tlvd-36-1

tlvd-39-1

Số 47  Ngày 30.03.2007

Lời Giới Thiệu

Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề..
Một cánh cửa đầu tiên hé mở vào thế giới Linh Đạo mênh mông…
Chúng tôi xin đặt vấn đề mới: Cứu chuộc – một vấn đề gây cần.
Một thanh niên Công Giáo muốn vượt khỏi những ràng buộc của tư tưởng, của định kiến để tìm hiểu Thiên Chúa.qua bìa
Hạt Cải Trời : Linh Kỳ
Trần Mỹ Duyệt khát mong mang Chúa tới người khác qua hình ảnh khiêm nhu: Con Lừa
Bùi Ngọc Điệp mời gọi chúng ta Suy Tư Mùa Chay qua nhân rất : Giu-đa Itcariốt
Cuối cùng, chúng tôi xin dành một mảnh đất đặc biệt cho quý độc giả nào muốn nghiên cứu thế giới Thiền Tông
Tất cả các bài này đều có phần Suy tư ngắn của Tâm Linh Vào Đời
Hôm nay, chúng tôi mời quý vị làm quen với tư tưởng Thiền Tông qua một vấn đề rất quyết liệt..
Giết khái niệm về Bụt, về Chúa: Thiền sư Nhất Hạnh

CỨU CHUỘC - Một Vấn Đề Gai Góc

 Tâm Linh Vào Đời

Đã lâu lắm rồi, tôi rất tự hào về Đạo Thiên Chúa. Đạo của tôi là đạo thật do chính Con Thiên Chúa từ trời xuống lập lên. Tất cả các đạo khác đều là đạo không thể nào sánh bằng. Vì tất cả các Đạo khác là do con người lập nên, kể cả đạo Phật, một đạo nổi tiếng từ rất lâu, đã xuất hiện trước đạo Thiên Chúa cả năm trăm năm. Tôi còn nhớ rất rõ các cha đã  dạy rằng: Đạo Công Giáo ví như một đường thằng từ chân núi tới đỉnh núi. Còn các đạo khác vòng vèo còn chán mới tới Đỉnh Trọn Lành.
Tuy nhiên có một vấn đề nổi cộm đó là Cứu chuộc hay Cứu Độ.
Cứu Chuộc là một vấn đề khá gai góc
Chúng ta thường tin chắc chắn rằng:
Vì tình yêu mà Chúa Cha đã sai Con mình là Chúa Giêsu xuống trần gian để cứu chuộc loài người chúng ta khỏi chết vì tội.
Ôi!! nghe sao mà sướng thế! Chúa đã xuống trần để cứu chuộc chúng ta.
Chúng ta nhưng những tên đang bị án tử hình, bỗng nhiên có một Hoàng Tử - Con Vua Cả Trời Đất – xuống thế gian để cứu chúng ta để chúng ta khỏi chết vì tội. Chúng ta hân hoan từng bừng, vừa đi vừa hát ca khúc khải hòan mừng Chúa – Đấng cứu thóat ta khói chết vì tội.
Tội gì vậy? Tội nguyên tổ, tội riêng của mỗi người. Thế thì từ nay chúng ta tha hồ vui vẻ thoải mái, chẳng còn gì để lo sợ.
Ấy thế mà thực tế lại khác hoàn toàn. Chúng ta vẫn luôn ổng ổng lên mà van xin: Xin Chúa nghe lời chúng con khẩn cầu mà đưa linh hồn...qua chốn âu sầu. Trong chốn âu sầu tức là tình trạng sống trong tội.
Như vậy, rõ ràng là đâu có được cứu chuộc để khỏi phải chết vì tội!!! Vậy thì không biết chúng ta có được cứu chuộc thật không?  Hay Cứu chuộc giống như củ cà rốt treo trước con lừa. Chạy mãi mà chẳng bao giờ có thể ghé rằng cắn vào để thưởng thực mùi vị ngon ngọt của cứu chuộc!!
Và cũng vì tình yêu ấy mà Chúa Giêsu đã bằng lòng chịu chết thay cho chúng ta.
Chịu chết thay cho chúng ta. Không hiểu cái chết ở đây hiểu theo nghĩa nào. Trong Kinh Thánh Đức Giêsu đề cập tới hai hình thức chết.
Đức Giê-su bảo : “Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ.” (Mt 8:22)  
Chết phần tâm linh: cứ để kẻ chết chôn
Chết phần thân xác: kẻ chết của họ.
Vậy Chúa Giêsu chết thay cho chúng ta là chết thay phần tâm linh hay chết thay phần thân xác???
Nếu chết về phần tâm linh thì cực kỳ vô lý vì Chúa Giêsu là Đấng Hằng Sống làm sao có thể chết được.
Còn nếu nói chết về phần thân xác thì cũng vô lý không kém. Không lẽ Chúa chết thay cho chúng ta để thân xác chúng ta trường sinh bất tử!!! Vô lý quá!!
Xin các vị cao minh vui lòng chỉ giáo. Kẻ hèn này quả thực không hiểu được.
để chúng ta được giao hòa với lại với Thiên Chúa, được ơn cứu rỗi và có hy vọng sống đời đời với Chúa trong Nước Trời.
Để giao hòa với Thiên Chúa cũng là một vấn nạn quá khó hiểu.
Chúng ta thử quay lại khúc phim ngay sau khi Đức Giêsu chịu chết và phục sinh.
Chẳng thấy ai cảm thấy mình được giao hòa với Chúa. Các môn đệ thân tín tan tác như rắn mất đầu, đành phải trở về nghề đánh cá như xưa. Nếu các ngài cảm thấy được giao hòa với Chúa thì ắt là các Ngài phấn khởi loan tin khắp Nước Do Thái: Này anh em, từ nay chúng ta đã được giao hòa với Chúa rồi!!
Sự thực không phải thế!! Các ông đã về nhà đánh cá kiếm cơm với những bạn chài ngày xưa, như chưa hề theo Chúa một ngày nào.
Thế thì vấn đề Chúa Giêsu đã bằng lòng chịu chết thay cho các môn đệ để các môn đệ được giao hòa với lại với Thiên Chúa mang ý nghĩa gì với các môn đệ thời đó nhỉ??? Khó hiểu quá!!!
Xin các vị cao minh vui lòng chỉ giáo. Kẻ hèn này quả thực không hiểu được.
Việc Giao hòa với Chúa như thế là đi vào ngõ cụt..nhưng vẫn còn vớt vát: được ơn cứu rỗi và có hy vọng sống đời đời với Chúa trong Nước Trời.
Vấn đề cứu rỗi lại cũng là một trong những vấn nạn gai góc hàng đầu.
Gai góc ngay ở chỗ dùng từ ƠN CỨU RỖI.
Chúa chết thay cho chúng ta là một vấn đề khó hiểu
Nhưng Chúa ban ơn cứu rỗi còn khó hiểu hơn nhiều.
Chúa ban ơn lúc nào? Ngay sau khi Đức Giêsu chịu chết hay đợi sau khi phục sinh? 
Làm cách nào để nhận ra mình nhận được ơn cứu rỗi?
Ơn cứu rỗi này có kèm theo ơn sức mạnh hay tự mình phải cố gắng, cố gắng cộng tác với ơn cứu rỗi để hy vọng được sống đời đời với Chúa trong nước trời mai sau??
Ôi !! nghe sao mà xa xôi, mờ ảo, với hy vọng quá mong manh.
Trong khi đó trong Kinh Thánh nhan nhản những câu trái ngược lại toàn nói chuyện hiện tại:
Đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ. (2Cr 6:2)
Quả thực, Cứu độ ngay tại trần gian này. Ngay bây giờ chứ không phải đợi mãi tới đời sau đâu!!
“Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói : ‘Ở đây này !’ hay ‘Ở kia kìa !’, vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông.” (Lc 17:20-21)
Nước Chúa – Thiên Đàng – đang ở giữa chúng ta. Thiên đàng của bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. Ngay bây giờ chứ không phải đợi mãi tới đời sau đâu!!
Thật, tôi bảo thật các ông : giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa ; ai nghe thì sẽ được sống. (Ga 5:25)
Tất nhiên đây là Sống về phần tâm linh. Ngay bây giờ chứ không phải đợi mãi tới đời sau đâu!!
Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.” (Ga 14:7)
Biết, thấy bằng ánh mắt tâm linh. Ngay bây giờ chứ không phải đợi mãi tới đời sau đâu!!
Tóm lại,
Đứng về mặt lý thuyết, ơn cứu độ mà chúng ta đã được dạy từ trước tới nay có quá nhiều lỗ hổng, chỉ gây thêm khó hiểu chống chất khó hiểu.
Một lần nữa xin các vị cao minh vui lòng chỉ giáo cho.
Xin vui lòng gởi tới địa chỉ tamlinhvaodoi@gmail.com

