tlvd-1

tlvd-2

Số 42  Ngày 19.01.2007

Lời Giới Thiệu

Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề.. Đặt vấn đề.. Một cánh cửa đầu tiên hé mở vào thế giới Linh Đạo mênh mông…

Tâm Linh Vào Đời xin gởi tới quý độc giả một vấn đề rất đời thường
Nhưng cực kỳ quan trọng: Hiện nay, làm cách nào để Lời Chúa ứng nghiệm nơi tôi?
Lời Chúa ứng nghiệm nơi tôi: Lung Linh
Nghe Chúa giảng: Trần Mỹ Duyệt
Giáo Hội có mấy con trâu: Linh Kỳ
Giờ Thiên Chúa đã điểm: Giuse Trương Đình Hiền

Lời Chúa Ứng nghiệm nơi tôi

Lung Linh
Có nhiều câu Kinh Thánh nói về việc ứng Nghiệm. Chúng ta có thể xếp làm hai nhóm chính:

1. Ứng nghiệm với bản thân Đức Giêsu

Mt 1:22   22 Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ : 23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”
Mt 2:15   15 Ông ở đó cho đến khi vua Hê-rô-đê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ : Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập.
Mt 2:23   23 và đến ở tại một thành kia gọi là Na-da-rét, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng : Người sẽ được gọi là người Na-da-rét
Mt 21:4   4 Sự việc đó xảy ra như thế để ứng nghiệm lời ngôn sứ : 5 Hãy bảo thiếu nữ Xi-on : Kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ.
Ga 19:24   24 Vậy họ nói với nhau : “Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được.” Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh : Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm.
Ga 19:36   36 Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh : Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập.

2. Ứng nghiệm với Đức Giêsu và cho một số môn đệ đích thực của Thầy Giêsu.

Những người nhận ra mình là con yêu dấu của Chúa, nhận ra Thần Khí Thiên Chúa hiện diện sống động ngay trong tâm mình. Và họ đang Loan báo Tin Mừng khắp nơi, bằng những phương thế khác nhau…lời nói, việc làm hoặc âm thầm cầu nguyện…
Cv 2:18  Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ Thần Khí Ta cả trên tôi nam tớ nữ của Ta, và chúng sẽ trở thành ngôn sứ.
Mt 12:17   17 Như thế là để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói : 18 Đây là người Tôi Trung Ta đã tuyển chọn, đây là người Ta yêu dấu : Ta hài lòng về Người. Ta cho Thần Khí Ta ngự trên Người. Người sẽ loan báo công lý trước muôn dân.
Mt 13:35   35 hầu ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ : Mở miệng ra, tôi sẽ kể dụ ngôn, công bố những điều được giữ kín từ tạo thiên lập địa.

3. Ứng nghiệm với mỗi người trong chúng ta trong quá khứ và trong hiện tại

Trong quá khứ:
Trước kia, khi tôi đã từng đọc Kinh Thánh, đã từng nghe giảng, đã từng chia sẻ Lời Chúa với nhau hàng tuần..nhưng nghe tai nọ qua tai kia, hoặc chẳng hiều ý Chúa muốn nói gì, Tệ hại hơn nữa, tôi nghe  hoặc đọc ở đâu đó, thế là chia sẻ có vẻ ngon lành lắm ..nhưng tòan là ý tưởng của người khác còn chính tôi thì chẳng cảm nhận đuợc gì.. Vì thế,  nói thì hay lắm nhung chẳng bao giờ áp dụng được điều mình đã vung vít chia sẻ…
Lúc đó, quả thật là ứng nghiệm những Lời Chúa sau đây:
Mt 13:14   14 Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a, rằng : Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy ;
Trong hiện tại
May mắn thay, một số người trong chúng ta đã dành thời gian đặt vấn đề, suy tư, tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu, khám phá, đón nhận và thực tập sống ..dần dần ánh sáng của Thần Khí Thiên Chúa bắt đầu như những đốm lửa đóm đóm..rồi ngày càng sáng hơn cho tới lúc ánh sáng bừng lên
Mt 4:14   14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a nói : 15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại ! 16 Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
Không phải là ánh sáng mặt trời nhưng là Ánh sáng lung linh huyền diệu:
Cv 2: 9  Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền.
Và tới một lúc nào đó không chỉ mình Đức Giêsu mà còn cả chúng ta nữa tất cả là ánh sáng thế gian
Ga 8:12 "Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống."
Mt 5:14  "Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được.
Phần chia sẻ ngắn ngủi này bùng lên một VẤN ĐỀ  thật quan trọng và khẩn thiết:
Vấn đề tiên quyết là việc Ứng Nghiệm không những xảy ra cho Đức Giêsu, các thánh mà cả mỗi người trong chúng ta nữa.
Nhưng khi nào Lời Chúa mới ứng nghiệm với tôi ngay tại cuộc sống trên trần gian này??
Lời Chúa chẳng bao giờ ứng nghiệm cho người sống tà tà, ai sao tôi vậy. Amen.
Hoặc nếu có ứng nghiệm thì đó là sự ứng nghiệm rất tiêu cực và vô giá trị như: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy ;
Lời Chúa cũng chẳng ứng nghiệm tích cực với người ai cho mình là đạo đức đủ lắm rồi.. đạo đức hơn hàng vạn người…khi dựa vào một số việc đạo đức thường ngày như đi lễ, đọc kinh, lần hạt…thậm chì hy sinh thời gian tiền bạc dấn thân Loan báo Tin Mừng bằng những bài vở bề trên sọan sẵn, cứ thế là nói như máy phát thanh không hồn..trong khi chính mình không cảm nhận được một chứt gì. Rõ ràng Lời Chúa không ứng nghiệm nơi mình thì làm sao có thể giúp ứng nghiệm nơi anh em được???
Hẳn chúng ta ta còn nhớ một câu Kinh Thánh nghe rất xót xa và có vẻ tàn nhẫn và cực kỳ bất ngờ.. dành cho những ai đang hăng say phục vụ cho công trình của Chúa.. mà lại chẳng quan tâm tìm kiếm và sống với Chúa ngay trong tâm mình…
Mt 7:22-23  Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng:
"Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao? "
23 Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!
Lời Chúa sẽ chắc chắn ứng nghiệm cho những ai biết đặt vấn đề Đức tin của mình, lối sống đạo hiện nay của mình.. rồi từ đó lên đường tìm kiếm Chúa..cuối cùng người đó sẽ xác tín rằng:
Lc 11: 9,13  Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho… 13 Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao? "
Tóm lại, nếu chúng ta chưa một lần cảm nhận Lời Chúa ứng nghiệm nơi mình – điều đó nói lên rằng chúng ta chưa sống đạo đích thực. và bước đầu tiên là đặt vần đề. Thí dụ như:
Tôi đi lễ để làm gì?
Tôi rước Chúa để làm gì?
Tôi xưng tội hàng trăm lần rồi, nhưng tại sao vẫn chứng nào tật ấy???
Tôi rước Chúa hàng ngàn lần rồi mà sao cuộc sống đạo tôi vẫn tà tà như xưa?
Tôi đọc Kinh Thánh hàng ngày, chia sẻ Lời Chúa hàng tuần cả chục năm rồi mà sao cuộc sống tâm linh tôi vẫn ỳ ạch tại chỗ cũ, chẳng tiến bộ được một chút nào???
Để tìm ra câu trả lời đòi hỏi phải quyết tâm, miệt mài, bền chí tìm kiếm..chắc chắn sẽ bắt gặp…
Lúc đó, chúng ta có thể mỉm cười với lòng mình: Hôm nay Lời Chúa đã ứng nghiệm nơi tôi…vui sướng biết bao!!!

