Số 48 Ngày 03.04.2007
Bước vào Tuần Thánh
Mời quý vị cùng với giám mục Bùi Tuần dành riêng cho mình những giây phút 1-Tĩnh Tâm Tuần Thánh
Thứ Sáu Tuần Thánh,Trần Mỹ Duyệt nhìn lại 2-Thánh Giá Cuộc Đời của mình
Thứ Bảy tuần Thánh, chúng ta suy tư về 3-Bài Giảng Tám Mối Phúc Thật Trên Núi Sọ.
Trần Duy Nhiên chia sẻ.Giám Mục J.B. Bùi Tuần - www. honnho.org
Tuần Thánh sắp đến. Ðể dọn mình đón nhận ơn cứu độ đặc biệt, chúng ta thường thực hiện một vài hình thức hồi tâm. Hồi tâm tập thể. Hồi tâm nhóm nhỏ. Hồi tâm cá nhân.
Hồi tâm là một thứ tĩnh tâm. Tĩnh tâm tất nhiên đòi tĩnh lặng. Tĩnh lặng ở đây không phải chỉ là xa tránh ồn ào bên ngoài. Nhưng chủ yếu là đi vào cõi tĩnh lặng nội tâm.
Hôm nay, tôi xin gợi ý vắt tắt về ba thứ ích lợi tĩnh lặng nội tâm, để giúp tĩnh tâm Tuần Thánh.
A. Tĩnh lặng nội tâm phục vụ chính mình.
Thật vậy, mỗi người chúng ta cần biết mình. Biết mình cốt yếu là nhận ra cái gì là căn bản đời mình, rồi đặt nó ở vị trí ưu tiên, luôn qui chiếu đời mình về nó. Luôn làm nó sáng thêm lên. Luôn thanh luyện nó cho mỗi ngày thêm vững. Rồi từ đó sắp xếp những giá trị khác đúng trong trật tự. Trật tự của các ước muốn. Trật tự của các hoạt động.
Thí dụ, đối với tôi, một giá trị tôi cho là căn bản nhất chính là lắng nghe thánh ý Chúa và vâng phục thi hành. Thánh ý Chúa trong sứ vụ được trao. Thánh ý Chúa đặc biệt trong từng thời điểm. Thánh ý Chúa riêng trong từng việc cụ thể. Tất cả đều vì mục đích phục vụ Chúa trong hướng chuẩn bị cho mọi người đón nhận Nước Trời.
Một sự nhận biết như thế, thường chỉ đạt được trong tĩnh lặng nội tâm. Tĩnh lặng lâu. Tĩnh lặng sâu. Tĩnh lặng trong thẳm sâu thinh lặng của Chúa Thánh Thần.
Trong thinh lặng này, chúng ta cũng có dịp xem lại những kinh nghiệm đã qua. Có những kinh nghiệm đã chỉ thấy sơ sơ. Có những kinh nghiệm bây giờ mới thấy.
Tất cả một hồ sơ dầy cộm về đời mình được hiện lên lặng lẽ. Có khi như những câu chất vấn. Có khi như những khích lệ ủi an. Chúng hiện lên dưới một ánh sáng mới của Chúa. Dưới ánh sáng mới này, chúng ta mới thấy rõ mình đã có những đầu tư tốt, và cũng có những nhọc nhằn phí phạm.
Trong thinh lặng, từ những kinh nghiệm như thế, ta sẽ thấy nẩy sinh ra những sáng kiến mới. Ðể cái vốn Chúa trao cho mình sẽ mãi được sinh lời, cho dù hoàn cảnh muôn bề khó khăn.
B. Tĩnh lặng nội tâm phục vụ người khác.
Tôi vẫn hay nhắc lại cho mình câu Phúc Âm nói về Mẹ Maria: “Riêng mẹ Người, thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2:51).
Ðức Mẹ ghi nhớ trong cõi lòng thinh lặng. Ðể suy niệm. Ðể cầu nguyện. Các người chung quanh vì thế đều được nhờ.
Rất nhiều trường hợp, sự thinh lặng nội tâm lại là một cách tốt nhất, để hiệp thông với nỗi lòng người khác. Thế mà, đôi khi người ta tưởng phải nói nhiều, náo động nhiều mới là hiệp thông. Thực ra, một lời nói mà không có giá trị xây dựng hoặc cho mình, hoặc cho người khác thường không có lợi gì. Mà một lời nói có giá trị xây dựng, bao giờ cũng phải nấu nung trong nội tâm thinh lặng trưởng thành.