Lời Giới Thiệu

HẠT CẢI TRỜI

Linh Kỳ

Lời tác giả: Đây là kinh nghiệm của một thanh niên Công Giáo đã  vượt khỏi những ràng buộc của tư tưởng, của định kiến để tìm hiểu Thiên Chúa.  Giáo lý, truyền thống Công Giáo và cuộc đời của nhiều thế hệ Công Giáo đã gợi lên trong anh thật nhiều câu hỏi và những mâu thuẫn.  Thay vì phải tránh né và an lòng với những giải thích thuần túy không phù hợp với mình, anh đã mạnh dạn tự mình tìm đến câu trả lời của những mâu thuẫn đang chất chứa nơi tận cùng của nội tâm.  Vào một đêm, anh đã CHỢT TỈNH THỨC.  Anh nhận ra mình đã từng bước âm thầm đi trong linh đạo đơn điệu và cô đơn, và đã khám phá ra chính mình.  Từ một lần đã nhìn thấy chính mình đó, anh thấy mình như Hạt Cải Trời đã vươn dậy, đã nhìn thấy ánh sáng chân lý của một bầu trời đang rộng mở đón chào: niềm thương cảm sâu sa cho chính mình và cho người khác.  Anh thấy mình đang trở thành một hộc trời trong cái vũ trụ bao la rộng lớn mà trong đó, chính anh và tất cả những hộc trời khác đan chặt vào nhau như một chiếc võng, như một dòng sông, một nguồn suối tâm linh bất tận: ĐẠO.

CÓ những đêm khó ngủ, anh một mình rù rì trong bóng tối với những bài hát quen thuộc, cốt chỉ để tự ru.  Riêng hôm nay, chẳng biết duyên cớ gì anh lại hát bài Riêng Một Góc Trời của nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên mà anh rất thích mỗi lần xem ca sĩ Tuấn Ngọc trình diễn.
"em vẫn xa xôi"
"tôi vẫn chơi vơi"
"riêng một góc trời"
Vâng! anh đang chơi vơi tìm giấc ngủ an lành trong một góc trời riêng, không gian nhỏ bé của một căn phòng về đêm. 
Nhưng đã không còn được nữa! 
Tâm trí rồi cứ miên man xa xôi nghĩ ngợi về những suy tư, những kinh nghiệm và hình ảnh của cuộc đời mình: những khắc khoải mong chờ của nội tâm, những mâu thuẫn tự đáy lòng trước giáo lý Công Giáo, Truyền Thống Công Giáo và hiện thực, và cả những chọn lựa tâm linh nữa. 
Và rồi, anh nhớ đến những người thân. Từng người, từng người một đang lần lượt hiện ra trong tâm trí và trong màn ảnh của đêm đen.  Từ một góc trời riêng của mình, anh trở thành một cậu bé đang ngỡ ngàng, thích thú, tò mò, và đang lần lượt bước đến những góc trời khác.  Anh thấy mình như một chú nhỏ đang dò dẫm và đang tìm đến những dấu chân còn để lại của một đạo sư: Đức Giê Su Ki Tô.
Từ nhỏ, như rất nhiều những thanh thiếu nữ khác, anh đã yêu mến và trân trọng những áng thơ tình bất hủ.  Nhưng chỉ một lần thôi, và chỉ trong một đêm thôi, anh đã thấy mình trở thành Xuân Diệu:
trong giếng mắt đã chứa trời vạn hộc ...
nghìn trái tim ở trong một trái tim  (Cảm Xúc - Xuân Diệu)
Những nút thắt cuối cùng đã được mở!
Góc trời riêng đã mở!
Từng hộc trời trong giếng mắt đã đi qua!
Cảm xúc đã dâng trào và không thể ngừng lại được nữa, và từ đó anh nhận thức được:  chính bản thân mình đã là một HẠT CẢI TRỜI đang vươn dậy.
Từ trong bóng tối của màn đêm, tia sáng le lói cuối đường hầm đã làm sống lại niềm hy vọng trong anh.
Hạt cải đã chín mùi và đã nảy mầm.  Đôi vỏ bảo bọc nhỏ bé, thân thương đã hé mở cho chồi non vươn dậy.  Hạt cải trời rồi sẽ mọc lên, lớn mãi, và lớn mãi, hệt như giấc mộng tâm linh một thời nó đã ôm ấp.

I.  Hạt Cải Trời

Từ lâu, khi tri thức và tiềm thức đều bảo chàng thanh niên rằng: "mi là một hại cải trời!"; hạt cải trời đã ôm ấp giấc mơ mà chính vị linh sư gần gũi nhất, Giê Su Ki Tô một thời đã nhắn nhủ:
"Chúng ta sẽ lấy gì mà hình dung nước Thiên Chúa? hay dùng dụ ngôn nào mà so sánh nước đó được?
Nước đó giống như hạt cải, khi gieo xuống đất thì nhỏ bé nhất trong tất cả các hạt trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên thành cây rau lớn nhất, và đâm những cành to, đến nỗi chim trời có thể tới núp bóng được".  (Mc 4, 26-34)

(i) Bối Cảnh, Ràng Buộc và Vấn Nạn
Cậu bé sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công Giáo.  Như những đứa trẻ Công Giáo khác, cậu được nuôi nấng dạy dỗ để sống như một hạt cải trời. 
Cậu đã lãnh nhận bí tích đầu đời: Rửa Tội.  Cậu đã học làm sao giao hoà với Chúa qua bí tích Giải Tội.  Cậu đã học làm sao để dọn lòng, sẵn Ruớc Chúa vào lòng trong mỗi thánh lễ, và cậu đã lãnh nhận bí tích với ơn phước của Thánh Linh.
Rồi cũng như muôn ngàn thanh thiếu niên khác, cậu bé lớn lên trong tình thương yêu của gia đình.  Các cộng đoàn Công Giáo cậu đã đi qua để lại trong tâm trí nhiều ấn tượng sâu xa và thân thiết.
Một ngày lễ Phục Sinh năm cậu 14 tuổi, điều kỳ lạ đã xảy ra. 
Ngày đó, một bài đọc về biến cố vượt qua của Dân Do Thái đã ghi lại ấn tượng thật sâu đậm, làm rung chuyển cái nhìn, nhận thức của cậu về Thiên Chúa:  Pharao và toàn thể binh lực, chiến mã, đều bị vùi chôn dưới lòng biển cả.

- TẠI SAO CHÚA KHÔNG THỂ CỨU HỌ?

(ii) Rất Gần Chúa và Rất Xa Chúa
Từ câu hỏi đó, những mâu thuẫn từ các lời giảng dạy, các đoạn thánh kinh, các lời nguyện Linh Mục trong mỗi thánh lễ đã âm thầm rung động nơi nội tâm của một hạt cải trời.
Trước giờ, hạt cải trời vẫn nghĩ rằng, mình sẽ trở thành một cây cải trời lớn đến độ chim trời có thể đến núp bóng.  Nhưng Thiên Chúa lại đích tay hủy diệt các hạt cải trời khác từ trong bài đọc hôm nọ, từ các đoạn Kinh Thánh, và từ trong nhận thức của những người chung quanh về các biến cố của cuộc đời.
- Số phận mình, hạt cải trời này sẽ ra sao trong sự xét đoán của Thiên Chúa?
Nhận thức đã bắt đầu nhen nhúm và ngày hôm đó, là một cậu bé giúp lễ trên bàn thờ, cậu bé đã nhận ra rằng:
- À!  từ lâu, mình chỉ quỳ dưới chân Thánh Tượng - Rất Gần Chúa và cũng Rất Xa Chúa.
Kể từ ngày hôm ấy, những bài giảng mà cậu từng say sưa nhớ đến thuộc lòng đã dần dần mất hẳn vị trí cao quý thưở thơ ngây.
Kể từ nhận thức đó, những lời kinh trong giáo đường dần dần mất sức quyến rũ.
Và kể từ hôm ấy, trong tâm tư cậu bé, chỉ còn Thiên Chúa thôi !!
Ngày đó, THIÊN CHÚA trở nên nhân vật ĐÁNG SỢ hơn bao giờ hết trong nội tâm của cậu.

