Thỉnh nguyện thư kính trình Hội đồng Giám mục Việt Nam nhân Hội nghị thường niên năm 2006


             Kính gởi Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.                                                                                   
            Kính thưa Quý Đức Hồng Y, Tổng Giám mục và Giám mục,
            Vâng theo lời kêu gọi dân Chúa góp ý kiến cho Hội đồng Giám mục nhân mỗi Hội nghị thường niên, về mọi vấn đề bức thiết của Giáo hội Việt Nam, nhất là cho Thư Chung năm nay với chủ đề là “Sống đức tin giữa lòng xã hội Việt Nam hiện thời”, chúng con - một số linh mục trong và ngoài Nước thao thức với vận mệnh của Mẹ Quê hương và Mẹ Giáo hội - xin có vài ý kiến thô thiển trình lên Hội đồng Giám mục với tâm tình con thảo như sau :
            1- Sống đức tin giữa lòng xã hội, theo chúng con thiết nghĩ, là trở thành muối, men và ánh sáng, như hình ảnh chính Chúa Giêsu đã dùng.
            Kitô hữu Việt Nam phải trở thành muối men để giữ cho mọi thành phần xã hội khỏi hư thối, giúp cho cuộc sống giữa xã hội được mặn nồng và làm cho mọi sinh hoạt trong xã hội vươn lên tới những giá trị tinh thần siêu việt. Kitô hữu Việt Nam phải là ánh sáng soi chiếu một thế gian chìm ngập trong bóng tối của những học thuyết xa lạ và thậm chí đối nghịch với Tin Mừng để làm cho nó nhận ra những sự thật chính yếu và vĩnh cửu.
            Hơn ai hết Quý Đức Cha đều đã thấy suốt gần 90 năm qua, chủ nghĩa và chế độ Cộng sản đã hành hạ vô cùng tàn khốc và giết hại hàng trăm triệu nạn nhân khiến Đức Giáo hoàng Pio XI đã mạnh mẽ lên án và mới đây Nghị viện Hội đồng Châu Âu gồm 46 Nước bằng Nghị quyết 1481 ngày 25-01-2006 đã cực lực lên án nó đã phạm tội ác chống nhân loại và khẳng định Nhân loại phải vĩnh viễn chôn táng nó vào quá khứ. Bất hạnh thay, từ hơn 60 năm nay tại miền Bắc và hơn 30 năm nay tại trên toàn Đất nước Việt Nam, rõ ràng chủ nghĩa duy vật vô thần Mác-xít và chế độ độc tài toàn trị Cộng sản đã làm cho xã hội hư thối nặng nề và bầu trời Việt Nam u tối dày đặc, bằng chứng là sự tước mất mọi nhân quyền cơ bản của người dân như tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do bầu cử, tự do lập hội… Hậu quả là xuống cấp giáo dục, băng hoại luân lý, khủng hoảng nhân cách, lệch lạc lương tâm, thiếu vắng tình người, tràn ngập tệ nạn, tụt hậu kinh tế và đại đa số nhân dân lâm cảnh khốn cùng. Điều này không ai có thể chối cãi.
            · Vậy Kitô hữu phải làm men muối và ánh sáng thế nào khi con đường vào thế gian, xã hội bị Pháp lệnh tôn giáo gây cản trở mọi bề : Giáo hội không được toàn quyền đào tạo và bổ nhiệm nhân sự của mình (quyết định cuối cùng vẫn là của nhà nước thế tục và nghịch đạo), không được quyền giáo dục giới trẻ đủ mọi tuổi (mới ngang trường mẫu giáo), không được quyền truyền bá giáo lý Tin Mừng và học thuyết xã hội của Giáo hội (mới chỉ có một bản tin Hiệp Thông duy nhất, phổ biến hạn chế ; còn sách đạo in ra thì đếm được trên đầu ngón tay và sau khi nhà nước vô thần đã kiểm tra nội dung chặt chẽ).
