tlvd-1

tlvd-2

Chuyên đề số 03  Ngày 19.11.2006

Lời Giới Thiệu

Lên đường tìm kiếm Ngài quả thật là lắm gian nan!! Đôi khi chúng ta phải thốt lên
Nơi đâu con đã gặp Ngài.. (Benedictô Đỗ Quang Vinh)
Nhưng rồi sau cuộc hành trình gian truân vất vả, chúng ta có thể mỉm cười rạng rỡ
Thượng Đế “đã-đang-và sẽ” còn hiện hữu … (JB Bùi Ngọc Điệp)

NƠI ĐÂU CON ĐÃ GẶP NGÀI?

"Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất" (Luca. 19, 1-10) 

Bênêđitô Đỗ Quang-Vinh 

Nơi đâu con đã gặp Ngài? Khi nào Ngài đã đoái-hoài gọi con?
Giờ soi trong ánh hoàng-hôn, Mới hay Ngài vẫn ở gần bên con.

            Ngày ấy lúc chuông thánh-đường còn ngân vang, khi lời kinh bình-an vẫn râm-ran chưa dứt, con nghe tiếng vọng từ vun-vút trời cao: Ngài gọi con vào. Con khóc chào đời giữa tiếng nói cười mừng reo rối-rít.
Ngài cho con mở mắt, thấy  không-gian chi-chít lối ra vào: cười khóc xôn-xao, ồn-ào tấp-nập. Con ngó trước nhìn sau: những bước chân dồn-dập đi mau. Ngài cho con thuốc màu "năm tháng", con vẽ dáng hình con chập-chờn, thấp-thoáng theo giòng thăm-thẳm thời-gian.

            Ngày ấy khi sương đêm vừa tan, không-gian chan-hòa nắng ấm, đất trời đầy ắp hân-hoan: Ngài gọi con vào đoàn, đoàn chiên Ngài chăn dắt.
            Ngài cho con muối đất, con ướp chát tim con, cho lòng son thắm mãi. Ngài dạy con lái thuyền nhân-ái theo giòng mặn đắng thời-gian.
            Ngài cho con Lửa hồng, con đốt cháy hồn con, cho đời con thắp sáng; Ngài dạy con làm đèn sáng thế-gian.

            Trong lớp học, sau những buổi trường tan, Ngài lẫn trong đám bạn-bè hỏi-han trò-chuyện.
            Ngài ở giữa chúng con trong những buổi cầu nguyện sớm  hôm.
            Ngài cùng con đi hái hoa thơm ngắt lá,
Dâng lên Mẹ hiền, dâng tất cả đời con.
            Ngài cùng con đi trên đường mòn sỏi đá.
Ngài cho con Thánh-Giá làm kỷ-niệm.
            Ngài luôn-luôn hiện-diện khi đời con chuyển-biến.
            Ngài cùng con chung chuyến lữ-hành vượt biển thời-gian.

2

            Từ lúc sương mai còn quyện ánh bình-minh lung-linh tình yêu chan-chứa, đến khi chiều vàng úa tàn thoi-thóp hắt-hiu, Ngài ẩn sau những khuôn mặt đăm-chiêu dập-dìu đi qua cuộc sống:
            Thống-khổ tù đày,
            Tủi nhục đắng cay,
            Trắng tay xơ-xác,
            Đói khát bơ-vơ;
            Những thân gầy côi-cút trẻ thơ,
            Những mái đầu bạc phơ ủ-rủ,
            Những lưng còng ngày đêm lam-lũ,
            Những giếng mắt lệ dâng ứa tràn,
            Những chiếc xe lăn tất-tả bên lề giòng đời yên-hàn no đủ,
            Nhăng chiếc nạng gõ nhịp cho tấm thân mòn lăn-lóc với thời-gian,
            Những người thất-thểu lang-thang,
            Một đời bạc-bẽo khát mong tình người,
            Trên môi tắt ngấm nụ cười,
            Cả đời mong ánh mặt trời rọi soi.                           
            Con đã làm gì? Ngài ơi!
            Con đã làm gì cho những con tim tả-tơi rách nát?
            Con đã hắt-hủi làm ngơ.
            Con đã thờ-ơ lãnh-đạm.
            Con chẳng dám tiếp một ai.
            Thì ra con đã bỏ Ngài,
            Thì ra con đã phí hoài thời-gian.
            Thời-gian làm vốn hành-trang,
            Lãi lời chẳng có, vốn càng hụt hao.
            Bây giờ biết tính làm sao?
            Hoàng-hôn sắp tắt đi vào bóng đêm.