(iii) Giáo Luật, Giáo Lý và Sự Chai Lỳ Của Bản Thân
Cũng từ ngày biết KÍNH SỢ THIÊN CHÚA, từ khi ngài trở nên một nhân vật đáng sợ hơn đáng yêu, chàng trai trẻ đã bắt đầu biết tìm hiểu các quan niệm, giáo lý và các lời giảng dạy về ngài.
Điểm quan trọng trong cuộc đời, chàng trai trẻ thường tự nhắn nhủ chính mình: LUẬT, giữ LUẬT, nghe lời CHA, nghe lời GIÁO HỘI, cốt sao đừng để cho AI NỔI GIẬN!!!  Vì cơn giận của Thiên Chúa, "Ôi Lạy Chúa: xin ngài đừng trút cơn thịnh nộ trên con".
Và từ đó, LUẬT LUẬT LUẬT... Cậu bé đã học luật Chúa và cách sử dụng luật Chúa một cách rất khôn ngoan, khôn ngoan đầy trần thế.  Những buổi giao hòa với Chúa tại tòa giải tội trở thành những lần ĂN NĂN TỘI CÁCH CHẲNG TRỌN (attrition).  Hạt cải trời thường tự cười thầm một cách ranh mãnh rằng: Mình đã xin lỗi rồi.  Chúa sẽ không phạt.
Chàng trai trẻ đã trưởng thành giữa hai dòng ĐỜI ĐẠO.  Thiên Chúa ngày càng trở nên một nhân vật đáng sợ hơn là yêu mến.  Lời dạy của ngài trở thành những gánh nặng tâm tư, những bản án tử hình không hơn không kém và hình ảnh Thiên Chúa trong tâm tưởng chẳng khác chi: CÁI BÚA TRÊN ĐE.

Những Bức Tranh Không Hề Tưởng Tượng - Rất Thật
(1) Những ngày tháng kế tiếp thật là hoang mang và rối bời.  Cậu vẫn là một chú bé giúp lễ lâu năm tại Giáo Xứ cậu đã lớn lên.  Bề ngoài, cậu được xem là ĐẠO ĐỨC và BIẾT GIỮ LUẬT CHÚA.  Về phương diện hiểu ngài, cậu từng đoạt giải thưởng đố vui giáo lý nhiều năm liên tiếp.  Nhưng bề trong, NỖI LO SỢ và PHẢN KHÁNG đã hình thành. 
Những lần cùng Cha Sở và Giáo Dân đưa tiễn những người cùng giáo xứ ra tận nghĩa trang, cậu vẫn không quên được một đoạn thánh ca:
"Xin Chúa nghe lời chúng con khẩn cầu.  Mà đưa linh hồn ... ra chốn u sầu.  Xin vì công nghiệp đức nữ đồng trinh, mà Chúa giơ tay dập tắt lửa hồng đớn đau vô cùng đớn đau".
(1) GIÁ TRỊ của "TÔI", hạt cải trời có nghĩa lý gì với Thiên Chúa?
(2) Tại sao ngài không coi trọng công đức của tôi mà chỉ coi trọng công đức người khác?
(3) Tại sao cả đời Tin Chúa, giữ luật ngài, đi lễ, sinh hoạt, học hỏi, vv. chỉ có thể đổi lại một lời nguyện xin tha thiết của lời Kinh Nguyện Thánh Thể mỗi thánh lễ: “Xin Chúa cũng nhớ đến ông bà, cha mẹ, anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại, và mọi người đã qua đời trong tình thương của Chúa, xin cho các linh hồn ấy được vào hướng ánh sáng tôn nhan Chúa”?
Và cứ thế, cậu lớn lên trong dòng Đời nhiều hơn là với Đạo, với Thiên Chúa.  Nhà thờ chỉ còn là nơi quen thuộc, nơi lui viếng mỗi tuần vài tiếng.  Sinh hoạt, giúp dọn bàn thờ, ca đoàn, vv.  vẫn gần CHÚA ĐÓ, nhưng có gì chắc ăn đâu?

SỢ, SỢ và RẤT SỢ !!!

Sợ ngài đến trong đêm.
Sợ cái chết bất ngờ, chết tươi ăn năn tội chẳng kịp.
Và lạy Chúa: 99.99% đời con là tội lỗi.  Nhiều khi vừa xưng tội xong, nghĩ kỹ lại: CON ĐÃ PHẠM TỘI từ trong tư tưởng rồi.  Bình an có đó nhưng chưa bao giờ trọn vẹn - RẤT NGẮN NGỦI.  
(2)  Môi trường đại học mở mang kiến thức con người.  Tại nơi này, cậu cũng đã đã học và hình thành nhiều tri thức cùng với năm tháng. 
Một ngày ở lứa tuổi ba mươi:  AH! Biết rồi: trò chơi này ai cũng phải phải chơi.
Giáo Luật, Giáo Lý: như những sợi dây vô hình nối liền Con Người với Thiên Chúa.  Bất kỳ sợi dây liên kết nào đứt cũng là một đại họa: : tội trọng, tội nhẹ, tội chết sa hỏa ngục, tội đời đời trầm luân, vv.
Con Người:  cái phận người này buồn khôn kể.  Có mắt đó nhưng chẳng thấy sợi dây vô hình nào hết.  Nghe lời Giáo Luật, Giáo Lý, Cha Cụ, Giáo Hội, có gì đâu mà chắc ăn.  Dòng lịch sử hạt cải trời đã đi qua, thiếu gì những lỗi lầm, tội các đến từ những người hàng ngày, hàng tuần vẫn quỳ dưới thánh tượng.
Thiên Chúa: Cái Búa Trên Đe.  Sợi dây vô hình nào đứt, PHẬP.  Thế là hết.
Cái quan niệm này đã trở nên hơi cũ.  Hạt cải trời đã chai lỳ và muốn phủ nhận tất cả những giá trị không còn phù hợp với nó.
Tôi là tôi.  Hạt cải sẽ trở thành cây cải.  Đó là chuyện tất nhiên.
Mình còn tin Chúa nữa hay không?  Mình còn là một hạt cải trời nữa không?
Một ngày, câu hỏi mang tính cách quyết định ẩn sâu từ trong tiềm thức chợt bùng lên trong ý thức.