Lời Giới Thiệu

NGHE CHÚA GIẢNG

Trần Mỹ Duyệt

Thỉnh thoảng bạn và tôi nghe nói linh mục này, linh mục kia giảng hay và hấp dẫn. Nhiều linh mục ngoài tài hùng biện, còn có cả lòng đạo đức nữa nên đã thu hút và đánh động lương tâm nhiều người nghe. Ít nhiều trường hợp khác, chúng ta cũng được nghe một số vị giám mục giảng. Nhưng nghe Chúa Giêsu giảng thì  tôi tin chắc cả bạn và tôi chưa bao giờ được nghe, bởi lẽ rất giản dị là ngài đã về trời và không còn giảng nữa.  Và vì thế tôi đã tìm đọc trong Thánh Kinh, nhất là Tân Ước là những sách viết về cuộc đời Chúa Giêsu hy vọng có thể tìm xem trong thời gian rao giảng Tin Mừng, ngài giảng giải như thế nào?
Theo Tin Mừng kể lại thì Chúa Giêsu giảng giải “như đấng có quyền”.
Phần lớn những buổi thuyết giảng của ngài đều nhắm vào thành phần thính giả nghèo, bình dân, đơn sơ, và khiêm hạ. Do đó, ngài thường dùng những thí dụ rất điển hình như người đi gieo giống, như nhóm thợ gặt, như cây nho, cây vả, như con chiên, con bò, và cả con lợn để đưa vào những thí dụ của ngài.
Tuy vậy, có nhiều lần những bài giảng của ngài mang ý nghĩa thâm sâu, khó hiểu, đến nỗi đối với nhiều người còn là một cái gì khó nghe và chói tai nữa. Thí dụ, khi nói về phép Thánh Thể, ngài đã dùng hình ảnh bánh và gọi bánh ấy là thân xác ngài. Người nghe phần lớn không hiểu gì: “Lời gì chói tai thế, ai nghe cho được” (Gio 6: 60).
Tóm lại, Chúa Giêsu giảng đôi lúc cũng bị phê bình, chỉ trích và ngờ vực như Tin Mừng đã ghi: “Đây không phải là Giêsu con ông Giuse sao? Chúng ta lại không biết cha mẹ ông đó sao? Làm sao ông ấy có thể nói là mình từ trời xuống?” (Gio 6:42). Và nhiều người trong đó có cả những môn đệ ngài đã bỏ ngài.
Trở lại bài giảng đầu tiên mà ngài giảng tại hội trường của làng ngài, mặc dù lúc ấy theo thánh ký ghi nhận ngài đã được nổi danh tại nhiều nơi, nhưng khi về đến quê hương, bài giảng đầu tiên của ngài đã gặp phải sự chống đối, và ngờ vực. Ngài đã gặp thất bại! Người nghe đã tỏ ra ơ hờ, và mặc dù có những người khen, nhưng không thiếu kẻ hoài nghi: “Đây không phải là con ông Giuse sao?” (Luc 4: 22), họ đã hỏi nhau một cách mỉa mai như thế.
Vậy ngài đã giảng những gì? Thánh sử Luca ghi lại rằng ngài vào hội trường Nagiaréth, và công bố lời của Thiên Chúa: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Ngài đã xức dầu và sai tôi đi mang tin vui cho những kẻ nghèo khó, công bố sự giải thoát, chữa lành người mù và giải cứu kẻ tù tội, công bố năm hồng ân của Thiên Chúa” (Luc 18-19). Nhưng có lẽ điều làm dân làng ngài khó chịu và không chấp nhận bài giảng, đó là câu ngài tuyên bố sau khi đã gấp sách lại: “Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các người vừa nghe” (Luc 4:21).
Chúa giảng như vậy thì bị phản đối là cái chắc. Chúa không tâm lý tí nào cả. Phải chi ngài chỉ ông này, ông kia trong hội trường mà nói là những lời ấy trở nên ứng nghiệm nơi họ, nơi dân làng của ngài. Họ là những người quan trọng, và dân làng ngài cũng toàn là những người quan trọng. Giảng như vậy, ngài sẽ được dân chúng vỗ tay và hoan hô. Hoặc trước khi giảng, ngài kể một câu truyện vui, hay làm một phép lạ, như vậy sẽ thu húc và chinh phục người nghe biết mấy. Nhưng vì ngài lại nhận lấy tất cả những vinh dự ấy về cho mình, nên họ ghen và khó chịu: “Đây không phải là con ông Giuse sao?” (Luc 4:22). Và có lẽ sự bực tức, lãnh đạm và tẩy chay hôm đó lên cao lắm nên chính ngài đã phải tự mỉa mai mình: “Tiên tri không được rạng danh nơi quê hương mình” (Luc 4:24).
“Đây không phải là con ông Giuse sao?”  Nghe có vẻ ghen tỵ, có vẻ kiêu căng và tự phụ. Con ông Giuse thì sao? Không lẽ hễ là con ông Giuse thì không làm gì khác hơn nghề thợ mộc sao? Và đó là thái độ chúng ta cần phải có mỗi khi nghe Chúa nói với chúng ta trong Thánh Kinh, trong sách vở, và ngay cả trong khi nghe các linh mục giảng. Chúng ta đừng tìm kiếm lợi khẩu, thông thái, và sức thu hút hấp dẫn nơi các nhà giảng thuyết, vì thực tế không có mấy nhà giảng thuyết có hội đủ những tiêu chuẩn ấy. Và chúng ta cũng đừng hy vọng nhiều về những nhà giảng thuyết vừa có tài lại vừa có đức. Con số này có nhưng rất hiếm.
Nhưng chúng ta cần đến với Chúa Giêsu bằng cặp mắt của các mục đồng, của Ba Vua, của Simêon, Anna, và của Gioan Tiền Hô: “Đây là chiên thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Gio 1:29). Chúng ta cũng phải dùng cặp mắt đức tin để nhìn ra ngài và những ân huệ của ngài như vậy. Nhìn nhận và khám phá ra điều mà ngài muốn chúng ta thực hành trong đời sống, vì đó là ý nghĩa đích thực của việc chúng ta đọc, nghe, suy niệm và sống lời Chúa. Sự giải phóng, giải thoát con người khỏi vòng nô lệ tội khiên chẳng đến từ Thiên Chúa sao? Ngài đã chẳng chữa lành tâm hồn tan nát vì tội lỗi của chúng ta đó sao? Lời ngài giảng là lời sự sống như Phêrô đã có lần tuyên xưng. Lời cần bình tâm suy nghĩ, và cầu nguyện. Nó không phải là những lời nghe cho vui tai hoặc vỗ về tự ái, kiêu căng của con người. Đó là lối Chúa giảng.
Nhưng còn các linh mục của Chúa thì sao? Một hôm trong câu truyện trao đổi với nhau liên quan đến giáo lý, và đời sống đạo, người con rể của bạn tôi bất chợt kể câu truyện về việc đi xưng tội.
- Con mới đi xưng tôi tuần trước?
- Thế sao?
- Thì xưng tội chuẩn bị mừng Giáng Sinh đó.
Rồi anh nói tiếp:
- Con vào tòa định xưng tội khác, nào ngờ gặp ngay ông cha mà con không ưa, nên xưng tội không ưa và ác cảm với ông cha đó luôn. Con xưng là con phạm tội ghét cha ấy. Nghe vậy cha ấy hỏi lại là làm sao mà ghét cha. Và con liền xưng luôn tội của cha ấy cho cha ấy nghe. Con nói: “Con có cảm tưởng rằng cha không bao giờ dọn bài giảng, nên mỗi lần con tham dự thánh lễ mà xui gặp cha thì con chia trí và khó chịu hầu như suốt bài giảng và trong cả thánh lễ nữa. Tại sao cha không dọn bài giảng mà chỉ lên tòa giảng nói lông bông, chọc cười thiên hạ vậy? Con một tuần mới có một ngày tới thánh đường nghe lời Chúa, tìm hiểu lời ngài mà con nghe như vậy thì thử hỏi con có nên khó chịu và ghét cái người nên cớ cho con khó chịu không?  Con không biết là có bao nhiêu người cũng cùng một tâm trạng như con.”
- Thế rồi sao?
- Cha cũng cho việc đền tội 3 kinh Kính Mừng.
Quý linh mục của Chúa, nếu chưa một lần đọc cuốn Phẩm Chức Linh Mục của Thánh Anphonsô, Giám Mục Tiến Sỹ Hội Thánh và Sáng Lập Dòng Chúa Cứu Thế, xin hãy tìm đọc một lần để hiểu sự cao trọng và linh thiêng của mình khi đứng trước bàn thờ dâng lễ. Hiểu được sự quan trọng của mình khi đại diện chính Thiên Chúa cử hành thánh lễ. Nhưng thánh lễ nhiệm mầu được gói gọn trong 2 phần: Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể. Vậy làm sao chúng ta có thể dâng thánh lễ cách đầy đủ mà thiếu phần công bố lời Chúa và chia sẻ lời Chúa. Và làm sao chúng ta có thể chia sẻ lời Chúa khi không suy nghĩ, nghiền ngẫm và chuẩn bị kỹ lưỡng?
Lậy Chúa con chưa xưng cái tội mà người bạn trẻ trên đã xưng bao giờ. Nhưng nếu đó là tội, thì hôm nay con xin xưng với Chúa rằng con đã phạm tội này rất nhiều lần và trong nhiều trường hợp khác nhau. Bởi vì con đã thực sự chia lòng, chia trí và khó chịu vì nhiều bài giảng không đầu, không đuôi. Những bài giảng làm trò cười cho thiên hạ, và những bài giảng mà không bao giờ có Amen.  Và con cũng tự ra việc đền tội cho con là sau khi kết thúc bài suy niệm này, con sẽ đọc 1 Kinh Lậy Cha, 3 Kinh Kính Mừng để đền tội con và đền thay những linh mục không có giờ dọn bài giảng. Amen.
Tóm lại, để Lời Chúa sinh hoa kết trái, người nghe cần từ nhủ:
Lời này Chúa muốn dạy riêng tôi, chứ không phải chỉ nói về Đức Giêsu, thánh Phêrô, người đàn bà ngoại tình…
Lời Chúa cần được nội tâm hóa, để lời của Ngài đi vào tâm của tôi quyết không để chim trời bay xuống ăn mất muon hạt vàng tung bay trên đừong đi muôn người!!! để hôm nay Lời Chúa ứng nghiệm thực sự nơi tôi.