            Chúng con nghĩ Kitô hữu làm men muối và ánh sáng trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam XHCN trước hết cốt tại việc Giáo hội Công giáo VN (GHCGVN) phải có thái độ đúng đắn với chủ nghĩa vô thần nghịch đạo và chế độ độc tài toàn trị Cộng Sản xét từ góc độ đức tin và luân lý, một chủ nghĩa và chế độ mà chính Đức Cố Giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã xác định với Đức Cố Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền rằng nó chỉ toàn là dối trá và không thể thay đổi được. Hơn 70 năm qua, một số Tín hữu đã mơ hồ và ảo tưởng về vấn đề nầy, dẫn đến nhiều lựa chọn lầm lạc, tác hại không những cho bản thân mà còn cho cả Dân tộc. Lẽ ra GHCGVN phải là đuốc soi đường cho toàn Dân dõi bước, nhưng đáng tiếc là vì nhiều lý do rất phức tạp, Giáo hội đã chưa làm được việc này. Điều đó chẳng những đã khiến Giáo hội bị phân hóa lắm khi rất trầm trọng, mà còn làm cho toàn Dân lầm lạc theo. Lẽ ra GHCGVN phải thống nhất về nhận thức và thái độ vững chắc, đầy đủ đối với chủ nghĩa và chế độ CSVN đã, rồi mới nghĩ đến việc phát triển chính mình. Thực tế, một số thành viên của Giáo hội đã làm ngược lại, là đang khi chưa hình thành nhận thức và thái độ thống nhất này, thì lại quá hăng say muốn truyền giáo và phát triển theo bề nổi thường là rất hời hợt. Hậu quả là sự lựa chọn rất tùy tiện của từng thành viên của Giáo hội đã làm cho việc thỏa hiệp với Cộng sản ngày càng trở nên phổ biến. Thay vì cần làm ĐÚNG VIỆC, nhiều Kitô hữu chỉ thích làm ĐƯỢC VIỆC dù phải trả những giá rất đắt mà chắc chắn đã và đang để lại di họa lâu dài và trầm trọng cho Giáo hội.
            Chúng con thấy Tuyên ngôn Phụ đính do Liên Hiệp Quốc thông qua dịp kỷ niệm 50 ban hành Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền ngày 9-12-1998, có nói đến 10 quyền của người dân mà quyền thứ 5 là quyền tự do lập hội. Tuyên ngôn phụ đính viết: “Ai cũng có quyền kết hợp trong các hội đoàn dân sự hay chính trị. a- Các hội dân sự sinh hoạt trong phạm vi tôn giáo (Giáo hội), kinh tế xã hội (công đoàn, nghiệp đoàn), văn hóa giáo dục, từ thiện nhân đạo, ái hữu tương tế v.v… Các hội dân sự được quyền sinh hoạt tự trị trong xã hội đa nguyên và không chịu sự giám sát của nhà nước”. Vậy thì Pháp lệnh tôn giáo có vai trò gì mà lại buộc Giáo hội phải tuân phục ?
            Chúng con thấy trong lòng Giáo hội vẫn xuất hiện một thế lực cản trở sự tự do độc lập của Giáo hội, cụ thể của Quý Đức Cha, một thế lực tiếp tay cho nhà nước độc tài, đó là các linh mục tu sĩ tham gia vào công quyền như Quốc hội, Hội đồng Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, Uỷ ban Đoàn kết. Điều này vừa trái Giáo luật và các quy định của Toà Thánh, vừa gây tác hại khôn lường cho việc Giáo hội trở thành muối men và ánh sáng.
            Chúng con thấy Quý Đức Cha và rất nhiều linh mục, tu sĩ lặn lội tìm kiếm học bổng về giúp cho con cái mình được đi học, nhưng rồi chính nhà nước cộng sản duy vật lại giáo dục chúng thành người của họ (dựa trên điều 3 Luật Giáo dục năm 2005 : “Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa… lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”). Sứ mệnh làm muối men và ánh sáng phải thúc đẩy Giáo hội đòi lại quyền giáo dục giới trẻ qua học đường và giáo dục quần chúng qua các phương tiện truyền thông.
            · Kitô hữu chỉ có thể làm muối men và ánh sáng khi giúp Nhân dân, Đồng bào đạt được điều họ đang cần là các Nhân quyền tự do cơ bản nói trên. Tất nhiên chúng con không chủ trương Giáo hội phải làm chính trị đảng phái chuyên biệt, mà chỉ mong Giáo hội phải có thái độ chính trị cần thiết đúng mức. Vì thế,