II. Suy Tư và Khám Phá
Hạt Cải Trời đã nhiều phen đau khổ.  Nó thường nghe lời kết luận, nhận xét của những hạt cải đàn anh nhắn nhủ nó rằng: Mi Quá Manh Động, Quá Phản Loạn, Mi Sẽ Chẳng Bao Giờ Trở Thành Một Cây Cải Trời.  Và một thời, nó đã tin như vậy.
Hạt Cải Trời đã nhiều phen mâu thuẫn.  Cuối tuần, nó là một tín đồ mộ đạo với đầy đủ vẻ rành rọt.  Ngày thường, nó thuộc cuộc đời.  Nó thường tự an ủi rằng: ít ra mình cũng có bảo hiểm vì là người của HAI THẾ GIỚI - Đời và Đạo.
Hạt Cải Trời đã nhiều phen lúng túng.  Đâu là làn ranh Thiện và Ác?  Đâu là người của Thiên Chúa và đâu là người của Ma Quỷ, Ác Thần?
Hạt Cải Trời đã nhiều phen đổ lỗi và đã trách Chúa: người tạo ra tôi là ngài.  Người đem tôi đi gieo cũng là ngài.  Ngài đặt tôi vào cõi đời này.  Thì tại sao, HẠT CẢI TRỜI chẳng nở??
Vào một ngày cuối thu, một bậc đạo đức đáng kính trọng đã đi ngang và nhắn nhủ với nó rằng:  The Kingdom of God is within you.
Mừng rỡ như được tặng chiếc chìa khóa tâm linh, nó bàng hoàng chợt nghĩ đến vài nhận thức quan trọng: bình an dài hay ngắn còn tuỳ thuộc vào khoảng cách
- giữa mình với Thiên Quốc;
- giữa Hạt Cải Trời và Thiên Chúa,
và nói một cách khác,
- giữa bóng tối của ĐÔI VỎ nuôi dưỡng, bảo bọc nay đã chật chội và một KHUNG TRỜI ĐANG RỘNG MỞ.
Có một nhận thức truyền lại từ thế hệ Cha Chú khiến nó suy nghĩ mãi:
"634. Canh tân là trở về nguồn.
Công thức canh tân:
Làm cho người công giáo trở lại đạo công giáo.
Làm cho người Kitô hữu trở lại với Chúa Kitô.
Mới nghe, con ngạc nhiên, nhưng ngẫm nghĩ lại, con sẽ thấy đúng như vậy.
Một câu nói của thánh Gandhi nhiều lần khiến ta suy nghĩ: "Tôi mến Chúa Kitô, nhưng tôi không yêu người Kitô hữu, vì họ không giống Chúa Kitô."- Đường Hy Vọng, Nguyễn Văn Thuận.
Mỗi lần như thế, những thắc mắc chợt bùng lên trong nhận thức.
-     Mahatma Gandhi và Nguyễn Văn Thuận là hai người của hai tôn giáo khác biệt.  Nơi này Thuận là "CHỦ" thì Gandhi phải là "KHÁCH".  Tại sao, Thuận lại phải vì một câu nói của Gandhi mà suy nghĩ mãi.
-        TẠI SAO cũng là một giáo dân Công Giáo, mà hạt cải trời đã nhiều năm vẫn chưa nảy mầm?  Và tại sao, mình không thấy mình giống CHÚA KI TÔ?

III. Rút Gần Khoảng Cách: BINGO, CHÚA ĐÂY!
Từ một ngày nhận ra khoảng cách CÒN QUÁ XA VỜI đến Chúa Ki Tô ngay tại lúc quỳ dưới chân thánh tượng, hạt cải trời nay đã biết:  cần phải rút ngắn khoảng cách với Chúa và chính mình.
- BINGO!  bình an của Thiên Quốc mình đã thấy: CHÚA ĐÂY!!
Hạt cải trời đã nhận ra và biết học hỏi giá trị chân quý của những lời giảng dạy từ Đức Ki Tô, từ kinh nghiệm của những thệ Công Giáo đi trước, của những nền luân lý đạo đức khác, và của cả dòng đời nữa.
Nó mường tượng thấy mình như các tông đồ thưở xưa đã được mời gọi theo chân Chúa Ki Tô: hãy bỏ hết mọi sự mà theo ta !!
Đúng!  Phải bỏ hết mọi sự, phải cởi bỏ hết mọi mâu thuẫn và ràng buộc, đừng cho phép mình viện cớ trì hoãn bước vào Linh Đạo.  Đức Giê Su thưở xưa cũng không cho phép ai viện cớ, cho dù là những ràng buộc thân tình nhất:
- Một thanh niên viện cớ xin phép chôn cha trước, ngài nói: "Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết." (Lc 9,60)
- Đức Mẹ viện cớ cuộc vui sẽ tàn tại tiệc cưới, ngài đã vẽ rõ làn ranh: "Hỡi bà! Tôi với bà có can chi đâu?" (Ga 2,1-11)
Lời mời gọi của Giê Su Ki Tô theo bước chân của ngài luôn rõ ràng và triệt để.  Và từ đó, mọi mâu thuẫn đã CHỈ Ở CON NGƯỜI, và hạt cải trời đã biết rất rõ.
(i) Nếu ngày xưa, Đức Tin chỉ là một lời hứa hẹn và một lời cầu xin tha thiết suốt cả cuộc đời thì nay: ĐỨC TIN đã làm rạng ngời tri thức (credo ut intelligam - St. Ansemo; 1033-1109).
(ii) Nếu ngày xưa, Đức Tin chỉ là một cơn sốt của lòng yêu mến và tràn đầy mâu thuẫn với tri thức, thì nay, Đức Tin đã thành một với tri thức, được thể hiện rõ nét qua các ân sủng của Thánh Linh: khôn ngoan, hiểu biết, thông minh, biết lo liệu, sức mạnh.  Và khi đã hội tụ đủ các điều kiện không thể thiếu (conditio sine qua non)của thánh linh, Đức Tin sẽ làm rạng ngời đạo đức và lòng kính trọng cho ĐẠO: Thiên Chúa!
(iii)Lần đầu tiên sau hơn hai chục năm, Hạt Cải Trời thấy mình đích thực là môn đệ của Chúa Ki Tô, là người từng bước từng bước theo chân Chúa Ki Tô như thưở xưa thánh Phê Rô đã làm.  Khoảng cách giữa nó và một hội thánh "duy nhất", "thánh thiện", "Công Giáo" và "tông truyền" đã không còn nữa.  Nó đã trở nên một với đạo. Nó đã trở nên một với dòng đời.  Nó đã không còn là người của Hai Thế Giới.
(iv) Và Hạt Cải Trời bàng hoàng sửng sốt khi nhận ra: cả những người chưa bao giờ nhận biết Giê Su Ki Tô, chưa bao giờ nhận biết Thiên Chúa, chưa bao giờ nhận biết Giáo Hội - HỌ CŨNG LÀ NHỮNG HẠT CẢI TRỜI.  Họ có suy tư rất riêng, họ có kinh nghiệm chúng ta không hề biết.  Họ có cách riêng để tách đôi vỏ nhỏ bé để trở thành cây cải trời.  Khoảng cách giữa "TÔN GIÁO" và "TÔN GIÁO" không còn nữa.  Khoảng cách giữa "THUẬN" và "GANDHI" không còn là khoảng cách giữa “Chủ” và “Khách”, mà chỉ là không gian và thời gian, kinh nghiệm khác biệt trên cùng một con đường: ĐẠO.