Cởi mở không có nghĩa là cởi mở mồm miệng, nhưng là cởi mở tấm lòng. Tấm lòng cởi mở, nghe và cảm được nỗi lòng của người khác, phải là một tấm lòng thinh lặng, mang một khả năng đồng cảm sâu sắc. Ðể rồi, chính sự thinh lặng của nó lại là ngôn ngữ tình thương có giá trị. Nhiều khi tín hiệu tình thương, được trao một cách có hiệu quả, qua một sự thinh lặng đầy hy sinh, cầu nguyện và thương cảm. Trái với những lời nói nhiều mà trống rỗng.
Có những lễ hội của vài đoàn thể, khi nhắc đến, còn làm tôi sợ. Bởi vì, suốt mấy đêm đó vang lên những tiếng hát thực vô duyên, khuấy động giấc ngủ của cả một vùng. Tôi gọi đó là những cuộc tra tấn thần kinh. Thiết tưởng chỉ một phút biết nghĩ tới người khác, biệt thinh lặng, ít là từ nửa đêm đến sáng, cũng là một cách phục vụ bao người đang rất cần được ngủ nghỉ.
Từ sự thiếu tĩnh lặng bên ngoài, người ta có thể đoán được tình trạng thiếu thốn thê thảm sự tĩnh lặng nội tâm.
C. Tĩnh lặng nội tâm phục vụ Thiên Chúa.
Trong sách Khải Huyền, Chúa phán: “Này đây, Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3:20).
Chúa đến nhẹ. Chúa gõ nhẹ. Chúa vào nhẹ. Chúa nó nhẹ. Chỉ những ai thinh lặng nội tâm mới nghe được, và mới đón được Ngài vào tâm hồn mình.
Và cũng chỉ những tâm hồn thinh lặng và tỉnh thức mới cảm nghiệm được sự Chúa đến. Ngài đến như ngọn lửa làm nóng tâm hồn lên, muốn đốt sạch những dơ bẩn tội lỗi. Ngài đến như một bàn tay dịu dàng đánh thức tâm hồn, để gặp gỡ một tình yêu cứu độ muốn nâng tâm hồn lên. Ngài đến như một luồng gió nhẹ, thổi sự sống mới vào tâm hồn, để thao thức về một Nước Chúa đang đến gần. Ngài đến như một dòng nước từ Trời, tuới vào tâm hồn những khát vọng về một hành trình, sẽ cùng với mọi người con Chúa, đi về với Thiên Chúa Ba Ngôi, là nơi họ sẽ ở lại đời đời.
Chỉ có những tâm hồn thinh lặng mới hiểu được và thực hiện được lời quan trọng của Chúa Giêsu: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, anh em chẳng làm được gì” (Gioan 15:5).
Tuần Thánh năm nay đang bị chìm vào những thời sự đau xót do chiến tranh và những lo sợ cho cá nhân, như Ðức Giáo Hoàng đã cảnh báo. Chúng ta hãy cùng với vị Cha Chung hiệp thông với Chúa Cứu Thế, thinh lặng trên đường đi vào Tuần Thánh.
Thinh lặng với tâm hồn sám hối nguyện cầu. Thinh lặng với tinh thần khiêm tốn hy sinh. Thinh lặng vác thập giá và chia sẻ thập giá của muôn vàn người đau khổ vì những lý do khác nhau. Thinh lặng biến Tuần Thánh này thành một hy lễ đền tạ dâng lên Chúa Cha giầu tình thương xót.
Với Ðức Tin, chúng ta đợi chờ sự vượt qua mới, theo chương trình cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.(Bài suy niệm được phát thanh trên Chương Trình Ra Khơi, đài Radio Bolsa, 1190am Nam California, thứ Sáu 30 tháng 3 năm 2007. Phát thanh từ 8:30-9:00 các ngày Thứ Sáu từ 8:30 pm- 9:00pm).
Trần Mỹ Duyệt
“Chúng con thờ lậy và ngợi khen Đức Giêsu Kitô, vì Chúa đã dùng thánh giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ”. Thập giá rồi đến thánh giá. Đây chính là ý nghĩa cuộc đời của người Kitô hữu và cũng là mục đích của đời người.