            Chúng con thiết nghĩ chính khi Giáo hội đòi cho mình được độc lập trong việc thiết lập sắp xếp cơ cấu, thành lập tổ chức hội đoàn, tuyển mộ huấn luyện nhân sự, tấn phong thuyên chuyển chức sắc, bổ nhiệm đề cử lãnh đạo của mình, thì chính việc này sẽ tạo đà và thúc đẩy phía dân sự đòi quyền tự do dấy lên phong trào, tự do thiết lập các đoàn thể đảng phái, tự do khai sáng những tổ chức phi chính phủ, đòi quyền sinh hoạt độc lập của mọi tổ chức nhân dân, quyền tự do bầu cử và ứng cử vào mọi cấp điều hành xã hội.
            Chúng con thiết nghĩ chính khi Giáo hội đòi cho mình quyền tự do truyền bá tôn giáo đến Nhân dân, tham gia vào mọi khía cạnh của đời sống xã hội, bằng cách thành lập và điều hành các trường học đủ mọi cấp, từ nhà trẻ đến đại học, sở hữu và điều hành báo chí, phát thanh, truyền hình, trang mạng, nhà xuất bản riêng, thành lập và điều hành các cơ sở hoạt động từ thiện, chẳng hạn bệnh viện và trại mồ côi, thì chính việc này sẽ tạo đà và thúc đẩy phía dân sự đòi quyền tự do thông tin, ngôn luận, quyền tự do hoạt động cứu tế xã hội, quyền tự do giáo dục cho mọi cá nhân và mọi tổ chức nhân dân.
            2- Sống đức tin giữa lòng xã hội, theo chúng con thiết nghĩ, là thực thi chương trình chính Chúa Giêsu đã đưa ra khi Người bắt đầu ra đi rao giảng Tin Mừng.
            “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc 4,18). Câu ấy cho thấy Tin Mừng có hai khía cạnh : truyền thông chân lý và bênh vực lẽ phải, do đó mà việc bác ái của Giáo hội cũng luôn có hai khía cạnh : cứu trợ và giải thoát.
            Xã hội Việt Nam hôm nay, dưới sự cai trị của một nhà cầm quyền mà lúc này vẫn kiên định học thuyết tư tưởng Mác Lênin và chế độ xã hội chủ nghĩa, là một xã hội tụt hậu, đói nghèo, đầy dẫy áp bức, bất công, bóc lột. Bằng chứng là các cuộc khiếu kiện của hàng triệu nông dân ra tới tận trung ương, là các cuộc đình công của hàng trăm ngàn công nhân tại các xí nghiệp khắp nước…
            · Kitô hữu chỉ có thể thực thi chương trình của Chúa Giêsu khi một đàng vừa phải rất hăng hái và sẵn sàng trong việc an ủi cứu trợ các nạn nhân đau khổ do thiên tai như bão lụt… một đàng vừa phải lên tiếng bênh vực (bằng văn bản chính thức của thẩm quyền) và ra tay trợ giúp (bằng hành động công khai mạnh dạn) đối với các nạn nhân vừa đau khổ vừa tủi nhục do nhân tai.
            Chúng con thấy hàng triệu nông dân bị cướp ruộng, hàng vạn dân thiểu số bị cướp đất, hàng trăm ngàn công nhân bị bóc lột sức lao động, hàng trăm ngàn thanh niên nam nữ bị lừa ra ngoại quốc làm nô lệ lao công hay nô lệ tình dục; đó là chưa kể khoảng gần 2 triệu thai nhi bị giết từ trong dạ mẹ mỗi năm và hằng trăm ngư dân bị giết trên biển cả…. đã và đang chờ Giáo hội lên tiếng bênh vực họ, đến bên cạnh họ, cho họ chứng nghiệm lời Chúa: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa (Giáo hội) là của anh em” (Lc 6,20)  và “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,10). Đang khi Giáo hội có một mạng lưới quan sát viên bao trùm gần khắp cả Nước là các linh mục quản xứ và các tu sĩ thừa sai, có một hệ thống phát ngôn nhân cho sự thật và lẽ phải đầy khả năng, uy tín, phương tiện, và không phải không có những tiếng nói đầy thế lực trước nhà cầm quyền và trước quốc tế cũng như đầy uy lực trước nhân dân.