Câu Truyện Của Thánh Phê Rô Tông Đồ: kinh nghiệm Tỉnh Thức của một Hạt Cải Trời
Si Mon Phê Rô có mệnh danh là "ĐÁ".  Bản chất của đá thường là rất lạnh lùng nhưng nội tâm của ông thì ngược lại: lòng mong cầu, ước ao rất lớn.  Có thể nói, với lòng sốt mến này, trước sau gì ông cũng tự mình tìm thấy: LINH ĐẠO.
Thánh kinh kể lại một câu truyện đáng tiếc: thánh Phê Rô hơi chậm tiêu.  Ông tưởng mình đã theo thầy Giê Su thì nước trời sẽ là một phần thưởng có sẵn.  Lâu ngày, ông trở thành một người lệ thuộc, ăn theo, hưởng ké: “Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho Moisen và một cho Elia” (Mc 9, 5).    Những lần các môn đệ bàn tán: mai này ở Thiên Quốc, Thầy Giê Su bát vàng .. con tay trái tay phải bát bạc ... một thoáng tưởng tượng đi ngang trong tâm trí: chắc là Phê Rô đã cười mỉm chi tự nhủ - Phê Rô ta là con chim đầu đàn, chắc chắn sẽ cầm bát bạc. Cũng vì thế, suốt 3 năm theo chân Giê Su, lòng ao ứớc, mong cầu của Phê Rô trái hẳn lại ... đã dần dần mất đi. Có thể nói, trong suốt thời gian này, tâm đạo của Phê Rô không tiến triển tí nào: RẤT GẦN CHÚA mà LẠI RẤT XA CHÚA .. XA GẦN của hạt cải trời đã bao phen quỳ dưới chân thánh tượng.
Kinh Dịch có định nghĩa về luật tích tiệm: Biến và Hoá.  Biến là thay đổi từ từ, mỗi lần một chút, còn Hóa là đột biến, một lần là xong.
Các tôn giáo khác như Phật Giáo cũng có kinh nghiệm "Giác Ngộ Từ Từ" qua sự tinh tấn và chuyên cần trong vấn đề trau giồi tri thức hay tu đức.  Nhưng cũng có trường hợp, người nghe giảng Giác Ngộ tức thì: đốn ngộ.
Trường hợp của Hạt Cải Trời Phê Rô cũng không ngoại lệ.  PHÊ RÔ là cái AO NƯỚC đã sắp đầy ngay từ khi ông gặp Giê Su. Ông đã không ngần ngại bỏ hết tất cả trần thế để theo ngài ngay trong lời mời gọi đầu tiên. 
Ở bên cạnh Giê Su, ông thấy mình là đệ tử, là người phục dịch, là người cầu xin.  Có khi, ông chính là người hối thúc: thuyền sắp chìm rồi, sao ngài còn ham ngủ.  Và trong suốt tháng ngày bên cạnh Giê Su, ông đã không hề nghĩ đến lời mời gọi đích thực và gần gũi: LÀM BẠN HỮU !!!
Khi đức Giê Su bị bắt và bị kết án tử hình, Phê Rô bị hụt hẫng.  Ông tưởng trời đã sụp xuống, tưởng mình đã bị gạt, và đã rất lo sợ: giờ phút đó, ông chỉ nhớ đến một Phê Rô của con người cũ, ông muốn trở lại con người ấy.  Và thế là: Phê Rô CHỐI CHÚA .. hạt cải trời sợ cái lạnh của sự TỈNH THỨC, sợ chuỗi ngày gian nan trong sự vươn dậy để mãi mãi khép mình trong đôi vỏ khép kín.
Chắc có lẽ chỉ vài giờ sau, Hạt Cải Trời Phê Rô đã bừng tỉnh và nhận ra chính mình: Ta là một AO NƯỚC ĐÃ GẦN ĐẦY.  Ông đã tự mình đi trên linh đạo và cuối cùng đã TỈNH THỨC.  Đó cũng là lời nhắn nhủ sau cùng của Giê Su Ki Tô với các môn đệ, ngài đã nói gần như van nài:

- HÃY TỈNH THỨC.

Lời Kết:
Khi lòng ao ước đã đầy và tri thức về chính bản thân mình đã kết tụ, đôi vỏ bảo bọc của loại hạt nhỏ bé sẽ tách ra - Hạt Cải Trời sẽ vươn hình hài lớn dậy.
Nụ chồi non lần đầu tiên nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm, đã thoát khỏi lớp vỏ bảo bọc một thời trìu mến, thân thương nhưng nhiều khi chật chội, đầy bóng tối và mơ hồ đến đáng ghét.  Hạt cải trời đã nhìn thấy ánh sáng chói lọi của hừng dương và đã không dừng được cảm xúc.
Nó đã mừng rỡ khôn tả.  Đã ngậm ngùi, và đã khóc.  Không! nó không thật sự khóc vì đó chỉ là những dòng lệ ngược, âm thầm chảy vào trong những rung động tột cùng của nội tâm, của sự mừng vui trước đột phá tâm linh và có lẽ của cả linh hồn nữa  (fervent of its soul). 
Lần đầu tiên nắm bắt được ánh sáng, Hạt Cải Trời đã cởi bỏ những gút mắc mâu thuẫn cuối cùng của tư duy, của nỗi băn khoăn khắc khoải mong chờ trong hơn hai chục năm miệt mài tin tưởng và mong đợi. 
Đức Tin của nó đã trưởng thành trong sự Tỉnh Thức, sự  tinh tấn và chuyên cần học hỏi.  Nó đã gan lì lao vào vực thẳm của bóng tối, của lớp vỏ bảo bọc, để truy tìm ánh sáng.  Nó cúi đầu thầm cảm ơn những gì mà các thế hệ Công Giáo, những bậc thầy của dòng đời và của các nền luân lý đạo đức đi trước đã trao tặng như gói hành trang vào đời: RA ĐI... LỚN LÊN trong SỰ TỈNH THỨC và LÒNG TỪ ÁI.  Ra đi trong một cuộc hành trình đơn điệu và cô độc để tìm kiếm bình an.  Tự mình phải thanh lọc, tìm kiếm học hỏi từ kinh nghiệm để rút tỉa những Tri Thức cần phải có cho sự bình an trong tâm hồn - bình an của Thiên Quốc, một KINGDOM of GOD đã chất chứa bên trong, và trong tất cả mọi hạt cải nữa. Tất cả đều kết tụ lại như một điều kiện không thể thiếu: Dinh Dưỡng Của Một Cây Cải Trời. 
Nước đó giống như hạt cải, khi gieo xuống đất thì nhỏ bé nhất trong tất cả các hạt trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên thành cây rau lớn nhất, và đâm những cành to, đến nỗi chim trời có thể tới núp bóng được".  (Mc 4, 26-34)
Kính mong kinh nghiệm trưởng thành tâm linh này đóng góp một phần trong dòng suối kinh nghiệm tâm linh phong phú của Giáo Hội, với di sản tâm linh khổng lồ của những CÂY CẢI trưởng thành, đã và đang để lại cho thế gian thật nhiều những hạt giống tâm linh khác: những HẠT CẢI TRỜI.
Trong lúc hứng khởi, tôi đã viết một bài nhạc để bày tỏ nỗi lòng qua Ca khúc  Hạt Cải Trời

viết lòng
sờn trên mặt giấy
khi đời ta
khao khát dâng đầy
kiếp người
tựa thoáng mây bay
còn lại gì,
là ta ngày ấy?
NGỠ ngàng
nhìn nắng ban mai
quyện chồi non
lớn mãi miệt mài
hỏi rằng: phải đó như ta
không qua đi trong cõi đời này?

ĐK
Ta không là hư hao
mất đi !
sau thời gian ngắn ngủi
Ta không là chiêm bao
vỡ tan!
như là mây khói
Ta là men cay,
tháng năm,
tình yêu vươn lớn dậy
Cây cải trời
một lần sống mãi cùng hư vô!

Lời Giới Thiệu

Con lừa

 Trần Mỹ Duyệt

Mỗi lần Chúa Nhật Lễ Lá mở đầu Tuần Thánh, Giáo Hội lại cho đọc lại những trình thuật về cuộc khải hoàn của Chúa Giêsu vào Thành Thánh Giêrusalem. Gọi là cuộc khải hoàn, nhưng đúng hơn, đây là hình ảnh của việc chiếm ngự tâm linh mà Chúa Giêsu sẽ thực hiện khi ngài chịu chết để cứu chuộc nhân loại. Một hình ảnh của cuộc chiến thắng tinh thần. Cả người chiến thắng và những người tham dự vào cuộc chiến thắng này rất đơn sơ, khiêm tốn, hiền lành, và tự nhiên.
Trong cuộc khải hoàn và chiến thắng ấy không thấy bóng dáng những nhân vật quan trọng đạo, đời. Không có những diễn văn hùng hồn. Không có những màn trình diễn, duyệt binh rầm rộ với những chiến mã và đoàn xe hộ tống. Nhưng phương tiện duy nhất được dùng trong cuộc khải hoàn này là một con lừa con. Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ ngài: “Các con hãy đến làng trước mặt kia, vừa vào làng, các con sẽ gặp con lừa con cột sẵn đó chưa ai cỡi bao giờ, các con hãy mở dây mà dẫn về.” (Luca 19:30). Nhưng tại sao lại là con lừa con?
Hồi còn nhỏ, mỗi lần phá phách, nghịch ngợm mà mẹ bảo không nghe thì thường được nghe câu nói: “Mày là con lừa. Nhẹ không ưa, ưa nặng”. Có nghĩa là bảo nhẹ mà không nghe, liệu muốn bị đánh đòn không đây?! Con lừa ưa nặng. Như vậy là bản tính của nó hay tự nó muốn nặng. Có lẽ là do bản tính của nó hơn là nó muốn nặng. Lừa hay ngựa thì con gì mà chẳng muốn nhẹ, ưa nhẹ. Thật vậy, ngoài cái “ưa nặng” của lừa, nó còn là con vật im lặng, chịu đựng và nhẫn nại. Không ồn ào, không xông xáo, và cũng không hiếu chiến. Một con vật như vậy được dùng để tượng trưng cho sự nhẫn nhục, chịu đựng và hiền hòa của người đang cỡi trên lưng nó, và đoàn người đi theo người đó là một điều hết sức ý nghĩa.