“Sinh, lão, bệnh tử”. Sinh ra, lớn lên, phát triển, yếu đau, bệnh tật, và chết. Mọi người không trừ ai đều phải đi qua tiến trình sống này. Khi tôi nhìn thấy một em bé xinh xắn, vui tươi và hồn nhiên là tôi nghĩ tới một chàng thanh niên hay một thiếu nữ trẻ trung, đầy sức sống và yêu đời. Khi tôi nhìn thấy một thanh thiếu niên, một thiếu nữ là tôi nhìn thấy một người đàn ông hay người đàn bà khoẻ mạnh, năng động và hăng say đi vào tình yêu, vào cuộc sống và mọi góc cạnh của cuộc đời. Và sau cùng, khi tôi nhìn thấy một người đàn ông hay người đàn bà năng động và đầy sức sống, tôi thấy một cụ ông hay một cụ bà lưng còng, tóc bạc, da mồi, tay chân run rẩy, mắt lòa, tai hễnh hãng, và đang đi dần đến ngôi mộ.
“Đời là bể khổ”. Tiến trình đi đến ngôi mộ ấy có thể là vài ngày, vài tháng, hay vài năm của người này. Nó cũng có thể là mấy chục năm cho người khác. Kẻ trước người sau đều đến nơi và đến chốn không ai phải vội vàng, chen lấn. Một chân lý khác nữa là trên con đường đi đến ngôi mộ, mỗi người phải trải qua những đoạn đường mà mình được hướng dẫn, hay tự mình chọn lấy với những lúc vui, lúc buồn, và lúc hạnh phúc. Nhưng bằng một cái nhìn tự nhiên, thì buồn nhiều hơn vui, bất hạnh hơn hạnh phúc. Đây là quan niệm chung và được coi như một chân lý tự nhiên,và được gọi là “bể khổ”, trong đó con người chìm lặn và chơi vơi giữa sóng gió đại dương mênh mông này.Thập giá hay thánh giá.
Nhưng Đức Kitô đã vào đời và giải thoát nhân loại khỏi cái nhìn bi quan và sầu khổ ấy. Ngài cũng đã bị nhào lặn, và cuốn trôi giữa biển đời muôn sóng gió ấy. Đoạn chót trước khi ngài vượt được đại dương khổ để đến bến bờ bình an, hạnh phúc là đoạn đường từ vườn Câu Dầu cho đến Núi Sọ.
Đau khổ và nhục hình. Đắng cay và thử thách. Ý ngài và ý Chúa Cha. Tất cả đã làm nên cây thập giá mà ngài phải vác lấy để rồi bị đóng đinh ở trên đó.
Thập giá: Đây là 2 cây gỗ gác ngang nhau. Ý nghĩa được diễn tả như những gì mà con người và cuộc đời thường trải gặp không hoàn toàn đúng với ý nghĩ, sở thích, và ước mơ của mình. Tiền định. Mệnh trời. Số mệnh. Quan phòng. Tất cả đều nói lên một điều là có những cái mình thích, mình muốn, mình ước mơ mà không được. Ngược lại, có những cái mà mình không thích, không muốn, và không tìm kiếm đời vẫn dâng tặng. Bể khổ hay thập giá là thế.
Bằng một cái nhìn tâm linh, thập giá kia chính là những khó khăn, vất vả, truân chiên, đau khổ mà con người phải chấp nhận trong cuộc sống như những thách đố và cơ hội để tiến lại gần hơn với thập giá Đức Kitô, và để cùng biến thành thánh giá cứu độ như thánh giá Đức Kitô.
Chúa Giêsu đã mang vác lấy thập giá này khi ngài vừa sinh ra trong cái chuồng bò hôi thối tại một đồng quê Belem rất lạnh giá. Ngài cũng đã mang vác lấy thập giá này khi phải trốn chạy sự lùng bắt của Hêrôđê ngay vừa lọt lòng mẹ mặc dù ngài không làm gì hại cho ông ta. Ngài cũng đã mang vác lấy thập giá này khi cả tuổi thơ vì gia đình nghèo không hề được cắp sách đến trường. Rồi bằng với nghề thợ mộc sống khó nghèo tại một làng quê Nagiaréth.