3

            Con lạy Chúa Chiên,
            Con biết Ngài nhân-hiền đại-độ. 
            Xin Ngài hãy dừng cơn thịnh-nộ, 
            Xin khoan-hồng nâng đỡ hồn con.
            Xin đừng để cho hoàng-hôn vụt tắt,
            Cho con chuộc tội làm khí-cụ bình-an:
            Đem hân-hoan vào nơi u-uất,
            Đem lời Ngài đến tất cả muôn dân.

            Lạy Chúa khoan-nhân!
            Khi nào khép cửa không-gian,
            Xin Ngài mở lối Thiên-Đàng cho con.
            Thân con dầu đã héo-hon,
            Nguyện đem nước mắt rửa mòn lối đi.
            Con nắm áo Mẹ từ-bi,
            Ngài đâu nỡ đuổi con đi, hở Ngài?
           
(Trích Tin Yêu, thơ kinh ĐQV, Toronto, 1995)

Giới thiệu

THƯỢNG ĐẾ “đã-đang-và sẽ” còn hiện hữu

JB. Bùi Ngọc Điệp 

I. MỞ ĐẦU:
            Đã là người ở trên đời, hầu hết ai cũng có trí khôn (kẻ ít, người nhiều), dầu là người đời xưa hay đời nay, trong thế giới tự do hay sau bức màn sắt, trình độ cao hay thấp, đàn ông hay đàn bà… “Con người là một con vật hữu tri” các triết gia đã chứng minh như vậy
            Vì thế. Loài người vẫn đang nỗ lực không ngừng để truy tìm về “nguồn gốc” của mình và đồng thời cũng đang không ngừng nghiên cứu về nguồn gốc của vũ trụ. Chính những nỗ lực này đã làm nảy sinh bao vấn đề nan giải khác, như: hệ tư tưởng, trường phái, tôn giáo, bảo vệ tôn giáo, ly khai tôn giáo… dẫn đến trăm ngàn sự mâu thuẫn, bất đồng và trong đó có cả chiến tranh tôn giáo “chiến tranh nóng và chiến tranh lạnh”. Trước những vấn nạn đó, một trong những câu hỏi đã được đặt ra là: “Có Thượng Đế thật không?; “Đâu là nguồn gốc của vũ trụ?”; “Đâu là nguồn gốc của con người?” và đi xa hơn nữa “Đâu là cùng đích tuyệt đối, là cứu cánh của con người?”, v.v… Đó là những câu hỏi làm cho kẻ tin nghi ngờ và làm cho những ai muốn tin nên cớ xa rời đức tin.
            Một thực tại cho chúng ta thấy rằng, khắp nơi trên thế giới, loài người theo tôn giáo dưới mọi hình thức. Có khi cả những người tự xưng mình là Công giáo, là Phật giáo mà đời sống của họ lại như không có đạo nào hết. Số người như thế rất đông, và ở đâu, thời đại nào cũng có. Nhưng số người hoàn toàn vô thần, nghiã là không tin vào thần quyền cũng thấy có, mà là số ít. Trong trăm người may ra có một-hai người.
            Cũng có những người miệng rêu rao mình vô thần, nhưng thật sự lòng vẫn tin tưởng vào một sức mạnh thiêng liêng; nói cho đúng ra, họ vẫn tin tưởng có một vị thần, vị Chúa ở trên họ; nhất là những lúc gặp phải tai bay vạ gió, họ vẫn cầu trời vái đất, đi chùa, khấn đền và cầu nguyện… Chứng tỏ rằng trong lương tâm của mỗi con người vẫn bằng một cách nào đó đang tự khẳng định mình có một nguồn gốc; “một nguồn gốc thực sự và tuyệt đối” chứ không thể mơ hồ được.