Người ngồi trên lưng lừa:
Chúa Giêsu, đấng đang tiến vào Giêrusalem hôm nay với những tiếng tung hô tưng bừng, và niềm vui hớn hở của những kẻ theo ngài, cũng chính là đấng mà ít ngày sau giống như con lừa, vừa hiền từ, câm nín, và vừa chịu đựng.
Quang cảnh ở vườn Giệtsimani bị các môn đệ bỏ rơi vì mê ngủ. Bị Giuđa phản bội trao nộp. Quang cảnh bị dẫn đến dinh tổng trần và dinh thượng tế và bị tra khảo. Bị chế nhạo bởi Hêrôđê, và bị kết án bất công bởi tổng trấn Philatô. Nhất là trước cuộc tra tấn dã man ở dinh tổng trấn, bị nhục mạ và chọn lựa sau tên cướp, bị vác thập giá lên Núi Sọ, và chịu đóng đanh ở đó. Đặc biệt, như còn bị chính Chúa Cha từ bỏ: “Eli, Eli, lema sabachthani?” – Lậy Chúa Trời tôi. Lậy Chúa Trời tôi, sao nỡ bỏ tôi – (Mat 27:46).
Hình ảnh của Chúa Giêsu trong những ngày thuộc Tuần Thương Khó, ngập tràn những nét tiều tụy, đau thương, và thống khổ. Nhưng bên cạnh những bất hạnh ấy, là sự nhẫn nại, phó thác, tin yêu, và chấp nhận. Như một con lừa vẫn thường ngày chậm dãi bước đi mang trên vai những gánh nặng mà chủ nó đặt trên đó. Không một lời than thở. Không một lời trách móc. Và không ồn ào phản bác. Tất cả là hy sinh và chấp nhận.
Đến đây chúng ta mới thấy rằng tại sao Chúa không dùng ngựa. Chúa ngồi trên một con chiến mã trông sẽ oai phong, lẫm liệt, và giống ông vua hơn. Nhưng có lẽ đấy cũng là điều mà ngài muốn chúng ta cần phải lưu ý khi muốn tìm gặp một hình ảnh trung thực của ngài trong cuộc đời.
Chúng ta sẽ không thấy ngài xuất hiển vẻ vang, oai phong, và lẫm liệt, nhưng có lẽ chúng ta thường thấy ngài lầm lũi, nghèo khổ, bệnh tật, bị trù dập và bị hất hủi. Và thật vậy, chính những hình ảnh ấy qua cặp mắt đức tin, chúng ta sẽ khám phá ra ngài. Ngài muốn chinh phục chúng ta bằng tình thương, bằng lòng nhân từ, và bằng sự khiêm tốn. Ngài không chiến thắng, không chinh phục lòng tin của con người bằng những vẻ huy hoàng và quyền lực nhưng bằng cái nội tâm nhân hậu và hiền lành. Bằng sự hy sinh đến chấp nhận chịu khổ và chịu chết. Như vậy, ngài mới thật là vua chiến thắng. Và như ngài đã nói: “Nước ta không thuộc về thế gian này” (Gioan 18:36). 

Người theo đón tiếp:
Nếu để ý đọc lại những trình thuật về cuộc khải hoàn của Chúa Giêsu vào Giêrusalem, chúng ta cũng thấy rằng không có bộ mặt lớn nào trong giới chính quyền và giáo quyền nào xuất hiện để tiếp đón ngài hôm đó. Ngược lại, chỉ có những người tầm thường và con nít. Nhưng khi ngài bị bắt, bị trao nộp, thì những bộ mặt lớn ấy lại xuất hiện. Thượng tế Anna và Caipha. Vua Hêrôđê. Tổng trấn Philatô. Vậy điều này nói lên cái gì?
Có nghĩa là những kẻ muốn theo Chúa, và thực sự là thế, là những kẻ khiêm nhường, bé mọn, và đơn sơ. Chính những người này đã nhận ra Chúa. Và họ vui mừng đón rước Chúa. Những kẻ quyền thế, cao sang, không thấy xuất hiện trong đám rước ngày hôm nay, nhưng họ lại đang sẵn sàng chờ đợi, để khi có dịp là ra mặt trấn át, bắt bớ và thủ tiêu ngài. Họ là những người đại diện cho thế giới tội lỗi, kiêu căng và thù hận. Họ là đại diện của thế giới vật chất, và phù phiếm. Nơi họ không có sự khiêm tốn, đơn sơ và bác ái. 
Phải chăng, đó cũng là tâm trạng của chính mỗi người chúng ta khi muốn đón tiếp ngài. Đón tiếp ngài giữa công hội, giữa đám đông, hay đón tiếp ngài âm thầm vào nhà mình. Thật vậy, trước hết là chúng ta không thể tìm đâu ra Chúa Giêsu giữa những ồn ào, huyên náo. Giữa những rừng cờ phất phới. Giữa những tiếng nhạc quân hành, và những đoàn quân chiến thắng. Giữa những vó ngựa reo vang.
Chúng ta cũng không nhìn ra khuôn mặt của Chúa nơi những khuôn mặt của những kẻ chiến thắng, vênh váo, và tự đắc. Nhưng chúng ta chỉ có thể tìm thấy ngài giữa những cảnh sống đơn sơ, nghèo hèn, hoặc bắt bớ, và tù đày. Ở đó chúng ta nhìn thấy Chúa Giêsu qua những anh chị em nghèo, túng, thiếu ăn, thiếu mặc, và lam lũ. Ở đó, chúng ta nhìn thấy Chúa qua những anh chị em bệnh tật, tù đầy và bị ức hiếp. Những người mà khi chúng ta làm những việc như cho một bát nước, một chén cơm, một manh áo. Hay những lần chúng ta nở một nụ cười chào thăm, là chúng ta làm cho chính Chúa: “Ta bảo thật, khi các ngươi làm những việc ấy cho một trong những anh em hèn mọn nhất của ta là làm cho chính ta” (Mt 25:40).

Con lừa:
Hình ảnh con lừa xem như được dùng nhiều trong Thánh Kinh. Ít nhất nó cũng được nhắc tới trong cuộc hành trình về Belem của Thánh Giuse và Đức Mẹ. Nó được nằm kề bên máng cỏ trong đêm Chúa Giáng Trần để cùng với đoàn vật hà hơi ấm cho Chúa Hài Nhi giữa đêm trường lạnh giá. Và hôm nay, nó lại được Chúa dùng để vào Thành Thánh Giêrusalem. Nhưng ở bất cứ hoàn cảnh nào, nó vẫn là con vật nhẫn nhục, chịu đựng, và không ồn ào.
Chúng ta có thể tìm thấy hình ảnh ấy qua việc so sánh về thái độ chấp nhận và hy hiến của Chúa Giêsu từ khi ngài cỡi lên mình nó, cho đến lúc ngài tắt thở trên thập giá. Và chúng ta cũng có thể tìm thấy hình ảnh của nó nơi tất cả những ai khiêm tốn, và đơn sơ đang dong duổi tìm kiếm Chúa trong hành trình đức tin của mình. Và hình ảnh ấy cũng chính là hình ảnh mà tôi cần phải học đem ra áp dụng trong đời sống tâm linh của mình. Tôi phải khiêm tốn, đơn sơ, nhẫn nhục và chịu đựng. Không phải vì miễn cưỡng, mà vì lòng yêu mến Đức Kitô. Tôi phải là con lừa để ngài cỡi và để tôi có thể đem ngài đến với bất cứ ai, bất cứ đâu mà ngài muốn. Điều này cũng có nghĩa là qua tôi, người ta nhìn thấy và tìm gặp được ngài.
Lời Giới Thiệu
SUY TƯ MÙA CHAY