            Chúng con thấy Hội đồng Giám mục đã có đầy đủ các chức vụ và các uỷ ban, nhưng vẫn còn thiếu chức vụ Phát ngôn viên và Ủy ban Công lý Hòa bình mà mọi Hội đồng Giám mục trên thế giới đều có. Uỷ ban Công lý Hòa bình để thường xuyên nghiên cứu mọi vấn đề liên quan đến công lý trong xã hội và Phát ngôn viên để cấp thời lên tiếng về lập trường của Giáo hội trước những vụ việc khiến dư luận xôn xao và dân tình bức xúc mà lúc này nhan nhản tại Việt Nam.
            3- Cuối cùng, sống đức tin giữa lòng xã hội, theo chúng con thiết nghĩ, cần phải theo tinh thần và con đường thập giá là con đường mà Thầy Chí Thánh của chúng ta đã bước đi.
            Chúng ta vẫn nhìn thấy sờ sờ trước mắt tấm gương của bao ngôn sứ Cựu Ước mà chẳng vị nào là không bị bách hại, tấm gương của Thầy Chí Thánh mới sống được 1/3 đời người thì đã phải chịu phanh thây trên thập giá vì quyết liệt sống cho tình yêu, vì những ngôn hành công bố chân lý và bênh vực lẽ phải, tấm gương của mọi Tông đồ và mọi người con ưu tú của Giáo hội hoàn vũ - trong đó có 118 vị thánh Tử đạo Việt Nam - đã trải qua cuộc đời trong gian khổ và kết thúc cuộc đời trong vũng máu để hoàn thành nhiệm vụ chứng nhân. Chúng ta vẫn nghe vang rền bên tai lời giáo phụ Tertulianô mà nay đã trở thành một chân lý sáng ngời, được lịch sử Giáo hội chứng nghiệm : “Máu tử đạo là hạt giống sinh người có đạo”.
            Trong cái chế độ chà đạp nhân quyền và bách hại tôn giáo này, Kitô hữu không thể sống đức tin - một đức tin mang bản chất muối xót và mặc tính cách quấy rầy - cách an nhàn thoải mái, mà phải chấp nhận gian khổ và nếu cần là hy sinh mạng sống vì tính chất quyết liệt và rất đòi hỏi của Tin Mừng.
            Kính thưa Hội Đồng Giám Mục Việt Nam,
            Đó là vài tâm tình và tư tưởng mà anh em linh mục chúng con mong muốn đệ đạt lên Quý Đức Cha để hi vọng Hội đồng Giám mục Việt Nam năm nay có một Thư Chung mà mọi tín hữu, thậm chí lương dân, đang thật sự chờ đợi, một Thư Chung đưa ra được ánh sáng cho cuộc sống đức tin giữa hoàn cảnh xã hội cụ thể của Đất nước hôm nay, đưa ra được giải pháp cho những vấn đề bức xúc hiện thời của Quê hương Dân tộc. Chúng con nghĩ rằng toàn Dân Việt Nam trong cũng như ngoài Nước không hề mong đợi nơi HĐGMVN một Thư Chung mang tính chung chung, chỉ lặp lại các nguyên tắc quá phổ cập tổng quát, áp dụng vào bất cứ hoàn cảnh xã hội nào cũng được, hoặc tác hại hơn nữa là vô tình hay hữu ý chỉ làm nhà cầm quyền Cộng sản hài lòng và mọi người thiện chí thất vọng. Bởi lẽ “vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng các môn đệ của Chúa” (Hc Mục vụ số 1).
            Nguyện xin Chúa Thánh Thần ở với Quý Đức Cha cách sung mãn suốt Hội nghị thường niên, để toàn thể Dân Chúa có đầy đủ ánh sáng giúp sống đức tin giữa lòng xã hội Việt Nam hiện thời.
Quốc nội - Hải ngoại dịp Lễ 2 Thánh Athanasiô và Tông đồ Philipphê 02 & 03-5-2006
Chúng con đồng ký tên :
1- Lm Têphanô Chân Tín, Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn
2- Lm Gioakim Trần Quý Thiện, Giáo phận Orange, California, Hoa Kỳ
3- Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tổng Giáo phận Huế
4- Lm Phêrô Nguyễn Thanh,  Hoa Kỳ
5- Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Tổng Giáo phận Huế
6- Lm Phaolô Trần Xuân Tâm, Tổng Giáo phận Washington, Hoa Kỳ
7- Lm Giuse Trần Văn Quý, Giáo phận Bùi Chu
8- Lm Giuse Đinh Xuân Long, Giáo phận Charlotte, North Carolina, Hoa Kỳ
9- Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh
10- Lm Gioan Đinh Xuân Minh, Giáo phận Mainz, Đức Quốc