II. CÓ THƯỢNG ĐẾ THẬT KHÔNG?
            Trong cuộc sống, con người không chỉ hướng về những thực tại trần thế trước mắt, nhưng còn hướng về những điều cao siêu, huyền diệu như một hành trình khát khao tìm kiếm chiều sâu ý nghiã của cuộc đời và lẽ sống của chính mình. Nhưng trong hành trình tìm kiếm ấy, điều thường gây nên những bất đồng nhất đó chính là “quan điểm”. Nói đến đây, xin được kể lại một câu chuyện như sau: Nhà bác học Eisntein sau một chuyến du hành Châu Âu trở về, Ông được một ký giả chất vấn rằng: “Thưa bác học, ngài có tin rằng có Thiên Chúa thật không?”. Bác học Eisntein trả lời: “Trước hết, anh hãy định nghiã cho tôi biết anh hiểu Thiên Chúa là gì đã, và tôi sẽ nói cho anh biết là tôi có tin Thiên Chúa hay không!” Như vậy, câu trả lời có Thượng Đế hay không? Và nếu có thì có như thế nào? lại tùy thuộc vào quan điểm của mỗi người về Thượng Đế, “một hạn từ quả là hạn hẹp” không đủ để đặt tên cho một Đấng “vô hình và siêu việt…” nhưng dẫu sao đó cũng là một hạn từ mang tính ước lệ.
            Nếu hiểu Thượng Đế như một “tuyệt đối thể” thì có thể nói là chưa có triết gia nào từ chối cả. Ở đây có thể hiểu tuyệt đối thể là nguyên động lực của thế giới vật chất, là Chúa của hoàn vũ, mọi vật đều quy phụng về Ngài.
            Nếu hiểu Thượng Đế theo hạn từ “Deisme” có nghiã là “Tự nhiên Thần luận” thì Thượng Đế được công nhận như một Đấng hiện hữu trên cõi cao xanh, chẳng mấy liên hệ gì với cuộc sống con người.
            Nhưng nếu hiểu Thượng Đế theo quan niệm của hạn từ “Theisme” thì Thượng Đế ấy mới chính là Đấng can thiệp vào đời sống nhân loại bằng quyền năng, bằng ý muốn, bằng ơn phúc và bằng sự công chính của Ngài.
            Còn trong quan niệm của thần học Kitô giáo, ta cũng thấy có những tính chất của Thiên Chúa rất khó dung hợp với nhau: một Thiên Chúa là “hiện hữu thuần túy” lại cũng chính là Thiên Chúa đang thực hiện một chương trình yêu thương đối với thụ tạo; một Thiên Chúa công chính và công bình lại không thể như một bộ luật, nhưng phải đồng thời là “Thiên Chúa có ngã vị” để có mối tương giao vị thể, riêng biệt đối với mỗi nhân vị. Một Thiên Chúa vượt trên thời gian lại can thiệp vào lịch sử để trở thành Thiên Chúa Nhập Thể.
            Và trong dân gian, người ta thường suy luận theo phương pháp quy nạp, nghiã là suy từ những hậu quả để tìm ra nguyên nhân. Chúng ta hãy xem, nhiều khoa học gia tên tuổi cũng đã dùng kiểu suy luận này. Chuyện kể rằng: Một đêm kia, ông Isaac Newton đi bách bộ với một người bạn. Trên đầu họ là một bầu trời sao rực sáng. Hai ông bàn luận về tôn giáo. Ông bạn hỏi Newton: “anh có thể chứng minh cách vắn tắt rằng, có Thượng Đế hay không?”. Newton đưa tay chỉ sao trời và trả lời vỏn vẹn một tiếng: “Hãy nhìn kià!”.
            Còn nhà triết học đại tài người Đức tên là Schopenhauer, là một triết gia chủ thuyết vô thần. Trong lúc ông lâm bệnh và nằm trên giường bệnh, ông đau đớn và kêu lên rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa!”. một trong số môn đệ của ông nghe thấy thì hỏi rằng: “Kêu Chúa, kêu Trời làm chi!, triết lý của ông dạy không có Trời kia mà?”. Schopenhauer trả lời: “Nếu không có Trời, nguyên triết lý mà thôi không thể chịu nổi trong cơn đau khổ. Nếu khỏi bệnh, tôi sẽ sửa lại triết lý”.
            Con người có trí khôn, biết suy nghĩ tìm tòi cho ra căn nguyên sự vật. Sống bên cạnh đứa nhỏ, ta thường nghe nó hỏi, nhiều khi phải sốt ruột: “Cái gì vậy?; sao vậy?…” rồi lớn lên mỗi khi nhìn thấy một việc lạ liền tìm hiểu, và bao lâu chưa được giải thích, nó vẫn cứ thắc mắc. Cụ thể là, khi ta quan sát từ thụ tạo đến Tạo Hóa, hay từ quả đến nhân (theo cách nói của khoa học): Thấy một em nhỏ, dầu không thấy cha mẹ chúng, ta cũng biết nó có cha mẹ; thấy một cái nhà, dầu không thấy ông thợ làm ra, ta cũng biết có người thợ tài tình ấy. Nhìn vào vũ trụ cũng thế, trên có mặt trời, mặt trăng, muôn vàn tinh tú; dưới đất có loài người, cầm thú, thảo mộc, biển rộng bao la, rừng sâu thăm thẳm,… dầu không thấy Tạo Hóa, ta cũng biết có Đấng toàn năng đã dựng nên.
            Vâng. Qua những dẫn chứng trên, chúng ta đã có lý do để nói rằng: Loài người đều tin có Thiên Chúa, và xưng gọi Người bằng những danh xưng khác nhau như: Ông Trời, Thượng Đế, Tạo Hóa, Thiên Chúa, Bề Trên… và vẫn có nhiều người chẳng hiểu rõ Ông Trời, Thượng Đế, Tạo Hóa, Thiên Chúa, Bề Trên… đó là ai và ai là chính thật Ông Trời?. Cho là họ lầm về bản tính của Ngài như thế, thì dù sao những cách gọi khác nhau ấy cũng chỉ là một cách gọi khẳng định Thiên Chúa của mình mà thôi.