Thập giá của ngài kết thúc bằng một chọn lựa quyết liệt tại vườn Cây Dầu khi đối diện giữa ý Chúa Cha và ý của ngài. Giữa sống và chết. Giữa con người tự nhiên và Thiên Chúa toàn năng. Tiếp tục bằng những tra tấn dã man tại dinh Philatô, bằng những giây phút khắc nghiệt, và đau thương trên đường lên núi Sọ. Và sau cùng là bị lột trần truồng và bị đóng đinh vào thập giá ấy. Thập giá của cuộc đời!
Thánh giá:Nhưng cũng nhờ thập giá ấy. Nhờ thái độ chấp nhận. Và nhờ vào lòng tin tưởng tuyệt đối nơi Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu đã chiến thắng thập giá để biến trở thành thánh giá. Có nghĩa là từ những đau thương ấy, những bất công ấy, và kiếp sống đọa đầy ấy, Chúa Giêsu đã đem lại cho ý nghĩa cuộc đời một cái nhìn và triết lý sống mới. Biến thập giá thành thánh giá. Biến những cái khó hiểu, những cái làm cho khó chấp nhận giữa con người và Thiên Chúa thành những cái có thể chấp nhận được, và từ sự chấp nhận ấy đem lại cho đời sống một ý nghĩa tích cực, xây dựng, giải thoát, và đáng sống. Sai Baba đã nhận định về cuộc đời:
Đời là một bài ca. Hãy hát lên!
Đời là một ván bài. Hãy cứ chơi!
Đời là một thách đố. Hãy đương đầu!
Đời là một giấc mơ. Hãy thực hiện!
Đời là một hy sinh. Hãy dâng hiến!
Đời là một cuộc tình. Hãy thưởng thức!
Trong tuần Thương Khó và đặc biệt trong ngày Chịu Nạn, Chúa Giêsu bằng với thân phận con người, và qua việc chấp nhận thử thách đã hoàn tất cuộc đời đúng với nghĩa mà Sai Baba đã nói về con người và cuộc đời nhất.
Cuộc đời ngài là một bài ca tình yêu suy tôn và chấp nhận Thiên Ý. Ngài đã chơi ván bài cuối mà Satan và sự chết là những kẻ ngồi cùng chiếu bạc đã thách thức. Ngài đã đương đầu với mọi hiểm nguy và thách đố, mặc dù phải đổi bằng tính mạng. Ngài đã thực hiện đúng giấc mơ tự do và giải thoát con người mà ngài đã ôm ấp khi xuống trần. Ngài đã hy sinh dâng hiến đến giọt máu cuối cùng. Và sau cùng ngài đã thưởng thức, đã hãnh diện với kết quả của những hy sinh và cái chết của ngài.
Trên con đường lên núi Sọ, Chúa Giêsu đã gặp Mẹ Maria. Đã được Simêon phụ nâng thập giá. Đã được sự yên ủi từ tình thương cảm của Verônica. Nhưng chính ngài, ngài đã không quên đứng lại và an ủi những kẻ đang khóc thương cho ngài. Cuộc đời con người, và những thử thách không phải luôn luôn lúc nào cũng chỉ toàn bằng những nghiệt ngã, những bất hạnh. Trong những đau thương ấy vẫn thấy xuất hiện lòng nhân ái, tình thương và sự chia sẻ. Chúa Giêsu đã không bỏ qua những bóng mát cuộc đời ấy, những nâng đỡ phần nào giúp ngài vượt qua được những thử thách. Nhưng rồi, cũng chính ngài tự mình phải mang vác lấy thập giá, và để rồi bị đóng đinh vào thập giá ấy. Điều này Đức Gioan Phaolô II gọi là mầu nhiệm: “Mầu nhiệm đau khổ”. Có nghĩa là không thể lý giải bằng con mắt và phán đoán của trí óc tự nhiên. Nó chỉ được giải đáp và mang ý nghĩa đầy đủ khi nhìn lên Đấng đã ôm vác lấy mọi đau khổ và đã chiến thắng chúng.Thập giá cuộc đời.
Như vậy, từ nay những đau thương, những thử thách, và những vất vả cuộc đời sẽ không còn nhuốm mầu tang chế và tiêu cực nữa. Nó cần phải được hòa nhập và nhìn bằng con mắt khách quan hơn với những thử thách, đau thương của Chúa Cứu Thế. Bằng cặp mắt đức tin ấy, con người sẽ khám phá ra những ý nghĩa và giá trị đích thực của cuộc đời.
