mà chính mỗi người chúng ta phải tự hỏi lấy mình. Tình thương Thiên Chúa còn đó, luôn chờ đợi. Giá cứu chuộc của Chúa Giêsu đã đủ để tới gội những gốc cây cằn cỗ là tâm hồn chúng ta. Nhưng liệu chúng ta có muốn đón nhận, và có sinh được hoa trái tốt hay không?!!!
 

Lời bàn của Tâm Linh Vào Đời

Tác giả Nguyễn Tầm Thường đã trăn trở qua những dòng chữ:
Vị Thầy đã quay về tìm ánh sáng trong cõi lòng
Còn anh học trò lại quyết tâm:
Ta phải tìm câu trả lời cho riêng ta.
Anh lại trăn trở, câu hỏi ấy không đơn giản, và biết mình sẽ phải đem theo cả đời để trả lời câu hỏi ấy.

Tác giả Trần Mỹ Duyệt cũng thao thức như vậy:
đó cũng là câu hỏi mà chính mỗi người chúng ta phải tự hỏi lấy mình.
Đây chính là thao thức của Tâm Linh Vào Đời muốn chia sẻ với quý độc giả để mỗi người trong chúng ta khám phá ra Thiên Tính của mình và sống theo điều mà mình đã khám phá..và tiếp tục khám phá không ngừng suốt cả cuộc đời.

Lời giới Thiệu