Lời Giới Thiệu

GIÁO HỘI CÓ MẤY CON TRÂU?

Linh Kỳ

Lời tòa soạn: Ban biên tập xin giới thiệu bài viết của Linh Kỳ bàn về việc chăn trâu – việc tu tâm
Trước hết, chúng ta tìm hiều sơ lược về hình thức và ý nghĩa của các bộ Mục ngưu đồ. (Bức tranh chăn trâu)
Có 5 bộ Mục ngưu đồ đều nói về sự tu tâm.
Người công giáo xem những tranh này khó cỏ thể hiểu được, chúng tôi xin mạn phép đưa ra một số hình ảnh mang dáng vẻ công Giáo, hy vọng độc giả có thể khám phá ra một số ánh sáng nào đó, có thể áp dụng cho cuộc sống tâm linh của mình.
Vị Mục Tử: Chúa – Thần Khí Thiên Chúa
Con trâu: Con người cũ – sống theo thế gian
Tranh 1 là vị mục: chưa chăn giữ. Dưới vầng mây đen, trâu đang hung hăng tuông chạy, mình đầy dơ bẩn, dẫm đạp lúa mạ.
Con người cũ suy nghĩ, quan niệm theo thế gian, chạy theo tình , tiền tài, danh vọng thế gian, mê đắm tội lỗi, hại mình hại người…
 Tranh 2 là sơ điều: mới chế ngự. Trâu đã bị nắm dây mũi và đánh bằng roi, nhưng vầng mây đen đã biến mất.
Một ngày nào đó, con người gặp khó khăn, tai nạn, thất bại..như làn roi Chúa thức tỉnh. Con người cũ chợt nhận ra nếu chạy thế gian đời sống mình sẽ không ổn định và trường cửu, không còn tự tin nơi mình nữa..
Tranh 3 là thọ chế: chịu khuất phục. Trâu bị dơ roi, dắt đi, nhưng đầu đã sạch, vầng trăng đã xuất hiện từ xa, nhưng trong đám mây trắng.
Con người bắt đầu đi theo Chúa, bắt gặp những khám phá mới như vầng trăng đã bắt đầu xuất hiện từ xa.
Tranh 4 là hồi thủ: quay đầu lại. Trâu đã biết quay đầu lại với mục tử, và cổ đã sạch. Tuy vậy, mục tử vẫn ràng cột giây mũi, vầng trăng cũng xuất hiện, nhưng không có mây trắng.
Lúc này con người không còn hòan tòan chạy theo thế gian, mà đã biết quay đầu về với Chúa của mình.
Tranh 5 là thuần phục: đã thuần hóa. Trâu đã sạch 2 chân trước và nửa mình, mục tử chỉ cầm chừng dây và roi mà coi, và vầng trăng vẫn xuất hiện trong đám mây trắng.
Càng ngày con người cũ càng dần dần biến đổi..Lúc này sức hút của Thiên Chúa đã bắt đầu thắng thế… Nhưng lâu lâu, con người vẫn cứ muốn quay về con đường cũ.. nên Chúa vẫn lăm le giây và roi để nhắc nhở..
Tranh 6 là vô ngại: hết e ngại. Mục tử ngồi chơi, thổi sáo, trâu đã sạch cả mình và 2 chân sau, nằm nhìn lại mà nghe, nhưng vầng trăng không xuất hiện trong đám mây trắng.
Tới lúc này, còn người mới đã gần hòan chỉnh… thích ngắm nhìn Chúa và lắng nghe tiếng Chúa, nhiều giây phút trong ngày..
Tranh 7 là nhiệm vận: đã tự nhiên. Trâu đã sạch cả đuôi, ăn uống tự nhiên, mục tử thì ngủ, và vầng trăng lại xuất hiện cũng trong đám mây trắng.
Tới trình độ này, con người mới cảm nếm được hương vị ngọt ngào của tự do con cái Chúa, sống trong tình yêu của Ngài. Chúa hết còn dùng con trượng, Chúa hết là ông Công an chuyên ghi giấy phạt…
Tranh 8 là tương vong: rời quên nhau. Trăng sao xuất hiện trong đám mây trắng, trâu với người không còn lệ thuộc với nhau.
Tiếp tục tiến tới trên con đường Tâm linh, tương quan giữa Chúa và người không còn cảnh Chúa khác – tôi khác, Chúa thánh thiện – tôi phàm mèn tội lỗi. Chúa và tôi là một, không còn lệ thuộc nhau theo tương quan vua chúa – tôi tớ như trước đây
 Tranh 9 là độc chiếu: chỉ quán chiếu. Chỉ còn mục tử, một mình với trăng sao còn mây trắng vướng mắc chút ít.
Lên tới trình độ này, lời của Phaolô ứng nghiệm nơi tôi: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. (Gl 2:20).  Chỉ còn mục tử là chính Chúa sống trong tôi. – Tất nhiên không phải là 24 / 24 giờ một ngày…mà số giờ phút sẽ tăng lên tùy theo “công phu tu luyện” hàng ngày của mình.
Tranh 10 là song dẫn: mất tất cả. Chỉ có vầng trăng lớn và sáng.
Không phải chỉ có Chúa là ánh sáng, mà cả tôi nữa, tôi cũng là ánh sáng thế gian…
Tới đây, tốt nhất là nên thêm một bức tranh nữa cho trọn vẹn ý nghĩa. Chúng ta có thể lấy tranh thứ 10 của bộ 5 làm tranh thứ 11 làm thành kết luận cho có hậu
Tranh 10 nhập triền (vào chợ), ghi: mục đồng đi trước, hướng về phía đông, với trâu trắng theo sau.
Không chỉ để trở thành ánh sáng thế gian khơi khơi – vui hưởng hạnh phúc một mình trong Chúa.
Điều quan trọng là Mục đồng– tượng trưng cho Thần Khí Thiên Chúa sẽ hướng dẫn chúng ta đi vào chợ - tượng trưng cho thế gian.
Đạo phải vào đời - Đây cũng chính là chủ trương Tâm Linh Vào đời. Chia sẻ cho anh chị em Tin Mừng đang réo rắt trong tim. Cũng chính Tin Mừng này thúc đẩy chúng ta dấn thân một cách tự nhiên bằng nhiều cách thế khác nhau. Riêng cánh làm báo thì phương thế sở trường là chia sẻ. Thực vậy, Tâm Linh Vào Đời thường chia sẻ xoay quanh những chủ đề sau:
Những quan niệm sống động thân thương về Thiên Chúa,
Những khám phá dần dần nhận ra sự hiện diện sống động của Chúa ngay trong lòng mình,
Những điều mình đã cảm nghiệm, đã sống hiệp nhất nên một với Chúa
và nhất là dù phải sống trong hòan cảnh gian nan, vất vả và đầy chông gai trên trần gian này…cũng dễ dàng cảm thấy bình an, hạnh phúc…