Nếu đấng vô tội, không hề mang tỳ vết của tội khiên, và không có lý do để phải khổ, phải đau đớn, và phải chết đã bằng lòng đi vào những thử thách, đau thương, và chấp nhận cái chết vì tôi, tôi cũng phải sống, phải chấp nhận, và phải mang vác lấy mọi thử thách cuộc đời như vậy. Dù muốn hay không muốn, đau khổ vẫn có đó. Hy sinh vẫn có đó. Thử thách, và cả đến cái chết cũng vẫn có đó. Dù tôi có đi đâu, hay ở chỗ nào. Dù tôi có làm gì, lãnh trách nhiệm nào. Và dù tôi có là ai đi nữa, tôi vẫn là đối tượng của những thử thách như thế.
Tóm lại, qua cuộc khổ nạn, đóng đinh và cái chết của Chúa Giêsu phải đem lại cho tôi một cái nhìn mới, một hiểu biết mới, và một sức mạnh mới về những thử thách, khó khăn, và bất công của cuộc đời. Để rồi, nhờ Đức Kitô và trong ngài, tôi an tâm đi giữa cuộc đời, nhìn đời, và đón nhận mọi thử thách cuộc đời bằng cái nhìn cứu độ, để từ đó biến thập giá đời mình thành thánh giá cứu độ.3-BÀI GIẢNG Tám Mối Phúc Thật TRÊN NÚI... SỌ.
TRẦN DUY NHIÊN
Càng đến gần Tuần Thánh, mọi người lại càng hướng về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, và cao điểm của hành trình thương khó là cái chết của Ngài trên thập giá. Thần học và truyền thống đã nói nhiều về những đau đớn thể chất và tinh thần của Đức Giêsu, Đấng muốn mang trọn vẹn thân phận của loài người để biến đau khổ thành ơn cứu độ... Những giáo lý và truyền thống đó vẫn còn nguyên giá trị.
Thế nhưng, Mùa Chay này, tôi bỗng nghĩ rằng mình phải trực tiếp lắng nghe tiếng Chúa chứ không thông qua một ai, dù cho đó là truyền thống đáng kính của Giáo Hội.
Tôi tự nhủ rằng giáo huấn của Thầy thì nhiều và câu nào cũng có giá trị, nhưng những lời cô đọng nhất ắt phải là những lời trối trăn khi cái chết gần kề. Thật như vậy, trên thập giá, mỗi câu nói của Chúa Giêsu không chỉ là bản tóm lược các giáo huấn của Ngài, mà còn nói lên rõ mồn một rằng Ngài đã sống những điều Ngài dạy từng giây từng phút trong trọn cuộc đời mình. Tôi đã biết nhiều người thầy dạy: ‘Hãy làm điều tôi nói, đừng làm điều tôi làm’. Tôi không đủ kiến thức để biết được từ cổ chí kim có bao nhiêu bậc thầy sống trọn vẹn điều mình dạy, nhưng khi lắng nghe những lời trăn trối của Thầy Giêsu, tôi biết rằng Thầy của tôi là vị thầy đã sống không sai một li những điều Ngài dạy dỗ các môn sinh mình. Thế rồi tôi khám phá một sự thật làm tôi ngỡ ngàng: Thập Giá là nơi mà hạnh phúc của Đức Giêsu lên cao đến tuyệt đỉnh, và từ đó tôi hiểu rằng cuộc đời của Ngài ở thế gian là một cuộc đời hạnh phúc.
Lời nói của tôi hẳn gây chói tai. Người ta ghi khắc trong đầu tôi một Đức Kitô bất hạnh giữa thế gian này, và rồi dạy tôi phải đối diện với cuộc đời với bộ mặt u sầu đau khổ nếu tôi muốn làm một môn đệ Chúa Kitô. Nhưng những lời trăn trối của Thầy buộc tôi phải nhớ lại Hiến Chương Nước Trời, một hiến chương đặt hạnh phúc của tôi lên hàng tối thượng.