(Sau đây là Bản Copy Thư con viết thay Cha Chân Tín, với tư cách Niên trưởng, kính gửi các Đức Cha. Hi vọng Cha Chân Tín cũng vừa lòng).

            Việt Nam, ngày 05 tháng 5 năm 2006

            Trọng kính Quý Đức Cha,

            Chúng con là 10 Anh Em Linh mục Việt Nam trong và ngoài Nước, nghe biết HĐGMVN năm nay sẽ họp và biên soạn một Thư Chung với chủ đề "Sống Đức Tin giữa lòng xã hội Việt Nam hiện thời". Vâng theo lời mời gọi của Quý Đức Cha tham gia góp ý với Giáo hội, chúng con mạo muội kính trình Thỉnh Nguyện Thư kèm đây lên HĐGMVN.

            Vì không thể gửi qua đường bưu điện, lẽ ra chúng con phải cho người mang đến tận mỗi Tòa Giám mục đệ trình tận tay mỗi Quý Đức Cha, nhưng chúng con không có điều kiện, người thì quá già yếu, người thì quá xa xôi cách trở, người thì đang bị quản chế ngặt nghèo. Chúng con xin được kính gửi Quý Đức Cha qua đường điện thư. Kính mong Quý Đức Cha thông cảm và miễn thứ.

            Theo đúng tinh thần con thảo, chúng con chưa phổ biến Thỉnh Nguyện Thư nầy trước khi Quý Đức Cha họp và ra Thư Chung Rất Quan Trọng năm nay. Sau khi Quý Đức Cha đã công bố Thư Chung của HĐGMVN năm 2006 nầy, dù nội dung Thư Chung ấy phù hợp với Thỉnh Nguyện Thư của chúng con hay không, chúng con cũng sẽ xin được phổ biến để bày tỏ sinh hoạt hiệp thông lành mạnh trong Giáo hội và cũng để  nói lên nhiệm vụ của chúng con phải thi hành theo lương tâm đòi hỏi, cho mọi thành phần Dân Chúa được hiểu, hiệp thông và cùng sống theo.

            Kính xin Quý Đức Cha ban phúc lành cho một số nhỏ Linh mục tài hèn đức mỏng chúng con.

            Kính chào Quý Đức Cha,

            T.M. 10 Linh mục ký tên,

            Têphanô Chân Tín, Linh mục niên trưởng