Bài viết của Linh Kỳ

Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần, Amen .
- Thưa cha con đã xưng tội được 2 tuần.
(i) Con có nói dối ba lần.
(ii) Con có bỏ đọc kinh sáng tối 2 tuần.
(iii) Con có bỏ đi nhà thờ Chủ Nhật 1 lần.
(xxx)  …
- Thưa Cha, con còn nhiều tội con cũng không nhớ, xin cha tha tội cho con.
Buổi xưng tội đã hơn mười lăm phút.  Có lẽ vì hơi sửng sốt trước một giáo dân chỉ mới hai tuần mà đã lắm tội, nên linh mục ngài vén nhẹ tấm màn che dòm một cái.  “Được! ”  Vị linh mục ân cần dặn dò vài điều trước khi đọc lời tha tội.
- Việc đền tội đọc ba kinh Lạy Cha, ba kinh Kính Mừng.
Người xưng tội lặng lẽ bước ra toà giải tội tìm chỗ đọc kinh. 
Bước ra khỏi khuôn viên nhà thờ, tâm hồn nhẹ nhõm, thần trí bay bổng “thế là xong”!
- Ta đã giao hoà với Chúa.
I.  Mục Ngưu Đồ [1]
     Ở lứa tuổi phá phách và hay rong chơi, tôi thường theo bạn vào Chùa.  Tuổi thơ đơn giản, chủ đích chỉ là vào chùa ăn đồ cúng và đồ chay.
     Ngày đó, những bức họa của Mục Ngưu Đồ treo trên tường tại các am viện chẳng có nghĩa lý gì với tôi cả.  Chỉ là những bức tranh đồng quê, mục tử với con trâu, ruộng và lúa, quê hương tôi nơi nào chẳng có?
    Tuổi hai mươi, tôi vẫn theo bạn vào Chùa.  Có nhiều lần tôi thấy nhiều vị bàn tán về các bức hoạ và con trâu, tôi chỉ ậm ừ thầm nhận xét:
    ba hoa!
    vẽ vời!
    và với tôi, con trâu chẳng có nghĩa gì cả.
 Phải Tỉnh Thức Mới Thấy Trâu
                 Sau này tôi đã hiểu được: Mục Ngưu Đồ là những phác họa của quá trình tu tâm.  Tâm là con trâu.  Bản thân người tu tâm là kẻ chăn trâu.  Người chăn trâu làm chủ con trâu của mình bằng những phương pháp tu tâm.
    Đối với kẻ tu tâm, con trâu là vật sờ sờ trước mặt.  Một thiền sư Đại An Tự kể rằng: “30 năm nay tôi ở Quy sơn này chỉ chăn con trâu. Trâu đi lạc, tôi kéo nó lại. Trâu ăn lúa của người, tôi đánh. Lâu ngày như vậy thật đáng thương. Nhưng nay thì trâu đã trắng, cả này sờ sờ trước mắt, đuổi cũng không đi.” [2] 
Một Câu Chuyện Vui Về Mục Ngưu Đồ 
Trời vừa hừng sáng, Hoà Thượng đã tụ tập bốn đệ tử trước Cổ Điện. Chỉ vào 20 con trâu, Hòa Thượng khuyến nhủ các đệ tử nên noi theo gương tu tập của Mục Ngưu Đồ.  Cốt sao đừng để cái tâm buông lung theo ngoại cảnh bằng phương pháp thiền định và tu tâm.  Cho dù giá nào cũng phải trải qua 10 giai đoạn như người chăn dắt con trâu hung dữ:
- Sư Phụ, con xin lãnh 10 con đi trước
Đại Đồng ngâm thơ, ung dung dắt đàn trâu đi:
Xông xáo vào đời không trở ngại
Trở về nguồn gốc tịnh chân tâm
- Con cũng lãnh 5 con theo Đại Sư huynh
 Đồng vừa đi vừa hát, phong độ chẳng kém chi đại sư huynh:
Tìm trâu thấy được dấu chân trâu
Nhận đúng là trâu, hỏi phải trâu
Rồi sau quên mất mình đâu có
Hỏi có trâu không? Hỏi có người?
Thật là phù hợp với ý nghĩa của Mục Ngưu Đồ, Hòa Thượng nhìn theo hai đệ tử hài lòng tiếp:
- Tiểu Đồng và Tiểu Đồng Con chăn chung 5 con còn lại.
Tiểu Đồng quay sang nạt Tiểu Đồng Con:
- Tao không thèm chăn chung với mày. Tao lãnh 3 con.
Rồi nó ra đi cũng theo phong cách mấy sư huynh:
Ai bảo trăn châu là khổ
Chăn trâu sướng lắm chớ
Tiểu Đồng Con nhìn theo ánh đạo mầu của ba sư huynh, lòng đầy thán phục khi hỏi Hoà Thượng::
Sư Phụ, Phật Tổ có mấy con trâu?

II.  Khi Người Công Giáo Gặp Con Trâu
                 Là một giáo dân Công Giáo, tôi hiểu được điều này: con trâu nhiều khi chẳng mang một ý nghĩa gì cả.  Đối với một người Công Giáo, quá trình tu tâm được rút gọn một cách đơn giản.
Yêu Chúa hay Sợ Chúa thì đi xưng tội. [3]
Khi được tha tội thì hứa ăn năn dốc lòng chừa hay làm việc đền tội.
     Nhưng có điều này ai cũng dễ dàng công nhận là thường tình: TỘI THÌ NHIỀU mà ĐỀN TỘI hay ĂN NĂN DỐC LÒNG CHỪA chẳng là gì cả.
     Chúng ta có thể xét lại một số thí dụ điển hình:
     (i) Nổi giận quát vợ một câu.  Hậu quả là tan nồi nát chảo đến ba ngày.
    Việc đền tội hay ăn năn dốc lòng chừa hứa với Chúa là gì?
    (ii) Một kẻ thích say sưa nhậu nhẹt bỏ vợ con nheo nhóc.  Hậu quả là một gia đình không hạnh phúc.
     Việc đền tội hay ăn năn dốc lòng chừa hứa với Chúa là gì?
      Thời giờ tại toà giải tội thì có hạn.  Giáo dân thì quá đông, linh mục thì ít, việc xưng tội trước mặt Cha và Chúa chỉ là NÓI NHIỀU mà TU TÂM thì ít.
Tôi còn nhớ đoạn ngụ ngôn người đàn bà ngoại tình và Chúa Giê Su.  Ở đoạn cuối, ngài đã nói rằng:
"Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa". [4]
Nhưng ở đời, nói vậy thì sẽ chẳng mấy khi mang lại hậu quả tốt đẹp.
Một tên trộm cắp bị bắt.  Ra toà bị xử tội tù ba tháng.  Trước khi ban án, quan toà còn cẩn thận dặn dò: “Lần này xử nhẹ, lần sau không có vậy, đừng phạm tội nữa.
Bốn tháng sau, vừa ra tù được một tháng, hắn lại bị bắt vì tội trộm cắp lần nữa.
Kẻ bàng quan như chúng ta chỉ có thể nhận định rằng:
- Chứng nào tật ấy.
Đúng, chữa bịnh không tận gốc thì là vậy.  Lời Chúa dạy nếu không đem xử dụng tốt, hậu quả cũng chỉ là "CHỨNG NÀO TẬT ẤY".   Giáo dân có đi lễ cả đời, có xưng tội cả đời, nhưng chứng và tật vẫn theo người vào đáy mộ sâu.
(a) Tu Tâm Và Con Trâu
TU TÂM phải nói đến tâm lý con người.  Mà tâm lý con người lúc nông nổi phạm tội thì thiên niên vạn trạng.
     TẠI SAO QUÁT VỢ ?

  1. Có ông đang ngồi coi một cuốn phim.  Đúng lúc gay cấn thì vợ ông vào nói chi đó.  Dường như ông chẳng thèm nghe gì cả nên vợ ông nổi giận quát tháo um sùm vì ông đã coi thường lời của bà.  Thế là ông nổi nóng quát lại vợ. 
  2. Chuyện này cũng thường tình lắm thôi.

                     Tại sao ông không nghe?  Who cares?  Tâm lý và bản năng của các ông là vậy.  Đàn ông hay có chiều hướng đam mê và chú tâm vào một điều gì đó mà trở nên bàng quan với những gì xung quanh.
              Đùng một lúc chạy vào nói lời chi đó mà không được chú ý đến thì là LỖI TẠI AI?  Giải cái tội này có cần phải đối diện cả ông lẫn bà chứ?
      (1) tại các bà không hiểu tâm lý đàn ông ?
      (2) hay lắm ông đam mê, coi thường không thể nhất thời xem các bà là "cái rốn vũ trụ"?
      Còn nhiều lý do để QUÁT VỢ lắm.  Nhưng chúng ta có thể cùng nhớ lại xem:
      - Có bao giờ vị linh mục trên toà giảng hay toà giải tội giảng giải căn nguyên và phương pháp để từ nay khỏi nổi sùng chì chiết nhau trong cuộc sống gia đình không?
     - Chỉ đơn thuần là hứa với Chúa với Cha, đến lúc nổi giận thì Chúa chỉ là hư vô và Cha có đó: cha có thể sợ cảnh tan nồi nát chảo mà chạy không?
    Là một giáo dân Công Giáo, tôi muốn nói lên một tâm sự thật lòng:
   “Tôi đi nhà thờ rất nhiều lần. Xưng tội thì đã không nhớ là bao nhiêu lần.  Nhưng những biện pháp tu tâm học hỏi từ giáo đường, hay các lãnh tụ tinh thần thì quá ít.”
    Theo thông lệ, đây là một chuyện dễ hiểu: Chúa đã tha tội thì tôi cũng cố gắng.  Nhưng bản thân tôi đã là yếu đuối nhược hèn thì lỡ có phạm tội lần nữa, vào xin tha thêm lần nữa cũng không sao. 
    Ở cái giây phút quan trọng nhất: phạm tội hay không phạm tội, tôi có giải pháp gì khác đâu?  - Thì đành lại vào gặp linh mục, gặp Chúa tiếp tục xưng cái tội "Chứng Nào Tật Ấy" vậy.
     Và cứ thế: Tôi - người Công Giáo và đàn trâu ngày càng đông cứ lần lữa theo nhau cho đến hết đời. 
III.  Đàn Trâu Của Hội Thánh Chúa Ki Tô
    Nếu có dịp đi về những miền quê hẻo lánh, chúng ta đều nhận ra rằng:  dân quê lũ lượt, đầu tắt mặt tối, sớm chiều chỉ lo sinh kế và cách ăn nói đến thái độ đều mang nét chất phác và chân thật hơn. 
     Ở nơi thị thành, những vùng dân cư đông đúc, chúng ta không thấy vậy.  Thành phố càng lớn, thì tội ác càng đa dạng.
     Giáo hội của Chúa Ki Tô nay đã lên đến vài tỷ người, đàn trâu mà Hội Thánh nuôi dưỡng có đông, đa dạng và đủ loại?
     Con trâu của hàng giáo dân có đặc điểm gì? 
Con trâu của hàng giáo sĩ có đặc điểm gì?
Con trâu của các lãnh tụ tinh thần có đặc điểm gì?
     Dùng gì bắt trâu?
     Lấy gì buộc trâu?
     Làm thế nào để chăn trâu?
     Hay hơn nữa là làm sao để Người cùng Trâu đều biến mất?
     và nếu có thể trở nên vô tư như Tiểu Đồng Con trong câu truyện vui kể trên đã hỏi, thì xin mạn phép hỏi một câu cho vui:
    Giáo Hội Có Mấy Con Trâu? 
IV.  Lời Kết
Điều Răn Thứ Nhất: Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến ngài trên hết mọi sự.
Từ lâu (theo cảm nghĩ cá nhân), Hội Thánh Chúa Ki Tô đã chuyên về thờ phượng và kính mến.  Để rồi, những phương pháp tu tâm dường như ít khi được nhắc đến trên tòa giảng.
ĐẠO mà thiếu vắng hệ thống của những những phương pháp TU thật đã giới hạn khả năng giúp nhiều người trở nên công chính.
     Và nếu có một ngày, một linh mục nơi toà giải tội hỏi "Sao anh mới vài ngày đã lại có lắm tội?”. 
    Tôi cũng sẽ thành thật mà thưa rằng:  “Thưa cha, con không nhớ mình nuôi con trâu đầu tiên khi nào.  Nay con đã gần bốn mươi tuổi, đàn trâu của con đông lắm”.   