Lời dạy dỗ đầu tiên được ghi lại trong Tân Ước là bài giảng mà Đức Giêsu thực hiện trên một ngọn đồi thành Ca-phac-na-um. Bài giảng khởi sự bằng tám mối phúc của một con người. Và nơi đồi Calvê, Chúa Giêsu cũng nói 8 lời, và mỗi lời đều chứng tỏ rằng Ngài đã sống từng mối phúc một. Chúa Giêsu đã đi đến tuyệt đỉnh của hạnh phúc nhân loại lúc Ngài hấp hối trên thập giá, bởi vì Bài Giảng Trên Núi Galilê đã được hoàn tất nơi Bài Giảng Trên Núi Sọ.
1. Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó: “Lạy Cha, Con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46)
Chúa Giêsu đã sống nghèo vật chất: ‘con chim có tổ, con cáo có hang, nhưng Con Người...’. Nhưng hơn cả nghèo vật chất, Ngài nghèo khó tinh thần. Ngài không có một ý muốn của Ngài, một tình cảm của Ngài, một lời nói của Ngài... Trọn đời Ngài, Ngài chỉ thực hiện ý muốn của Cha, chỉ truyền thông tình yêu của Cha, chỉ chuyển lại những lời Ngài nghe Cha nói. Người nghèo là một người hoàn toàn lệ thuộc một ai khác. Đức Giêsu hoàn toàn lệ thuộc Chúa Cha: ngay cả mạng sống, ngay cả linh hồn, Ngài cũng phó thác cho Cha... Trên thập giá, Ngài đã khó nghèo đến tuyệt đỉnh: Ngài hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.
2. Phúc cho ai hiền lành: “Này Bà, đây là Con Bà” (Ga 19, 26)
Chúa Giêsu là Đấng ‘hiền lành và khiêm nhường trong lòng’. Hành động Trên Núi Sọ cho thấy cách thể hiện cao độ của sự hiền lành đó. Ngài mong mỏi Đức Mẹ chia sẻ trọn vẹn cuộc khổ nạn của Ngài và trở thành Đấng “Đồng Công Chuộc Tội”. Thế nhưng đường Ngài đưa Mẹ đi vẫn là con đường hiền lành chứ không phải là con đường áp đặt thô bạo. Trước giây phút phải vĩnh viễn xa lìa người Mẹ, Ngài giao Mẹ cho người môn đệ yêu thương để nối tiếp mình chăm sóc Mẹ. Trên thập giá Ngài đã đòi hỏi Đức Mẹ đến tột độ trong một thái độ hiền lành cũng tuyệt đỉnh: Ngài đã có phúc đến tuyệt đỉnh.
3. Phúc cho ai sầu khổ: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con!” ( Mt 27, 46 ).
Ngài đã sầu khổ: sầu khổ cho những người bơ vơ như đàn chiên không chủ chăn, sầu khổ cho những người thấp cổ bé miệng bị gạt ra ngoài lề xã hội, sầu khổ cho những kẻ cứng lòng tin... Sầu khổ vì những kẻ nhân danh đạo đức lên án Ngài, sầu khổ vì một môn đệ phản bội Ngài, sầu khổ vì những tông đồ bỏ rơi Ngài, và nỗi sầu khổ cay đắng nhất là thấy chương trình của Cha dường như thất bại đến độ Người bỏ rơi Ngài và Ngài phải kêu van... dù cho lời kêu van ấy là câu khởi đầu cho một bài ca cảm tạ ngợi khen (Tv 22). Trên thập giá, Đức Giêsu đã sầu khổ đến tuyệt đỉnh: Ngài hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.
4. Phúc cho ai khao khát: “Tôi khát” (Ga 19, 28)
Trong cuộc đời Chúa, Ngài đã có lần khát nước thực sự, chẳng hạn bên bờ giếng ở Samaria... Nhưng điều Ngài khao khát nhất, ấy là khao khát sự công chính, khao khát các linh hồn. Ngài sẵn sàng trao máu mình để cho mọi người sống bằng sự sống của Ngài, thế mà đến cuối đời, có vẻ như không ai nhận lấy sự sống ấy: Cơn khát của linh hồn và cơn khát trong thể lý đã lên đến tột đỉnh trên Núi Sọ, khiến Ngài phải mở miệng than vãn lần đầu tiên và duy nhất trong đời: ‘Tôi Khát’. Trên thập giá, cơn khát của Ngài đã lên đến tuyệt đỉnh: Ngài đã hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.