GIUĐA ÍTCARIỐT

JB. BÙI NGỌC ĐIỆP

I.-Bằng chứng của kẻ nộp Thầy:
1- Chúa Giêsu tiên báo Giuđa sẽ nộp Ngài: Mt 26,20-25; Mc 14,17-21; Lc 22,21-23; Ga 13,21-30
2- Giuđa ra dấu chỉ điểm và Chúa Giêsu đã bị bắt: Mt 26,47-56; Mc 14,43-50; Lc 22,47-53; Ga 18,3-11
3- Cái chết của Giuđa: Mt 27,3-10; Cv 1,16-20
II.-Gợi ý suy tư:
1- Theo bạn số phận ông Giuđa thế nào?
2- Đời sống và thái độ của ông Giuđa có giúp gì cho bạn khi trình bày: Đức tin, Đức cậy và Đức mến cho người khác không?
3- Đứng trước một người đang có hành động tự sát, bạn làm gì?
4- Nếu ông Giuđa được Chúa cứu, thì sứ mệnh rao giảng niềm hy vọng sẽ gặp những khó khăn nào?
5- Nếu ông Giuđa phải hư mất, thì việc loan báo lòng xót thương của Thiên Chúa sẽ gặp những trở ngại gì?
III.-Những bản văn giúp suy tư:
1- Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: Ga 17,12
2- Chúa Giêsu trách ông Giuđa: Mt 26,24; Mc 14,21
3- Xatan nhập vào Giuđa: Lc 22,3; Ga 13,27
4- Số phận của những kẻ chối Chúa: Lc 12,9; Ga 3,36; 1Ga 2,22-23
5- Tội phạm đến Thánh Thần: Mt 12,32; Mc 3,29; Lc 10,16; 12,10; Dt 10,29
6- Ai tin vào Thầy: Mt 26,25; Ga 3,16; 11,26
IV.-Nhận định:
Thánh Phaolô dạy rằng: “Vậy chúng ta đừng xét đoán nhau nữa. Tốt hơn, anh em hãy xét sao để tránh gây cớ cho anh em mình phải vấp hay phải ngã”. (Rm 14,13)
- Tôi không dám đoán rằng: ông Giuđa phải sa hỏa ngục, vì tôi không có quyền xét đoán kẻ khác. (x. Mt 7,1)
- Tôi cũng không bảo rằng ông Giuđa được cứu rỗi, vì như thế sẽ càng làm bế tắc thêm đối với những người lầm lạc như ông. Kẻo làm hư hỏng nhiều người. (x. Dt 12,15)
- Nhưng nếu tôi dựa vào những bản văn trên đây mà suy nghĩ, thì thấy rằng ông Giuđa khó mà có cửa phần rỗi. (x. Ga 7,24)