Tài Liệu Tham Khảo 

[1] Trí Quang, Tháng 3, 2536 (1993), http://www.phatviet.com/kechau/tctsolu.htm
“Nay hãy nói hình thức và ý nghĩa của các bộ Mục ngưu đồ. (
Nói tổng quát, 5 bộ Mục ngưu đồ đều nói về sự tu tâm. Tâm như trâu. Bản thân người tu tâm là kẻ chăn trâu. Chăn bằng giới định tuệ. Trừ nguyên tụng của bộ 1, tất cả nguyên tụng và họa tụng của các bộ khác, nhất là họa tụng của bộ 1, toàn là ngữ khí thiền tông, loại ngữ khí hay có cái bịnh cầu kỳ, kinh dị, do đó, không cần thiết lắm để nói đến. Nay nói đến hình thức và ý nghĩa của tất cả 5 bộ bằng cách chú ý đến tranh vẽ và tiêu đề nhiều hơn. 
(3a)
Bộ 1. Viết theo văn bản A (Viên âm số 7) và B.
(xin xem phần Lời tòa soạn ở trên, rồi xem tiếp phần dưới đây)
Có mấy ghi chú cần thiết trong giải thích trên đây. Tranh 1, sự dẫm đạp lúa mạ (phá hoại điều thiện) là quan trọng mà có bản bỏ quên. Các tranh 3 đến 8, vầng trăng tròn (chân như) nhưng vừa nhỏ vừa xa, khi hiện khi ẩn, mây trắng (sở tri ngu) cũng vậy, khi có khi không, là quán chiếu còn yếu và gián đoạn. Riêng tranh 8 còn phải nói thêm. Ấy là trí năng quán vốn đối tượng hóa chân như làm cảnh sở quán, và đến đây thì đối tượng ấy sắp mất, nghĩa là sắp hiển lộ chân như. Nên ở đây không còn tình trạng năng quán phải có sở quán mới hiện, năng quán sở quán không còn phải có tác ý mới có. Chữ rời quên nhau là mô tả tình trạng này, tình trạng mà chuyên ngữ chỗ khác gọi là phá vỡ nghiệp thức, siêu thóat cái biết thuộc khái niệm phạm trù. Tranh 9 chỉ còn người là chỉ còn quán trí. Hiểu biết trâu là pháp chấp, mất trước, còn người là ngã chấp mất sau, là sai. Không giáo lý nào nói như vậy cả. Tranh 10 là chân như hiển lộ mà ngài Phổ Minh nói là hoa nội cỏ thơm vẫn tự sum sê có nghĩa đến đây thì chân như diệu dụng toàn diện.
Điều hết sức cần chú ý là tranh 1 đã thấy trâu chứ không phải tìm trâu, chứng tỏ bộ 1 không công nhận tâm bị mất bao giờ, tâm chỉ có được thuần phục hay không mà thôi. Tranh 10 chứng tỏ chân như hiển lộ thì vật sắc vô vàn, diệu dụng vô lượng, ‘trúc biếc hoa vàng toàn là bát nhã, gió thổi chim kêu đều là vô sinh’. Cái gọi là vào sinh tử độ chúng sinh, hoặc nói cách khác là sống với cái sống bình thường của chân như, toàn chỉ là nói phần nào cái diệu dụng ấy. Nói theo Duy thức học, đại viên cảnh trí đã xuất hiện thì đủ cả 3 thân 4 trí, cái gọi là vào chợ đời chỉ là phần nào của biến hóa thân hay diệu quan sát trí và thành sở tác trí mà thôi. Và với ý nghĩa như vậy, văn bản A nói bộ 1 mới là chính.
(3b)
 Bộ 2. Viết theo văn bản A (Viên âm số 7). Tranh 1 là tầm ngưu: tìm trâu. Tranh 2 là kiến tích: thấy dấu. Tranh 3 là kiến ngưu: thấy trâu. Tranh 4 là đắc ngưu: được trâu. Tranh 5 là mục ngưu: chăn trâu. Tranh 6 là kị ngưu qui gia: cưỡi trâu về nhà. Tranh 7 là vong ngưu tồn nhân: trâu mất người còn. Tranh 8 là nhân ngưu câu vong: người trâu đều mất. Tranh 9 là phản bản hoàn nguyên: trở về gốc nguồn. Tranh 10 là nhập triền thùy thủ: vào chợ đưa tay. Có mấy chi tiết cần nói. Tranh 9 nên bỏ, vì nói cạn thì là tranh 6, nói sâu thì là tranh 8 ở đây và là tranh 10 của bộ 1; chữ thùy thủ không phải buông tay, mà là thòng tay hay đưa tay ra mà dắt dìu cứu vớt. Tranh vẽ cũng nên nói. Tranh 9 có chỗ vẽ là rụng về cội, nước chảy về nguồn. Vẽ như vậy không bằng Viên âm trích lục, vẽ hoa lá ngoạn mục, mô tả vật sắc y nhiên của chân như. Tranh 10 là  mượn hình ảnh ngài Bố Đại, hóa thân của Di-Lặc đại sĩ; Ngài này hay vào chợ với túi vải lớn, ai cho gì cũng bỏ vào, đem ra phát cho người nghèo, trẻ con.
Điều cần chú ý là bộ 2, với 4 tranh đầu, cực tả phải minh tâm kiến tánh. Trung gian ước lược với 2 tranh, là muốn nói kiến tánh thì sự tu có khả năng vượt bậc. Đoạn chót, với 4 tranh là tự chứng độ sinh. Thêm nữa, khác với bộ 1, bộ 2 này đến tranh 7 vầng trăng mới xuất hiện (mô tả đốn ngộ) và tranh 8 chỉ còn vầng trăng lớn sáng (chân như hiển lộ). Có người nói bộ 2 là tâm tìm tâm, tâm ly tâm, tâm dụng tâm. Màu sắc con trâu không thay đen đổi trắng, dầu cũng vẫn nói công phu ly nhiễm, rửa trâu cho sạch. Nhưng văn bản D nói khác hơn. Theo đó, tranh là phát bồ đề tâm. Các tranh 2 đến 5 là vị thứ tu hành bồ đề hạnh. Các tranh 7 và 8 là thành bồ đề trí. Các tranh 9 và 10 là nhập bồ đề tâm hành bồ đề sự. 
( 3c )
 Bộ 3. Như đã nói, văn bản A tờ 16a nói Hòa thượng Thanh Cư thuật Mục ngưu đồ tranh 10 là trâu trắng ngủ yên giữa đất trống, người chăn thì thiền định; tranh 11 là trâu mất mà roi đang còn; tranh 12 là người trâu đều mất. Do tiêu đề như vậy, tôi suy đoán có 1 bộ Mục ngưu đồ nữa, tu chỉnh bộ 2, vì 3 tranh nói trên ghép vào bộ 2 không hợp bằng ghép vào bộ 1. Lại nữa, chắc chắn 13 tranh. Mà chắc là đổi tên và ý 3 tranh chót của bộ 1. Suy luận này nếu đúng, thì bộ 3 là có, và có thể kê như sau. Tranh 1 đến tranh 7 là 7 tranh đầu của bộ 1: chưa chăn giữ, mới chế ngự, chịu khuất phục, quay đầu lại, đã thuần hóa, hết e ngại, đã tự nhiên; tiếp theo, tranh 8 là nằm giữa đất, tranh 9 là roi vẫn còn, tranh 10 là hết tất cả. Nằm giữa đất (trâu trắng nghỉ yên giữa đất trống, người chăn thì thiền định) là tâm đã thanh tịnh. Roi vẫn còn (trâu mất mà roi đang còn) là pháp tu vẫn còn. Hết tất cả (người trâu đều mất) là chân như thể hiện. Bộ 3 này, như vậy, là trọng pháp tu từ đầu đến gần cuối, còn tu chứng thì chỉ được nói bằng 1 tranh mà ý nghĩa là của tranh 10 bộ 1. 
(3d)