5. Phúc cho ai có lòng thương xót: “Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng” (Lc, 23, 43).
Suốt đời, bất cứ lời nói hành vi nào của Ngài cũng đầy tâm tình xót thương. Chính vì lòng xót thương mà Ngài buộc phải làm phép lạ; chính vì xót thương mà Ngài đã khóc cho Lazarô và cho Giêrusalem, chính vì xót thương mà Ngài đã bảo vệ cho người nữ ngoại tình, chính vì xót thương mà Ngài đã tha thứ cho Phêrô trước khi ông chối Ngài... Nhưng lòng thương xót ấy đạt đến cao điểm khi Ngài hứa đồng hành về Thiên Đàng với một kẻ trộm mà không hề thắc mắc gì về tội lỗi của người ấy: Ngài chỉ biết rằng người ấy là một kẻ bị đóng đinh bên cạnh Ngài, như Ngài. Trên thập giá, lòng thương xót của Ngài đạt đến tuyệt đỉnh: Ngài đã hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.
6. Phúc cho ai có lòng trong sạch: “Này Anh, đây là Mẹ anh” (Ga 19,27)
Có lòng trong sạch nghĩa là không bao giờ có một ý nghĩ nào sai lệch. Người có lòng trong sạch là người mà lời nói luôn trung thực với ý nghĩ mình. Trong xã hội loài người, không thiếu gì trường hợp người ta nghĩ một điều mà lại nói một điều khác, vì cả nể, vì tư lợi, hay vì sợ hãi. Ngài là Đấng mà suốt đời ‘Có thì nói có và không thì nói không”. Khi trao phó thánh Gioan cho Mẹ mình, Đức Giêsu thực sự muốn Mẹ Ngài yêu thương Gioan như yêu thương chính Ngài, và qua Gioan, tất cả nhân loại trở nên thực sự anh em Ngài. Ý nghĩ tha thiết nhất của Ngài tuôn ra thành lời nói cũng thiết tha nhất. Trên thập giá, lòng trong sạch của Ngài đã lên đến tuyệt đỉnh: Ngài hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.
7. Phúc cho người xây dựng hoà bình: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” ( Lc 23, 34 )
Trong sứ điệp Mùa Chay năm nay, Đức Thánh Cha ghi lại một chân lý muôn đời: “Những biến cố trong cuộc sống hàng ngày chứng tỏ rõ ràng rằng sự tha thứ và hòa giải cần thiết biết bao cho sự canh tân cá nhân và xã hội” Muốn xây dựng hòa bình, bình an, điều đòi hỏi tối cao là phải tha thứ, và cái tha thứ khó thực hiện nhất là tha thứ cho kẻ làm hại mình. Chúa Giêsu xây dựng Hoà Bình bằng cách tha thứ, và hơn thế nữa, Ngài cầu nguyện để xin Cha cũng tha thứ cho họ. “Hãy yêu kẻ thù, và cầu nguyện cho kẻ bách hại”. Lời nói ngược đời này đã được chính Ngài thực hiện đến tuyệt đỉnh trên thập giá để kiến tạo hoà bình: Ngài hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.
8. Phúc cho kẻ bị bách hại vì lẽ công chính. “Mọi sự đã hoàn tất”. ( Ga 19, 30)
Cứ như thể Chúa Giêsu nói lời kết thúc cho bài giảng khởi sự trên núi Galilê và đến Núi Sọ mới chấm dứt. Cuộc đời Ngài là một cuộc đời bị bách hại vì lẽ công chính. Bị bách hại ngay từ ngày Ngài nhìn thấy đền thờ Cha Ngài ‘biến thành hang kẻ trộm’ và vắng bóng Thiên Chúa. Bị bách hại trong anh em nghèo khó của Ngài: ‘Ta đói các người không cho ta ăn, Ta khát các ngươi không cho Ta uống...’. Bị bách hại vì lời Ngài bị coi là chói tai và họ ném đá Ngài. Và để cho ‘mọi việc hoàn tất’ cuộc bách hại ấy đã đưa Ngài lên Núi Sọ. Trên thập giá, cuộc bách hại đã đi đến cùng, đã được hoàn tất: Hạnh phúc của Ngài ở đấy đã hoàn hảo.