III. TƯƠNG QUAN THƯỢNG ĐẾ VÀ CON NGƯỜI:
            Một triết gia và là một nhà hùng biện nổi tiếng (Augustin) đã viết: “Thượng Đế dựng nên chúng con cho Thượng Đế, và lòng chúng con không yên cho tới khi được nghỉ yên trong Thượng Đế”. Vâng, không chỉ riêng cho con người mà tất cả mọi loài thụ tạo đều phải có một sự chuyển tiếp nào đó, nghiã là phải có một sự giàn xếp đều hòa, nhịp nhàng như một nhạc điệu thăng trầm. Mỗi một vật có một xu hướng riêng về một vật khác; xu hướng con người là ý chí phải hướng về tuyệt đối, và cái đích tột cùng của cuộc tiến hóa trong đại vũ trụ này là con người tiến về cứu cánh tuyệt đối của mình. Đó chính là sợi dây tương quan tuyệt vời giữa Thượng Đế và con người.
            Muốn đạt tới Thiên Chúa, lý trí phải đi từ điều gì là đối tượng riêng của nó. Mà đối tượng của Thiên Chúa chính là Tình yêu, Ngài không là một Thiên Chúa cách biệt với con người. Nếu Thiên Chúa không có tên, không cho con người gọi tên; hay nói cách khác, con người không có một quy ước chung để gọi tên Thiên Chúa, thì có lẽ mọi nghi lễ, mọi lời cầu xin sẽ giống như những bức thư được gởi đi mà không có địa chỉ. Thiên Chúa là Tình yêu, mà tình yêu là thông ban, do đó Thiên Chúa không thể không ban tên Ngài và chính Ngài cách riêng cho loài người mà Ngài yêu thương. Người Dothái gọi Thiên Chúa là “Yavê” thật là có lý; vì Yavê có nghiã là: “Ta là Ta, là Đấng đang ở với các ngươi, yêu thương ngươi, bảo vệ ngươi”.
            Thiên Chúa là tình thương và tình thương này còn dạy cho ta biết rằng: đó là cùng đích của tất cả những gì hiện hữu, và không một hữu thể nào hiện hữu độc nhất vì mình mà thôi, nhưng vì một kẻ khác, vì tất cả những người khác, bắt đầu từ chính hữu thể của Thiên Chúa, Ngài vốn là dào dạt tinh tuyền. Do đó, tương quan Thiên Chúa với con người còn là “tương quan tình yêu” siêu việt; siêu việt như chính Thiên Chúa vậy.