Bộ 4. Như đã nói, bộ 4 là luận giải bộ 1, bằng cách thêm 10 tranh nữa. Theo như thế nào? Tác giả bộ 4 rất chú trọng tranh 1 ‘chưa chăn giữ’ của bộ 1, nên đã đưa ra nhiều trường hợp tuồng như ngó được mà kỳ thật là chưa chăn giữ lấy tâm ý; và tót tắt lại bằng 2 tranh thêm cho tranh 1: giới tại gia thì nhàn nhã, giới xuất gia thì thuyết pháp (nên nói là pháp dật và hý luận). Các tranh 2 đến 5 thì thêm 4 tranh sơ thiền đến tứ thiền. Cái này thì không chính xác lắm. Tranh 6 thêm tranh hòa quang đồng trần (hòa đồng chúng sanh). Tranh 7 thêm tranh tuyền thạch tự ngu (vui thú suối non). Tranh 8 thêm tranh đại hưu đại hiết (thôi bỏ tất cả). Tranh 9 thêm tranh giác thiên khoáng lộ (tuệ giác bừng sáng, dịch đủ là bầu trời tuệ giác lồ lộ bừng sáng). Tranh 10 thêm chữ (chứ không phải tranh) nan danh nan trạng (khó mà mô tả), nhưng chữ này không bằng chữ chân diện mục (mặt này đích thực) trong câu đối cũng ở đấy. Vì thêm tranh tứ thiền, bộ 4 này có ý tứ mà kém giá trị.
(3đ)
Bộ 5. Tranh 1 thất ngưu (mất trâu), ghi: trâu trắng ở đông mặt hướng về đông, mục đồng ở tây mặt hướng về tây. Tranh 2 tầm ngưu (tìm trâu), ghi: chủ nhân hỏi trâu đâu, mục đồng ngơ ngác, có 1 người đi đến từ hướng tây, lấy tay chỉ cho biết ở đằng xa ấy. Tranh 3 kiến tích (thấy dấu), ghi: mục đồng chạy ngay về hướng tay, thấy nhiều dấu chân trâu trắng trong đám ruộng. Tranh 4 kiến ngưu (thấy trâu), ghi: trâu trắng nằm yên trong đám ruộng, mục đồng từ xa nhìn thấy, rất mừng. Tranh 5 đắc ngưu (được trâu), ghi: trâu trắng thung dung đứng dậy, mục đồng vui vẻ vỗ về lưng nó. Tranh 6 hộ ngưu (giữ trâu), ghi: mục đồng nhàn nhã ngồi trên đá, trâu trắng thích thú uống nước khe suối. Tranh 7 kị ngưu (cưỡi về), ghi: mặt trời gác núi, trâu trắng về nghỉ, với mục đồng cuỡi trên lưng, thích thú thổi sáo. Tranh 8 vong ngưu (mất trâu), ghi: chỉ còn vầng trăng sáng trên nền trời, mục đồng vỗ tay ca hát. Tranh 9 song dẫn (mất cả), ghi: mục đồng và trâu trắng đều không thấy đâu nữa, chỉ còn 1 (vầng trăng) tròn sáng. Tranh 10 nhập triền (vào chợ), ghi: mục đồng đi trước, hướng về phía đông, với trâu trắng theo sau. Bộ 5 này, như vậy, là đề cao ý thức tự tỉnh và vai trò của bậc đại thiện tri thức. Từ đầu đến cuối, trâu là trắng và không hung hăng, khỏi dắt mũi, đánh đập gì hết, ấy là tâm tánh vốn có và vẫn thanh tịnh, minh tâm kiến tánh thì chứng ngộ. Vấn đề là ly nhiễm (hướng về tây) để rồi tùy nhiễm (trở lại đông). Đáng chú ý là bộ 5 này, theo văn bản G, vầng trăng xuất hiện một nửa trong  mây (tranh 6), xuất hiện tròn mà chưa thật sáng (tranh 7), xuất hiện tròn sáng mà chưa thật lớn (tranh 8), xuất hiện sáng lớn (tranh 9). 
(4a)
Mục ngưu đồ chủ yếu là tu tâm. Tâm, nói đơn giản, là chỉ cho tri thức tư tưởng. Thế nhưng cái nghĩa ấy không đủ để nói đến cái tâm trong Mục ngưu đồ. Nên ở đây phải nói chút ít về chữ tâm của Phật giáo.
Phật học đại từ điển trang 699 tổng hợp mọi học lý, nói tâm có 6. Để dễ hiểu, tôi toát yếu với thứ tự không đặt theo vị trí. Thứ 1 là nhục đoàn tâm (tâm khối thịt), tức cái tim của người vật, cái lõi của cây cỏ. Thứ 6 là tinh yếu tâm (tâm cốt lõi), tức cái trung tâm, cái cốt yếu, cũng tức nghĩa thứ 1 mà rộng hơn. Thứ 5 là kiên thật tâm (tâm chắc thật), tức chân như của tất cả pháp. Tim người vật, lõi cây cỏ, và cốt yếu của tất cả, cũng toàn là pháp, nên có thể quán tưởng ngay quả tim ta đây là chân như. Cả 3 loại tâm trên đây Phạn tự là Hrdaya. Thứ 4 là duyên lự tâm (tâm tri thức), Phạn tự là Vignapti. Thứ 3 là tư lượng tâm (tâm tự ý thức), Phạn tự là Manas. Thứ 2 là tập khởi tâm (tâm tập hợp phát khởi), Phạn tự là Citta.
Như vậy, thường ta nói tâm, chỉ là nói cái thứ 4, tức 6 thức trước. Nhưng trong Phật học, nhất là Duy thức học, thì 6 thức này chỉ là những cái biết lệ thuộc giác quan và đối cảnh. Chúng chỉ như nhưng thông tín viên, thu thập tất cả mọi loại tin tức. Cái tiếp nhận tin tức ấy, tiếp nhận theo ý thức tự ngã, là cái thứ 3. Còn cái thứ 2 thì lưu trữ và tái hiện mọi tin tức đã được tiếp nhận. Nói tổng quát, gió (đối cảnh) và sóng (nhận thức) toàn là biển cả. Cái thứ 2 là cái cá thể vừa là vật liệu vừa là kiến trúc, đối với toàn bộ thế giới của mỗi chúng sinh bao gồm cảnh vật, cơ thể (giác quan) và nhận thức. Và bản thể của toàn thể các tâm thức trên đây là chân như. Chân như, hay tự tánh thanh tịnh tâm, như vậy có 2 nhận thức. Nhận thức thứ nhất, như Duy thức học, chân như (bản thể) với các pháp (hiện tượng), ít nhất là danh từ, không phải không khác nhau. Nhận thứ thứ hai, như Khởi tín luận, chân như là toàn bộ, bản thể hiện tượng là bất khả phân. Nên, như cánh tay khi đang chỉ xuống (nhiễm) thì đó là cả cái cánh tay có thể chỉ lên mà đang chỉ xuống, khi đã chỉ lên (tịnh) thì đó là cả cái cánh tay đã chỉ xuống mà nay chỉ lên. Trong nhận thức thứ nhất, khi chân như thể hiện thì các pháp thành diệu dụng. Trong nhận thức thứ hai, ngay đang lúc ô nhiễm, chân như biểu hiện cái dụng phản tỉnh tu tập, nên thể hội chân như thì các pháp là diệu dụng, là chân như. Do vậy, Mật tông quán ngay quả tim là hoa sen, Thiền tông thì thấy đương xứ tiện thị, Bát nhã thấy sắc là không, không là sắc, Hoa nghiêm thấy một là tất cả, tất cả là một, Pháp hoa nói thế gian tướng trường trú… 
(4b)
Cũng nên nói về sự đốn ngộ. Đốn ngộ là sự tỉnh ngộ đột biến. Đốn ngộ là kết quả của sự tu tập, kể cả phước đức quá khứ (như trường hợp ngài Huệ Năng). Đốn ngộ xảy ra trong khi tu tập. Đốn ngộ có cạn sâu (như đã vào biển cả nhưng xuống biển cạn hay sâu), có khuyết toàn (như trăng đã hiện nhưng có khuyết toàn) Không phải đốn ngộ là đã như Phật, đã thành Phật. sự đốn ngộ của Phật vừa là trí đức (hết sạch mê mờ), vừa là đoạn đức (hết sạch lầm lỗi), vừa là ân đức (hóa đạo chúng sinh). Đốn ngộ khi đang tu tập thì tiểu thừa đại thừa đều có ở gian đoạn kiến đạo, còn những giai đoạn trước đó thì không quyết định. Lại có sự đốn ngộ vượt bậc, như trường hợp ngài Xá-lợi-Phất thành A-la-hán ngay, khi nghe Phật đối thoại với cậu ngài là ngài Câu-hy-la: Chủ thuyết của ông là gì: Là không chấp các pháp. Thế có chấp cái chủ thuyết ấy không? Có sự đốn ngộ còn khác thường nữa, như trường hợp ngài Ương-quật-ma-la, khi cầm dao đuổi theo Phật mà không kịp, la lên, sao ngài đi thong thả, mà tôi đuổi không kịp: Phật bảo, hãy bỏ xuống con dao ngay trong tâm của anh. Cho nên yếu tố đốn ngộ bất thường hay khác thường, đa số thường do sự cảnh tỉnh đúng lúc và thích hợp của các bậc thầy mà Thiền tông gọi là đại thiện tri thức.