Trong ngôn ngữ Phúc Âm, tuyệt đỉnh của hạnh phúc là được kết hiệp với Thiên Chúa, và sự kết hiệp này còn được gọi là ‘hưởng Nước Trời’ hoặc ‘chết cho xác thịt’. Và chúng ta lại thấy sự trùng hợp giữa những lời thốt lên ở cả hai ngọn núi. Tại Galilê, mối phúc của người nghèo khó (thứ nhất) và của người bị bách hại (thứ tám) được kết bằng : “vì Nước Trời (hiện nay) là của họ’. Trên Núi Sọ, lời ‘phó thác linh hồn’ (tương ứng với nghèo khó) và lời ‘mọi sự hoàn tất’ (tương ứng với bách hại) đều được tiếp nối bằng ‘rồi ngài tắt thở’.
Khi một người hấp hối thì không còn tâm trí đâu mà kìm hãm miệng lưỡi mình, điều khiển phản ứng mình; chính vì thế mà trên thập giá con người thật của Đức Giêsu được bộc lộ không che chắn: Tám Mối Phúc Thật toát lên qua 8 lời nói cuối cùng của Ngài, lúc Ngài hưởng niềm hạnh phúc tuyệt đỉnh. Những lời này làm chứng cho giáo huấn của Ngài: Hiến Chương Nước Trời là con đường để cho môn đệ Ngài cảm nhận hạnh phúc khi họ chịu đóng trên thập giá như Ngài.
Tôi biết rằng những suy tư của mình rất gượng ép, rất chủ quan, và không có một cơ sở thần học nào. Nhưng có một điều hẳn không chủ quan tí nào, đó là Chúa Giêsu trên thập giá đã đạt đến tuyệt đỉnh của hạnh phúc trần gian. Nếu thập giá chỉ là khổ đau thì Ngài đã không đem thập giá mà bắt môn sinh Ngài vác. Tại sao chúng ta cứ nhất định biến Thầy Chí Thánh của mình thành một tay sadist, một kẻ bạo tàn thích gây đau đớn cho những người mình thương? Chính thập giá là nơi duy nhất mà Kitô hữu sẽ tìm thấy hạnh phúc, với điều kiện là phải chấp nhật ‘trút linh hồn’. Cái mất mát lớn nhất của Kitô hữu là không nhìn thấy hạnh phúc của mình trên thập giá: họ tiếp tục sống đời sống của những người chưa bao giờ cảm nghiệm thập giá, để rồi rao giảng một Đức Kitô tách rời với thập giá, nghĩa là một Đức Kitô vô phúc.
Nếu đến giờ này chúng ta vẫn còn nghĩ rằng thập giá là điều khổ nhục mà mỗi Kitô hữu phải nai lưng gánh chịu, để đền tội (chẳng lẽ Chúa Giêsu chưa đền đủ?), để lập công (chẳng lẽ chúng ta được cứu nhờ công trạng mình chứ không phải nhờ Chúa Giêsu?) hầu mai sau được hưởng phước đời đời; nếu ta nghĩ như thế, thì có nghĩa là chúng ta chưa hiểu gì về tám mối phúc thật mà Chúa Giêsu đã sống; và tội nghiệp hơn nữa, chúng ta không cảm nhận được cái hạnh phúc tuyệt đỉnh nơi thập giá. Có lẽ vì thế mà thánh Phaolô đã lên tiếng kêu gào, khi ngài đang ở tù, đang bị đóng đinh, đang cảm nếm hạnh phúc: “Tôi đã nói nhiều lần và bây giờ tôi phải khóc mà nói lại: có nhiều người sống đối nghịch với Thập giá Đức Kitô” (Pl 3, 18)
Trong Tuần Thánh, và nhất là vào ngày Thứ Sáu Tôn Vinh Thánh Giá, Kitô hữu mọi nơi thường hát: ‘Vinh quang của ta là Thánh Giá Chúa Kitô, nơi Người ơn Cứu Độ của ta...” Lời hát này sẽ mãi là một ‘sáo ngữ’ ngày nào bạn và tôi chưa chịu đóng đinh với Chúa trên thập giá để cảm nếm được cái hạnh phúc tuyệt đỉnh của một người nghèo, hiền lành, đói khát, sầu khổ, trong sạch, bình an, xót thương và bị bách hại. Và nếu hạnh phúc Thánh Giá của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh - của hôm nay - chưa trở thành thành hiện thực trong mỗi một chúng ta, thì e rằng hạnh phúc Sống Lại của ngày Chúa Nhật Phục Sinh - của mai sau - sẽ chỉ là một ảo tưởng.