IV. NHẬN ĐỊNH:
            Từ khi con người biết suy tư, biết tìm kiếm chân lý, và khám phá về cuội nguồn của mình, thì đồng thời con người cũng khao khát tìm kiếm một nguyên nhân đệ nhất, đích thực của mọi sự hiện hữu, mà ta thường gọi là Thượng Đế (một hạn từ không xứng đáng với tên gọi của Ngài, nhưng dẫu sao đó cũng là quy ước). Cho đến nay dù văn minh nhân loại đã tiến xa vượt bực, nhưng người ta vẫn không thể chứng minh Thiên Chúa một cách thoả mãn được. Tuy nhiên dựa vào phương pháp nối kết hậu quả với nguyên nhân, như một dây xích có một khởi điểm, mà người ta gọi là nguyên nhân đệ nhất để đồng hóa với Thiên Chúa. Nhưng lý trí không chịu để cho mình ngừng lại trên con đường này, và khi người ta nói rằng chuỗi liên tiếp những nguyên nhân không thể giải quyết được; vì chuỗi nguyên nhân liên tiếp ấy xảy ra trong thời gian, mà Thiên Chúa thì hằng hữu; do đó Ngài không đi vào trong chuỗi liên kết mà lý trí quan sát được trong thiên nhiên. Vậy chúng ta phải hiểu nguyên nhân đệ nhất theo cách nào đây? Có lẽ chúng ta cần hiểu “Nguyên Nhân Đệ Nhất là Thượng Đế” theo nghiã triết học, nghiã là một nguyên nhân nằm ngoài mọi quy luật của vũ trụ; nằm ngoài vòng mắt xích của chuỗi nguyên nhân. Nguyên nhân đó là Chân-Thiện-Mỹ tuyệt đối, không lệ thuộc vào mắt xích nào. Nguyên nhân đó là Thiên Chúa.
            La Bruyère khẳng định rằng: “Tôi muốn thấy một người tiết độ, trong sạch và công bằng, tuyên bố không có Thiên Chúa. Người như vậy không thể có trên đời”. Phải rồi, nếu con người từ chối sự hiện hữu của Thiên Chúa, thì chắc chắn cũng từ chối công trình của Ngài, và như vậy con người sẽ không có nguyên nhân và cùng đích tuyệt đối. Nghiã là cũng chối luôn cứu cánh của cuộc nhân sinh. Nếu chối bỏ cứu cánh của cuộc nhân sinh thì mọi mục đích, mọi điều thiện của con người và mọi hành vi nhân tính đều tiêu ma. Nếu chối bỏ cứu cánh của cuộc nhân sinh tức là công nhận một chuỗi vô tận những mục đích của các hành vi nhân tính. Và công nhận một chuỗi vô tận những mục đích của các hành vi nhân tính thì mọi mục đích của đời sống con người sẽ tiêu ma, tiêu ma mọi điều thiện, tiêu ma mọi hành vi nhân tính. Do đó, con người dù có làm gì thì cũng chẳng có ý nghiã gì.
            Vậy Thượng Đế của chúng ta không bao giờ là một huyền thoại, nhưng là Thượng Đế “đã-đang-và sẽ” còn hiện hữu để nâng đỡ, sẻ chia với con người trong từng hơi thở, từng nỗi đau, từng giây phút hạnh phúc… của kiếp sống nhân sinh. Thượng Đế ấy cùng bước đi đồng hành trong lịch sử và với lịch sử loài người. Còn con người thì luôn luôn khao khát trên con đường tìm kiếm nguồn gốc của mình, cũng chính là tìm kiếm Đức Chúa của cuộc nhân sinh. Chắc chắn họ sẽ gặp được Ngài bằng ơn gọi và sự hướng dẫn của lương tâm mà Thượng Đế đã phú bẩm cho mỗi con người. Họ sẽ gặp và nhận ra Thượng Đế trong yêu thương và bình an.

V. LỜI HAY Ý ĐẸP – THAY LỜI KẾT:
            - “Không thể có đồng hồ mà không có thợ đồng hồ” (Voltaire).
            - “Giơ tay ra chỗ nào, tôi cũng thấy mình bơi lội trong ánh sáng huy hoàng của Thiên Chúa” (Nhà văn hào claudel).
            - Ông Edison khi leo lên cây tháp Effel đến đỉnh cao 300 thước, ông đã viết vào cuốn sổ vàng rằng: “Edison, người rất kính trọng và cảm phục những nhà kỹ sư, trong số đó có cả Thiên Chúa”.
            - “Tôi tin Thượng Đế tự tạo ra Ngài (nghiã là tự mình mà có), chớ không phải Thượng Đế do con người tạo ra” (Anphonse Karr).

Giới thiệu