Trong tất cả 5 bộ tranh Mục ngưu đồ, đốn ngộ chính xác là ở các tranh trâu người quên nhau, chỉ còn mình người, và tan mất tất cả. Chỉ có bộ 2 và bộ 5 có ý mô tả sự kiến tánh (cũng là dạng đốn ngộ khởi sự) ở 4 tranh đầu.
       (4c)
Cũng nên nói về hình sắc con trâu. Trong chữ Tàu, ngưu là bò, trâu. Riêng trâu, muốn nói rõ thì phải là thủy ngưu. Dầu vậy, Mục ngưu đồ vẽ là trâu chứ không phải bò.
Trâu ấy ví dụ cho tâm. Thế nhưng có bộ tranh vẽ trâu đen rồi trắng, có bộ vẽ trâu đen, có bộ vẽ trâu trắng. Vẽ trâu đen rồi trắng là nói trâu vẫn là trâu, vốn không dơ, nay chỉ rửa đi cho sạch bùn. Vẽ trâu đen là ý nói trâu vẫn là trâu, vốn không dơ. Vẽ trâu trắng cũng nói trâu vốn không dơ, nhưng ý có vẻ sâu mà thật ra là cạn. Như vậy, ý nghĩa hoàn chỉnh mà không cầu kỳ chính là trâu đen rồi trắng.
(4d)
Bây giờ nên nói về sự tu tâm, tức là nói sự chăn trâu. Thật ra tu tâm là chính tâm cứu xét lấy tâm, tâm điều phục lấy tâm, tâm họa dụng lấy tâm. Nhưng nói như vậy vẫn mênh mang. Hãy nói xác thực hơn.
Tâm, như đã thấy, trước hết là 6 thức trước, tức nhận thức lệ thuộc giác quan và đối cảnh. Nói như vậy thì biết nói 6 thức cũng đã là nói toàn bộ con người và thế giới con người. Trong 6 thức, quan trọng bậc nhất là thức thứ 6. Nó chính là cái trực tiếp tạo ra mê với ngộ, nhiễm với tịnh. Khi nó có 5 thứ thiện căn (mà thực ra là tâm sở thiện hay tâm sở trung tính của nó) thì đó chính là sự tự chăn.
Năm thiện căn,
 Một là tín: tin tưởng vào lòng từ bi của Phật, làm bậc thầy hóa đạo cho ta tự chăn; tin tưởng vào giáo huấn của Ngài đã đem lại sự tự chăn và thanh tịnh cho Ngài và nay đem lại cho ta; tin tưởng vào Tăng đoàn của Phật có hạnh nguyện thay Ngài trong công việc của Ngài, là làm bậc thiện tri thức cho ta tự chăn; sau hết, và quan trọng nhất, là tin tưởng bản thân ta có thể và cần phải tự chăn.
Hai là Tấn: nổ lực tự chăn một cách thích hợp và liên tục.
Ba là Niệm: luyện tập cho ký ức một mặt hướng về giáo huấn của Phật, một mặt cảnh giác mà chống lại sự tự buông thả hay lơi lỏng trong sự tự chăn.
Bốn là Định: trước hết là dốc chí, chuyên chú, không bao giờ dao động hay đổi bỏ sự tự chăn.
Năm là Tuệ: trước hết là hiểu biết khá rõ về sự tự chăn. Trong 5 thiện căn này, Tuệ quan trong bậc nhất cho sự tỉnh ngộ. Nó vừa là sinh ra vừa là kết quả, vừa là chủ đạo vừa là được hổ trợ, của 4 thiện căn trước.
Thế nhưng 5 thiện căn chưa phải là căn bản của sự tự chăn. Căn bản của sự tự chăn chính là giới. Giới là sợi dây là cây gậy trong sự tự chăn. Mục ngưu đồ quả là đề cao giới ấy. Giới ấy, và con trâu, và mục tử và giay, và gậy, trước hết và thực sự, toàn là thức thứ 6 cả. Dầu cho nói đén sự đốn ngộ kiến tánh như Thiền tông đi nữa, thực sự cũng là sự tỉnh ngộ đột biến (một dạng độc đầu) của thức thứ 6 ấy. Và đốn ngộ gì, kiến tánh gì, thì hỏi là trả lời, khi biết chân như là gì. 
(5a)
Mục ngưu đồ, trước hết hãy nói áp dụng cho mọi người, nhất là áp dụng các tranh bước đầu. Trâu là bản thân. Mục tử là ý chí. Chăn là tự đổi mới (theo tiêu chuẩn đạo đức xã hội và đạo đức tâm linh). Ai cũng có thể và nên áp dụng như vậy.
Bây giờ nói áp dung cho sự tu Thiền. Trâu là tâm thức. Chăn là đối với công án (chủ đề) hãy ‘tỉnh tỉnh như mèo rình chuột’ không nghĩ gì khác.
Đặc biệt áp dụng cho sự tu Tịnh. Trâu cũng là tâm thức. Chăn là chánh niệm liên tục, không nghĩa nhớ gì khác ngoài Phật, ngoài danh hiệu của Phật. Nghĩa nhớ gì bất đáng thì tức khắc nhớ Phật không nghĩ như vậy. Cái gì đáng làm, và có thể làm được, hãy nghĩ nên là như Phật đã làm. ‘Tâm mà tưởng nhớ đến Phật thì tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật’ (quán kinh).
(5b)
Thế nhưng, đối với mọi người xuất gia thì phải tự buộc chứ không phải tùy nguyện, cố mà làm theo đoạn kinh Di giáo sau đây, đoạn kinh mà Mục ngưu đồ được gợi ý và bắt nguồn từ đó. “Các thầy tỳ-kheo, đã ở trong tịnh giới thì phải chế ngự 5 thứ giác quan không cho phóng túng. Như kẻ chăn trâu, cầm gậy mà coi giữ, không cho phóng túng, phạm vào lúa mạ của người… Năm thứ giác quan do tâm chủ động, vì vậy mà các thầy lại phải chế ngự tâm mình… Phóng túng tâm ra thì làm tan nát việc thiện của người, chế ngự tâm lại một chỗ thì không việc gì không thành”.
Như tôi đã nói, những lời sơ lược về Mục ngưu đồ trên đây là như lời giới thiệu cho Tranh chăn trâu của Hòa thượng Kế Châu, mong giúp thêm vào thiện nguyện của tập sách ấy.  
[2]  Tháng 3, 2536 (1993), http://www.phatviet.com/kechau/tctsolu.htm
Một thiền sư Đại An Tự kể rằng: “30 năm nay tôi ở Quy sơn này chỉ chăn con trâu. Trâu đi lạc, tôi kéo nó lại. Trâu ăn lúa của người, tôi đánh. Lâu ngày như vậy thật đáng thương. Nhưng nay thì trâu đã trắng, cả này sờ sờ trước mắt, đuổi cũng không đi.”
[3] Hỏi thật, thông thường một giáo dân Công Giáo khi đến đứng trước toà giải tội, thì người đó 
Yêu Chúa ?
hay vì Sợ Côn Trượng của Chúa khi không tuân thủ Lề Luật? 
[4] Ga 8, 11 
Người đàn bà đáp:"Thưa ông, không có ai cả"
Đức Giê Su nói: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu!  Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!" 
Lời Giới Thiệu