Lời Giới Thiệu

BẬC GIÁC NGỘ VÀ TÊN KHỦNG BỐ 
Bình giảng Lâm Tế Lục bài 22

Giết Khái Niệm về Bụt, về Chúa

 Thiền sư Nhất Hạnh
Kính thưa đại chúng, hôm nay là ngày 21 tháng 12 năm 2003, chúng ta đang ở chùa Pháp Vân tại Xóm Thượng trong khóa tu mùa Thu. Chúng ta học tiếp Lâm Tế Lục, xin đại chúng mở ra trang 17 bản dịch tiếng Việt. 
Này các bạn tu, đừng lấy Bụt làm tiêu chuẩn tuyệt đối. Theo tôi thì cái quan niệm ta có về Bụt ấy cũng như một cái hố xí, và theo nghĩa đó, Bồ Tát và La Hán cũng chỉ là những kẻ đem tới gông cùm. Vì vậy cho nên mới có hiện tượng Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Đàm và Ương Quật Ma đem đao tới chém Thích Ca. 
Đối với người Phật tử, Bụt là đối tượng của sự tôn thờ tuyệt đối, của sự mến mộ tuyệt đối, là hình ảnh tuyệt hảo để cho ta noi theo. Chúng ta thường nghĩ nếu không có hình ảnh của Bụt thì làm sao chúng ta có hướng đi trong cuộc đời. Trong những lúc nguy nan, trong những lúc khổ đau, chúng ta bám vào hình ảnh của Bụt, một tiêu chuẩn tuyệt đối để mà sống, cũng như những người bạn Cơ Đốc giáo bám vào hình ảnh của Thiên Chúa. Nếu không có hình ảnh của chúa Ki Tô như là chỗ nương tựa để bám víu vào, họ sẽ không thể nào vượt được những giờ phút nguy nan. Ấy vậy mà Tổ Lâm Tế đã nói: Đừng mắc kẹt vào hình ảnh của Bụt và Chúa, tại vì đó chỉ là những hình ảnh của chúng ta đã có về Bụt và Chúa.
Trước hết ta cho rằng Bụt và Chúa là những cái thực tại nằm ở ngoài ta, không phải là ta. Không phải tự mà là tha (the other, l'autre). Quan điểm sai lầm ở chỗ đó. Quan niệm Bụt và Chúa là một thực tại bên ngoài để ta bám víu vào, quan niệm ấy không có khả năng đưa ta đến sự giải thoát. Có thể quan niệm ấy xoa dịu được một phần nào những đau khổ trong chốc lát, nhưng không đưa ta được tới giải thoát. Ta phải vượt thắng quan niệm đó của ta về Bụt và Chúa. Tại vì nó duy trì tình trạng nô lệ của ta. Vì vậy Tổ gọi nó là một cái hố xí. Có người tín đồ nào dám gọi đức giáo chủ của tôn giáo mình là một cái hố xí không? Có người tín đồ của một tôn giáo nào có ý muốn sát hại vị giáo chủ của mình hay không? Nhưng trong thiền tông thì có. Tổ Lâm Tế kêu gọi chúng ta gặp Bụt thì phải giết Bụt, 'phùng Phật sát Phật', lời dạy này, người có căn cơ thấp bé không thể nào hiểu tới được. Chỉ có những người tu tập đã chín muồi, đã sẵn sàng buông bỏ ý niệm mới có thể tiếp nhận được mà thôi. Nếu Tổ Lâm Tế sinh ra trong truyền thống Cơ Đốc giáo mà nói ra một câu như vậy, thì chắc chắn Tổ đã bị nhà thờ kết án là rối đạo, và rút phép thông công. Đạo Bụt thì ngộ lắm, Tổ nói như vậy mà vẫn còn tiếp tục hành đạo được. Có những nhà nho nghe Tổ Lâm Tế dạy, nói rằng: 'Trời! Nếu ông này không đi tu thì sẽ trở thành tướng cướp'. Tại vì họ không hiểu được Tổ. Tiểu sử của Tổ có ghi chép rằng: khi còn nhỏ Tổ rất hiếu kính với cha mẹ. Vậy mà Tổ lại tuyên bố là "Gặp cha giết cha, gặp mẹ giết mẹ." Đây là ngôn ngữ của nhà thiền, ta phải chín chắn lắm mới nắm vững được. Còn nếu ta chưa chín chắn, chưa là thiền sư mà đã muốn sử dụng ngôn ngữ này thì sẽ rất nguy hiểm. Chết ta trước, và chết những người khác sau. 
Bụt là cái hố xí. Quan niệm của anh về Bụt là một cái hố xí ràng buộc anh, nó bỏ tù anh, và anh phải thoát ra khỏi sự ràng buộc đó. Trong cái nghĩa ấy, hình ảnh các vị Bồ Tát và A la hán mà ta có trong đầu cũng là những cái gông cùm. Ý niệm về Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền mà ta niệm hàng ngày đều là những cái gông cùm mà ta phải thoát ra. Cho nên mới có hiện tượng Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Đàm, tức là giết khái niệm đó của ta về Bụt. 
Ngày lễ Giáng Sinh, trẻ con rất thích ông già Noel. Vấn đề đặt ra là ông già Noel có thật hay là không có thật? Nhu yếu của sự sống bắt buộc phải có ông già Noel. Nếu không có ông già Noel thì chắc chắn sẽ có một ông già khác. Vấn đề ở đây không phải là tôn giáo, nó là văn hóa. Văn hóa Tây phương mà không có ông già Noel thì sẽ thiếu vắng. Vì vậy cho nên có ông già Noel hay không có ông già Noel như một nhân vật lịch sử không phải là vấn đề then chốt. 
Khái niệm của trẻ em về ông già Noel rất dễ thương, rất ngây thơ. Ông già Noel thường phải mặc áo đỏ, đội nón đỏ có cái chuôi dài, đi đôi hài cao (tại vì đi trên tuyết), và thế nào cũng phải có một bộ râu trắng phơ dài. Phương tiện chuyển vận của ông không phải là xe taxi, mà là một chiếc xe trượt tuyết có những con nai kéo. Khi tới nhà mình ông không vào bằng cửa thường, tại vì cửa thường đã đóng vào giờ ấy. Ông chui từ trên ống khói đi xuống và chui rất hay, thành thử ra áo quần của ông không có dính lọ ngẹ. Ông không bị nóng, dù lúc đó củi vẫn còn cháy. Ở chỗ bếp lửa đêm hôm ấy, bọn con nít treo những chiếc vớ của chúng trước khi đi ngủ. Chúng tin tưởng rằng vào nửa đêm ông già Noel sẽ tới, và sẽ bỏ vào trong những chiếc vớ của chúng những món quà mà chúng thích. Chúng thật sự tin như vậy. Nếu chúng ta lấy mất niềm tin đó của bọn con nít đi, thì tội nghiệp quá. Nếu một đứa bé mới có bốn tuổi, năm tuổi mà nghe nói Ềông già Noel là không có thật Ể thì nó sẽ buồn biết mấy. Vì vậy, chắc chắn phải có ông già Noel cho bọn con nít. Ông già Noel nghe được ước vọng của bọn con nít. Bọn con nít muốn cái gì ông cũng biết và ông cho ngay cái đó, rất là hay. Ước vọng của bọn con nít là một cái gì có thật, mà những người nghe được, hiểu được cái ước vọng đó cũng là những người có thật. Đó là những ông già Noel. Ông già Noel đích thực không cần phải có râu dài màu trắng, không cần phải mặc áo đỏ, không cần phải đi bộ hia đỏ. Nếu chúng ta kẹt vào cái tướng của ông già Noel, thì chúng ta không thấy được ông già Noel. Chúng ta phải nhìn ông già Noel bằng con mắt vô tướng. Vậy thì có ông già Noel, hay là không có ông già Noel? Ta phải nhìn bằng con mắt vô tướng. Nếu ta có một quan niệm về ông già Noel, thì quan niệm đó có thể là quan niệm ngây thơ của em bé. Em bé đó ngày mai sẽ lớn, sẽ bừng tỉnh, sẽ mỉm cười và sẽ biết rằng: mình đã vượt thoát ý niệm ngây thơ về ông già Noel của thời ấu thơ. Tuy vượt thoát rồi, nhưng mình vẫn duy trì hình ảnh ông già Noel cho thế hệ tương lai. 
Bụt cũng vậy, Chúa cũng vậy, đức Văn Thù cũng vậy, đức Phổ Hiền cũng vậy, đều là những ông già Noel cả. Nhưng nếu chúng ta cho những hình ảnh đó là những sản phẩm hoàn toàn của tưởng tượng thì cũng không đúng. Tại vì ông già Noel cần thiết cho cuộc đời.Bụt, Chúa, các vị Bồ Tát cần thiết cho cuộc đời – đặc biệt cho những người sơ cơ – những người thích ăn cháo hơn là những thức ăn đặc. Tuy vậy nếu chúng ta muốn lớn lên, không phải là về mặt tuổi tác mà về đời sống tâm linh, muốn tiếp xúc được với sự thật thì chúng ta phải có khả năng buông bỏ những ý niệm, những hình ảnh trẻ thơ của mình. Chúng ta có quan niệm về Bụt, về Chúa, chúng ta đã sống với quan niệm về Bụt, về Chúa đó từ thời ấu thơ. Khi chúng ta học hỏi thực tập, thì từ từ chúng ta buông bỏ những quan niệm đó về Bụt và về Chúa. 
Thầy Thanh Văn hồi còn nhỏ nghĩ rằng Bụt rất ưa ăn chuối tại vì thấy ai tới chùa cũng cúng chuối. Bụt đợi cho đến khi chùa vắng lặng hoàn toàn rồi, mới đưa cánh tay ra bẻ một trái chuối mà ăn, đó là cái thấy của thầy Thanh Văn hồi còn 5, 6 tuổi. Đến khi thầy lớn lên thì cái thấy đó không còn nữa, nó được thay thế bằng những cái thấy khác. Vì vậy, ta phải buông bỏ những cái tướng để sự thật có thể hiển bày ra được. Nếu chúng ta không buông bỏ cái tướng ông già Noel, thì làm sao thấy được ước mơ của bọn con nít và lòng thương yêu của những bậc cha mẹ? Ông già Noel có mặt ở trong những em bé đó, và có mặt ở trong những người cha, những người mẹ. Ông già Noel là một phẩm vật sáng tạo của tâm thức. Là sáng tạo phẩm thì nó phải có thật chứ sao không có thật được? Nhưng sáng tạo phẩm đó được nhận thức qua một hình thái nào đó trong văn hóa người ta vẽ ra. Người ta vẽ ra hình Bụt, người ta vẽ ra hình Chúa, người ta vẽ ra hình Bồ Tát, người ta vẽ ra hình ông già Noel. 
Ta phải lớn lên trong đời sống tâm linh của ta. Ta phải phá tan những hình ảnh để mà tiếp xúc với sự thật. Không phải là Bụt không có, Chúa không có, tình yêu không có, bác ái không có. Đó là những thực tại, nhưng không phải là đối tượng của sự mong cầu đang có mặt ở ngoài ta. Nó không phải là cái khác (the other, l'autre), nó không phải là một thực thể độc lập ngoài tâm thức ta, ngoài con người ta, ngoài sự sống của ta. Khi thấy được như vậy rồi, thì ta không còn tìm cầu, không còn theo đuổi nữa. Ta không đánh mất bản thân của ta, không lâm vào cái mặc cảm ta là con số không. Lưỡi gươm trí tuệ là lưỡi gươm có thể chặt đứt được tất cả những khái niệm đó, những ảo ảnh đó, những tướng trạng đó, những hình thức đó.

SUY TƯ ngắn của  Tâm Linh Vào Đời
Khi ta còn nhỏ,  chúng ta cần có một hình tượng cụ thể về Chúa như một vị Chúa toàn năng, toàn thiện, toàn tri, Chúa là vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các chúa để chúng ta tôn thờ, tin kính, trông cậy, yêu mến.
Nhưng điều đáng tiêc ở chỗ: Chúng ta cứ mãi ôm khư khư nhưng hình ảnh của vị Thiên Chúa từ thủa còn học Bổn Đồng Ấu....Và chúng ta cứ sống mãi trong tâm tưởng mình là vật mọn phàm hèn trước một vị Chúa cao sang, uy quyền khắp vũ trụ!!!
Đáng lẽ ra, khi lớn lên, chúng ta cần nghiên cứu Kinh Thánh để xóa bỏ tất cả những hình ảnh cụ thể trên và khám phá ra một Thiên chúa không hình tướng như: Thần Khí (Ga 4:24), Chân lý, Sự sống đời đời (Ga 14:6) (1Ga 4:16)...
Chân lý, Sự sống đời đời, tình yêu đâu biết thưởng phạt, vui buồn, nên nếu ta sống trong Chúa không hình tướng, ta sẽ cảm thấy thoải mái, giải thoát khỏi những nỗi sợ hãi vớ vẩn..
Nếu ta sống theo điều khám phá trên thì chúng ta đã giết chết khái niệm của thời thơ ấu về vị Thiên Chúa oai hùng. Ta được tự do đích thực trong tình yêu trọn vẹn của Thiên Chúa.

 Lời Giới Thiệu

______________________________________________