“Hãy đổ đầy tới miệng”để nhận ra : “Giờ” của Thiên Chúa đã điểm !

Giuse Trương Đình Hiền

1. Khi “nước lã được đổ đầy”.
            Để diễn tả cái lạt lẽo, vô vị, không quan hệ thân thiết, không hương sắc, thâm tình…người ta hay dùng khái niệm “nước lã”. Coi nhau như “người dưng nước lã”. Một giọt máu đào hơn ao nước lã…
            Trong ngữ cảnh Tin Mừng Thánh Gioan qua bài tường thuật “Phép lạ Ca Na” hôm nay, khi được đặt trong bối cảnh của lịch sử cứu rỗi, hình tượng “nước lã” phần nào cũng được hiểu theo nội dung ấy.
            Quả thật, sau biến cố phản bội đầu tiên của Nguyên tổ, nhân loại đã trở nên “người dưng nước lã” đối với Thiên Chúa và đối với nhau. Nào đâu còn những buổi chiều nắng nhạt, Thiên Chúa đồng hành bách bộ hàn huyên thâm tình với nhân loại trong cái vườn diệu quang bốn mùa hoa nắng xuân vui ! Và Ca-in, A-ben, cho dù ruột thịt anh em đã trở nên huynh đệ tương tàn đến độ “anh giết em” cách bạo tàn ác độc ! Con người trở nên xa lạ đến “chiếc tháp Ba-ben” không còn vưon lên được tới trời và nhân loại đã trở thành câm điếc với nhau trong muôn thứ ngôn ngữ người dưng xa lạ…
            Trong cái “biển đời nước lã” nhạt nhẽo vô tình ấy, Thiên Chúa đã đến. Và hôm nay, mọi sự đang hiện thực qua những chum rượu ngon tuyệt vời nơi đám cưới Cana…
            Nếu nhà tiệc hôm đó ở Cana, quả thật rượu đã hết trơn mà chỉ còn những chum nước lã “dùng vào việc thanh tẩy”, thì không còn nổi bẽ bàng nhục nhã nào hơn. Qua hình ảnh sống động đó, Thánh Gioan như muốn ngụ ý rằng : gia đình nhân loại muôn nơi muôn thuở chỉ là một “tiệc cưới dỡ dang đang hết rượu”, kiếp phận của loài người, cho dù được “thêu phượng vẽ rồng” cách mấy, thì vẫn phải đối diện với nổi bấp bênh của “sinh lảo bệnh tử”, của bất hạnh, lạc loài, tăm tối. Quan hệ người với người và người với Thiên Chúa sẽ như “người dưng nước lã”.
            Mượn màu một chút làm duyên,
            Mấy đời gỗ mục đúc nên thuyền vàng.
Và vì thế, chỉ khi nào con người vâng lời Thiên Chúa, tiếp nhận một “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” và thực thi lời dạy của Người “đổ nước đầy chum” thì hy vọng phép lạ sẽ xảy ra. “nước lã nhạt nhẽo, vô vị sẽ hóa thành rượu ngon hảo hạng”, gia đình nhân loại sẽ tràn trề hạnh phúc và niềm vui, kiếp phận con người sẽ được dẫn vào nẻo đường vinh quang rạng rỡ.
            Và vì thế, “dấu lạ Cana” không đơn thuần chỉ là một phép lạ để giải quyết tức thời nhu cầu của “nhà đám”, mà cốt lõi là lời tuyên bố của Thiên Chúa tình yêu : Nước Trời đã tới. thiên Chúa đã ra tay can thiệp để trần gian tìm lại được niềm vui ơn cứu độ, để loài người có được mùa xuân ơn thánh.
            Trong cái nhìn tu đức, Francis Fernandez lại có những nhân định thật thâm thúy và đáng cho mỗi người chúng ta áp dụng vào đời thường cuộc sống :
            “Cũng giống như nước, cuộc đời chúng ta nhạt nhẽo vô vị và chẳng có mục đích rõ rệt nào cho tới khi Đức Giêsu đến với chúng ta. Người làm cho công việc, đau khổ và niềm vui của chúng ta được biến đổi ; Ở bên Đức Kitô, ngay cả cái chết cũng trở nên khác đi. Chúa chỉ muốn chúng ta thi hành bổn phận của mình tới đỉnh điểm, tới mút cùng “Họ đổ đầy tới miệng” ; Người muốn chúng ta hoàn thành chúng thật tốt để người có thể thi thố phép lạ. Nếu mọi người đang làm việc tại trường học, trong bệnh viện, ở nhà, nơi phân xưởng…đều sẵn sàng làm việc cách hoàn hảo và với tinh thần Kitô giáo, thì mỗi buổi sáng thức dậy chúng ta sẽ thấy thế giới hoàn toàn đổi khác. Chúa sẽ biến nỗ lực và công việc của chúng ta, vốn khô khan và cằn cỗi về mặt siêu nhiên, trở thành thứ rượu nho thơm ngon tinh túy nhất. Lúc đó thế giới nầy sẽ là một bàn tiệc cưới thịnh soạn, một nơi ở xứng đáng hơn cho nhân loại, trong đó sự hiện diện của Đức Giêsu và Mẹ Maria sẽ mang lại một niềm vui khôn tả” (Francis Fernandes, Đối thoại vớiThiên Chúa, Mùa Thường niên, trang 105). 
2. “Giờ của Thiên Chúa đã điểm”.
Cho dù Chúa Giêsu có thưa với Mẹ rằng “Giờ của con chưa đến”, thì sau đó Ngài vẫn thể hiện quyền năng : “Các anh đổ đầy nước vào chum đi”. Quả thật, cái “Giờ” của Đức Kitô, cái “Giờ” mà ở đó “quyền lực của thế gian bị ném ra ngoài”, cái giờ mà ở đó “Con Người được tôn vinh”…quả thật đang khởi sự từ hôm nay và sẽ trọn vẹn khi Ngài thưa với Chúa Cha vào chiều thứ Sáu trên Đồi Sọ : “Con xin phó linh hồn Con trong tay Cha…và mọi sự đã hoàn tất”. Cho dẫu hôm nay, “Máu và Nuớc” chưa chảy tràn trên nhân loại, thì sự hiện diện của Ngài cũng đã làm cho cả ngàn lít nước lã nhạt nhẽo vô vị kia trở nên những ly rượu nồng ấm áp. Và như thế, nhân loại có thể ngẫng cao đầu để hát lên vui mừng, như I-sa-ia đã hát lên trong những ngàn năm trước :
            “Chẳng còn ai réo tên ngươi : “Đồ bị ruồng bỏ !” Xứ sở ngươi hết bị tiếng là “Phận bạc duyên đơn”. Nhưng ngươi được gọi : “Ái khanh lòng ta hỡi !” Xứ sở ngươi nức tiếng là “Duyên thắm chỉ hồng”. Vì ngươi sẽ được Chúa đem lòng sủng ái, và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở ngươi. Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về…”
            Và như thế, sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy nhìn về phía trước, phía của niềm hy vọng, phía của lòng trông cậy vào một Thiên Chúa yêu thương, phía của một Thiên Chúa giàu lòng nhân ái, phía của những chân trời hy vọng để chúng ta, như dân Do Thái thuở nào, luôn “ngộ” ra rằng : những vất vả đau thương, những tù đày nô lệ, những đắng cay tủi hờn, những nguy nan bệnh hoạn, những thất bại, dỡ dang…tất cả chỉ là tao luyện, tất cả chỉ là thử thách của tình yêu của bao dung và tha thứ, của ước giao và hẹn hò cho một tương lai rực sáng, cho một ngày mới sẽ lên ngôi, cho một mùa xuân đang trở lại. Bởi vì : Thiên Chúa là tình yêu, Thiên Chúa là Đấng trung tín và “Giờ” của Ngài đã điểm. Trong con mắt đức tin của những tâm hồn vững niềm trông cậy, bao giờ cũng nhận ra “Giờ của Thiên Chúa đã điểm”. 
3. “Người bảo gì các anh cứ việc làm theo”.
Không biết cơ duyên nào đã khiến đôi tân hôn ở Cana đã mời Chúa Giêsu, Mẹ Maria và các Tông đồ. Chắc là do quan hệ láng giềng ; vì Cana không xa Na-da-rét bao nhiêu.
Nhưng điều quan trọng Tin Mừng Gioan muốn nhắn gởi, đó chính là mầu nhiệm “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, là việc “Thiên Chúa cắm lều ở giữa nhân loại”. Vâng, Thiên Chúa đã đến nhà của mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận, còn những ai đón nhận, Ngài sẽ ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa”. Dấu chỉ Tiệc Cưới Cana trong bài đọc Tin Mừng hôm nay là một minh họa rõ nét cho sự can thiệp nhiệm mầu của Thiên Chúa tình yêu trong đời thường nhân loại.
 Sự Nhập thể giáng sinh của Con Một Thiên Chúa giữa trần gian chính là một thứ “Rượu Mới” dồi dào phong phú, một thứ rượu mới tràn trề tuôn chảy không phải chỉ hạn hẹp trong 600 lít tại Cana cách đây gần 2000 năm trước, mà tuôn chảy dạt dào, rộng khắp trên mọi gia đình, mọi quốc gia, mọi dân tộc. Đức Kitô là chính thứ “Rượu Mới” đó. Bởi vì Ngài là chính Tin Mừng, một Tin Mừng bằng xương bằng thịt, một Tin Mừng bằng chính 33 năm cuộc đời tại thế và mãi mãi hiện diện quyền năng và đầy ắp tình yêu cho tới thiên thu vạn đại qua quyền năng và sức mạnh, tình yêu và ân sủng của Thánh Thần. (Sáng…Chiều) hôm nay, nơi đây giữa chúng ta, thứ “Rượu Mới” ấy lại một lần nữa đang tuôn chảy, đang được ban tặng để chúng ta vui mừng và hân hoan đón nhận như một “quà tặng của tình yêu”, như một một “lời chúc tân hôn” thân thương và nồng ấm, như một nghĩa cử của tình bạn tín trung và quảng đại. Vâng, Đức Kitô đang có mặt ở đây, lúc nầy giữa anh và tôi, giữa chị và em, giữa những người, m&a